/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong Kỷ nguyên mới: Tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XIII và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XIV

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong Kỷ nguyên mới: Tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XIII và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XIV

13/03/2026 06:30 |

(LSVN) - Công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đã đạt được những thành tựu mang tính đột phá lịch sử, khẳng định vị trí then chốt của Đảng trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Đặc biệt, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính và quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng từ năm 2026. Bài viết phân tích sâu sắc các ưu điểm, hạn chế, bài học kinh nghiệm và phương hướng nhiệm kỳ XIV, khẳng định rằng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện là nhân tố quyết định để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo dân tộc thực hiện thành công hai mục tiêu trăm năm, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).

1. Mở đầu: Vai trò then chốt của công tác xây dựng Đảng trong bối cảnh kỷ nguyên mới

Năm 2026 đánh dấu một mốc son lịch sử trọng đại trong hành trình phát triển của dân tộc Việt Nam: đất nước chính thức bước vào “Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng”, như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định và định hướng chiến lược. Khái niệm “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” không chỉ là một khẩu hiệu khát vọng mà đã trở thành hiện thực sống động, được củng cố qua những thành tựu đột phá của nhiệm kỳ Đại hội XIII, đồng thời mở ra tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 - thời điểm Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, với nền tảng chính trị vững chắc và sức mạnh tổng hợp vượt trội. Trong bối cảnh thế giới đương đại đầy biến động phức tạp, với cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gay gắt, xung đột địa chính trị leo thang, tác động lan tỏa của cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những hệ quả kéo dài từ đại dịch toàn cầu, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam càng trở nên quyết định hơn bao giờ hết. Đảng không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn là nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị, định hướng phát triển bền vững và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường quốc tế đầy thách thức.

Thực tiễn hơn 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đặc biệt là 05 năm triển khai Nghị quyết Đại hội XIII, đã chứng minh một cách thuyết phục rằng: “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”, là nền tảng cốt lõi để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Như đồng chí Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư, đã nhấn mạnh trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” [1]. Quan điểm này không chỉ kế thừa truyền thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn được vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn mới, khẳng định vị trí trung tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong toàn bộ hệ thống chính trị. Công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ XIII được triển khai với “quyết tâm chính trị cao nhất”, tiến hành thường xuyên, quyết liệt, toàn diện và đồng bộ cả về “xây” - củng cố nền tảng chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức - lẫn “chống” - đấu tranh không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực, suy thoái và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những bước đột phá mạnh mẽ đạt được, từ tinh gọn bộ máy hành chính lịch sử đến đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đã tạo nền tảng vững chắc, mở ra không gian phát triển mới, đồng thời củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, góp phần đưa tăng trưởng kinh tế đạt những con số ấn tượng và chuẩn bị điều kiện cho kỷ nguyên vươn mình từ năm 2026.

Trong bối cảnh đó, công tác xây dựng Đảng không chỉ là yêu cầu nội tại để Đảng giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo mà còn là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn lịch sử mới. Từ góc độ chính trị học, xây dựng Đảng cầm quyền trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc tập trung dân chủ, kiểm soát quyền lực hiệu quả và phát huy dân chủ rộng rãi, nhằm ngăn chặn nguy cơ tha hóa quyền lực và bảo đảm Đảng luôn là tổ chức của giai cấp tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và toàn dân tộc. Những thành tựu của nhiệm kỳ XIII đã khẳng định rõ nét điều này, đồng thời đặt nền móng cho nhiệm kỳ Đại hội XIV - thời điểm Đảng ta tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ hơn để lãnh đạo đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.

Bài viết này, dựa trên tinh thần tổng kết sâu sắc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các văn kiện chính thức, phân tích một cách có hệ thống các thành tựu nổi bật, những hạn chế còn tồn tại cùng nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, đồng thời làm rõ phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp đột phá trong công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV. Qua đó, nhằm khẳng định “sứ mệnh lịch sử” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc dẫn dắt dân tộc vượt qua mọi thử thách, thực hiện thành công hai mục tiêu trăm năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển cao, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trên con đường đi lên CNXH. Như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong các chỉ đạo gần đây: công tác xây dựng Đảng cần tập trung vào những nhóm vấn đề trọng tâm để bảo đảm Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên vươn mình [2].

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

2. Thành tựu nổi bật của công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII: Những bước đột phá mang tính cách mạng

Nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2021-2026) đã chứng kiến công tác xây dựng Đảng được đặt ở vị trí trung tâm, then chốt trong toàn bộ hệ thống chính trị, với phương châm kết hợp hài hòa, biện chứng giữa “xây” - nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài nhằm củng cố nền tảng chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức - và “chống” - nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên nhằm kiên quyết đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kết quả đạt được không chỉ hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIII đề ra mà còn mang tính lịch sử, đột phá mạnh mẽ, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước, tạo đà vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình giàu mạnh, thịnh vượng từ năm 2026. Những thành tựu này, từ góc độ chính trị học, khẳng định rõ nét năng lực lãnh đạo, cầm quyền của một chính đảng Mác-xít trong điều kiện cầm quyền duy nhất, nơi Đảng phải không ngừng tự đổi mới để duy trì tính chính danh, kiểm soát quyền lực hiệu quả và bảo đảm sự gắn bó máu thịt với Nhân dân.

Trước hết, công tác xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng đã đạt được những chuyển biến sâu sắc, đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu và vị thế của Đảng. Đảng ta đã kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời đấu tranh phản bác quyết liệt, hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, đặc biệt trên không gian mạng. Công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị được đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp, từ việc quán triệt nghị quyết đến tổng kết thực tiễn gắn với phát triển lý luận, góp phần tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Như trong tổng kết chính thức, “Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng và hệ thống chính trị, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong Nhân dân” [3]. Điều này không chỉ khẳng định vai trò tiên phong của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng mà còn thể hiện sự thích ứng linh hoạt với bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tiếp theo, xây dựng Đảng về đạo đức và công tác dân vận đã được đặc biệt đề cao, trở thành phong trào sâu rộng, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn. Việc đẩy mạnh học tập và làm theo Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã chuyển biến từ nhận thức sang hành động cụ thể, với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được đặt lên hàng đầu, kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”. Quan điểm “dân là gốc” được cụ thể hóa qua việc hoàn thiện các cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu các cấp với Nhân dân, phát huy phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và phong trào “Dân vận khéo” lan tỏa rộng rãi. Những chuyển biến này đã thắt chặt hơn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời góp phần ngăn chặn suy thoái đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng - một yêu cầu cốt lõi để Đảng cầm quyền duy trì tính chính danh và sức mạnh nội sinh trong lý thuyết chính trị học hiện đại.

Nổi bật nhất trong nhiệm kỳ phải kể đến cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính - một quyết sách mang tầm nhìn chiến lược dài hạn, được triển khai quyết liệt từ tháng 10/2024, kế thừa và phát triển Nghị quyết số 18-NQ/TW khóa XII. Với quyết tâm chính trị cao nhất, Đảng đã lãnh đạo hoàn thành vượt mức trước 5 năm các mục tiêu đề ra đến năm 2030, giảm mạnh đầu mối (34,9% trực thuộc Trung ương), sáp nhập 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh, 66,9% cấp xã, và lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại không tổ chức cấp huyện, chuyển sang hệ thống hành chính 3 cấp thông suốt, hiệu quả. Kết quả này không chỉ tiết kiệm chi ngân sách thường xuyên lớn lao, tăng chi đầu tư phát triển và an sinh xã hội mà còn khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8% - mức cao nhất thập kỷ qua, đặt nền móng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng trên 10% từ năm 2026. Từ góc độ chính trị học, đây thực sự là “cuộc cách mạng mang tính lịch sử” [4], khẳng định sự đột phá trong cải cách thể chế, giảm tầng nấc trung gian, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời mở ra không gian phát triển dài hạn cho quốc gia.

Cuối cùng, công tác cán bộ, kiểm tra giám sát cùng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt bước đột phá chưa từng có, với tinh thần “không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Hệ thống quy định về cán bộ được hoàn thiện đồng bộ, từ quy hoạch, đánh giá đến luân chuyển và bảo vệ chính trị nội bộ; lần đầu tiên bố trí 100% bí thư cấp tỉnh, cấp xã không phải người địa phương, nâng cao chất lượng đội ngũ ngang tầm nhiệm vụ. Công tác kiểm tra, giám sát đi vào chiều sâu, thực chất, kết hợp phòng ngừa với xử lý nghiêm minh, trong khi phòng, chống tham nhũng đạt kết quả toàn diện, thu hồi tài sản khổng lồ, xử lý hàng loạt vụ án lớn, phức tạp. Những vụ việc điển hình như Việt Á, Vạn Thịnh Phát, Phúc Sơn... đã được xử lý dứt điểm, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của Nhân dân. Như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vừa là đường lối, chủ trương nhất quán của Đảng, vừa là yêu cầu của đổi mới, phát triển” [5].

Những thành tựu nổi bật này, từ góc độ lý luận chính trị, khẳng định một cách thuyết phục rằng: sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, là nền tảng để Đảng tiếp tục sứ mệnh lịch sử dẫn dắt dân tộc vững bước trong kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

3. Hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm

Bên cạnh những thành tựu nổi bật, mang tính đột phá lịch sử trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, công tác xây dựng Đảng vẫn còn tồn tại một số “hạn chế, khuyết điểm” đáng kể, đòi hỏi phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc, thẳng thắn và khách quan từ góc độ lý luận chính trị học cũng như thực tiễn lãnh đạo cầm quyền của một chính đảng Mác-xít trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo. Những hạn chế này không chỉ phản ánh những bất cập nội tại trong quá trình tự đổi mới của Đảng mà còn chịu tác động từ bối cảnh quốc tế và trong nước phức tạp, đòi hỏi phải có các giải pháp khắc phục quyết liệt hơn trong nhiệm kỳ XIV để bảo đảm Đảng ta tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo trong kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

Cụ thể, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức vẫn tồn tại những mặt hạn chế đáng lo ngại. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu nhận thức chưa thật sâu sắc, đầy đủ về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, dẫn đến vi phạm quy chế làm việc, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu vững vàng về bản lĩnh chính trị, có biểu hiện hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thậm chí suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kèm theo các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi chưa trở thành thường xuyên, thực chất; công tác dự báo tình hình, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận chiến lược có lúc, có nơi chưa kịp thời, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tình hình mới. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đôi khi còn bị động, hiệu quả chưa cao, đặc biệt trên không gian mạng - một mặt trận tư tưởng nóng bỏng trong thời đại số.

Trong tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, dù đã đạt được những bước tiến lớn nhưng vẫn lộ rõ một số bất cập. Việc triển khai đồng thời sắp xếp tinh gọn bộ máy và đơn vị hành chính trên quy mô lớn đã gặp khó khăn ban đầu liên quan đến năng lực cán bộ cơ sở, hạ tầng và chuyển đổi số, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cho Nhân dân và doanh nghiệp ở một số địa bàn. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn yếu; nội bộ mất đoàn kết ở một số nơi; sinh hoạt đảng còn hình thức; công tác phát triển và quản lý đảng viên ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và doanh nghiệp ngoài nhà nước vẫn gặp nhiều trở ngại. Công tác đánh giá, kiểm soát quyền lực trong cán bộ, đặc biệt cán bộ cấp chiến lược, có mặt chưa chặt chẽ; một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm nêu gương, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước.

Công tác kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tuy có bước tiến mạnh nhưng vẫn chưa triệt để. Một số cấp ủy thiếu chủ động, quyết liệt trong giám sát thường xuyên; việc phát hiện và xử lý vi phạm từ sớm, từ xa chưa hiệu quả; cơ chế phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực vẫn còn sơ hở, dẫn đến tình trạng vi phạm phức tạp, kéo dài. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có mặt còn hạn chế, như một số chủ trương lớn chưa được thể chế hóa kịp thời, quy chế làm việc chưa khoa học, cải cách hành chính trong Đảng và chuyển đổi số ở một số địa phương còn chậm trễ.

Những hạn chế, khuyết điểm trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan. Khách quan, bối cảnh quốc tế biến động nhanh chóng, khó lường, với sự chống phá quyết liệt, tinh vi của các thế lực thù địch; mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng; một số quy định pháp luật còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ. Chủ quan là chính, như nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa đầy đủ, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; lãnh đạo, chỉ đạo thiếu chủ động, sáng tạo, sâu sát; năng lực, kinh nghiệm và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; chính sách cán bộ tồn tại bất cập, chưa khuyến khích hết tâm huyết và thu hút nhân tài; một số cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, né tránh va chạm, đùn đẩy trách nhiệm. Như trong tổng kết chính thức đã chỉ rõ: “Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là... nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu chưa đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng” [6].

Từ thực tiễn phong phú và những hạn chế đã chỉ ra, nhiệm kỳ Đại hội XIII đã đúc kết năm bài học kinh nghiệm lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, làm cơ sở định hướng cho công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ XIV và những năm tiếp theo, đặc biệt trong bối cảnh kỷ nguyên mới đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự cường, tự đổi mới để giữ vững vai trò lãnh đạo cầm quyền.

Thứ nhất, phải kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đường lối đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng; thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

Thứ hai, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị, với quyết tâm chính trị cao, lãnh đạo toàn diện, có trọng tâm trọng điểm, chủ động, sáng tạo, quyết liệt; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Thứ ba, coi trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, lấy xây là cơ bản, lâu dài, chống là cấp bách, thường xuyên; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không ngừng nghỉ.

Thứ tư, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; kiểm soát chặt chẽ quyền lực, bố trí đúng người đúng việc, bảo vệ và khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Thứ năm, làm tốt công tác tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền để tạo thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội; quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Như Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV nhấn mạnh, những bài học này là kim chỉ nam để Đảng ta tiếp tục đổi mới, hoàn thiện trong kỷ nguyên mới [7].

Những bài học kinh nghiệm này không chỉ là sự kế thừa mà còn là sự phát triển sáng tạo lý luận xây dựng Đảng cầm quyền trong điều kiện mới, góp phần bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là lực lượng lãnh đạo cách mạng tiên phong, dẫn dắt dân tộc vững bước trên con đường phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

4. Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ Đại hội XIV: Hướng tới kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh

Nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (2026 - 2031) diễn ra trong bối cảnh đất nước đã vững vàng bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng”, với những thành tựu đột phá từ nhiệm kỳ XIII làm nền tảng vững chắc, đồng thời đối mặt với những thời cơ, thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức lớn từ biến động thế giới phức tạp, cạnh tranh chiến lược gay gắt và yêu cầu nội tại của sự phát triển nhanh, bền vững. Với mục tiêu chiến lược đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, có nền tảng chính trị ổn định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập sâu rộng, công tác xây dựng Đảng được xác định là nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt, đòi hỏi phải được tiến hành với quyết tâm chính trị cao hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn để bảo đảm Đảng ta tiếp tục là lực lượng lãnh đạo duy nhất, đủ bản lĩnh, trí tuệ và sức chiến đấu dẫn dắt dân tộc thực hiện thành công hai mục tiêu trăm năm. Từ góc độ chính trị học, đây là giai đoạn Đảng cầm quyền phải không ngừng tự đổi mới, tự hoàn thiện để duy trì tính chính danh, kiểm soát quyền lực hiệu quả và củng cố mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, đồng thời thích ứng với bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Phương hướng tổng quát của công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ XIV là tiếp tục thực hiện tốt “bốn kiên định” (kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đường lối đổi mới; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng) bằng tinh thần sáng tạo, theo phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Đảng ta đặc biệt chú trọng tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và thành tựu đổi mới. Tập trung hoàn thiện và triển khai hiệu quả mô hình tổ chức bộ máy mới sau cuộc cách mạng tinh gọn lịch sử; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; tăng cường đoàn kết nội bộ và đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, thật sự tiêu biểu; đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong phát biểu tại Đại hội XIV: “Công tác xây dựng Đảng cần tập trung cao độ để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên vươn mình” [8].

Về nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ XIV được xác định với 10 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, triển khai đồng bộ, toàn diện, đi vào chiều sâu:

Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị: Kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền; thực hành dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương; đấu tranh hiệu quả với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, bè phái.

Xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng: Chủ động tuyên truyền, giáo dục lý luận; bảo vệ nền tảng tư tưởng; đổi mới giáo dục lý luận chính trị; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hiện đại hóa công tác tuyên truyền trong kỷ nguyên số.

Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức: Hoàn thiện lý luận và thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức cách mạng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; ngăn chặn suy thoái, xây dựng văn hóa liêm chính.

Tăng cường công tác dân vận, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân: Đổi mới lãnh đạo dân vận; phát huy dân chủ cơ sở; thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Các nhiệm vụ khác bao gồm củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, thu hút nhân tài, bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm; tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ; nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xây dựng cơ chế “không thể, không dám, không muốn, không cần”; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền với trọng tâm thể chế hóa quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác Đảng.

Về giải pháp đột phá, nhiệm kỳ XIV tập trung vào ba nhóm giải pháp chủ yếu, kế thừa và phát triển ba đột phá chiến lược từ Đại hội XIII:

Thứ nhất, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện của Đảng, tăng cường hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền và củng cố niềm tin của Nhân dân; hoàn thiện thể chế hoạch định đường lối; đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong Đảng, xây dựng hệ sinh thái số đồng bộ.

Thứ hai, triển khai hiệu quả mô hình tổ chức bộ máy mới, bảo đảm vận hành thông suốt; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, thu hút nhân tài, đặc biệt ở lĩnh vực chiến lược, khuyến khích sáng tạo vì lợi ích chung.

Thứ ba, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực chặt chẽ; đẩy mạnh kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không khoan nhượng. Như Nghị quyết Đại hội XIV khẳng định: “Ba nhóm giải pháp đột phá này là đòn bẩy để Đảng ta lãnh đạo đất nước phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới” [9].

Những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp này không chỉ kế thừa thành tựu nhiệm kỳ XIII mà còn thể hiện sự đổi mới sáng tạo, phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình, khẳng định sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc dẫn dắt dân tộc tiến lên CNXH với khát vọng phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

5. Kết luận

Qua phân tích tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và định hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XIV, có thể khẳng định rằng: công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 5 năm qua đã đạt được những thành tựu nổi bật, mang tính đột phá lịch sử, thực sự là một cuộc cách mạng sâu sắc về tổ chức bộ máy, cán bộ, kiểm tra giám sát và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần quan trọng khẳng định bản lĩnh chính trị, trí tuệ chiến lược và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Những bước tiến vượt bậc trong tinh gọn bộ máy hành chính, bố trí cán bộ không phải người địa phương, xử lý nghiêm minh các vụ án lớn và củng cố niềm tin của Nhân dân đã tạo nền tảng vững chắc, mở ra không gian phát triển mới, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng từ năm 2026.

Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế, khuyết điểm về tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhưng những bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra - từ kiên định lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, từ kiểm soát quyền lực đến dựa vào Nhân dân xây dựng Đảng - chính là kim chỉ nam khoa học, thực tiễn để Đảng ta tiếp tục tự đổi mới, tự hoàn thiện trong nhiệm kỳ XIV. Phương hướng nhiệm kỳ mới, với ba nhóm giải pháp đột phá về tự đổi mới, hoàn thiện bộ máy và siết chặt kỷ luật, kiểm soát quyền lực, cùng các nhiệm vụ trọng tâm về chính trị, tư tưởng, đạo đức, dân vận, cán bộ và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, sẽ bảo đảm Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, đủ năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Với quyết tâm chính trị cao nhất, tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử, lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển cao, phồn vinh, hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI, vững bước trên con đường đi lên CNXH. Như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Đảng ta phải luôn là đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới” [11].

Tài liệu tham khảo, trích dẫn:

[1] Nguyễn Phú Trọng (2021), “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 112.

[2] Tô Lâm (2025), “Công tác xây dựng Đảng cần tập trung vào 7 nhóm vấn đề trọng tâm”, phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng, đăng trên Tạp chí Cộng sản và các cơ quan thông tấn chính thức (dẫn theo nguồn: dhtn.ttxvn.org.vn, ngày 04/02/2025).

[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), “Phụ lục 5 về Tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV”, Nhân Dân điện tử, ngày 06/02/2026.

[4] Ban Tổ chức Trung ương (2026), “Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy: Quyết sách lịch sử, kiến tạo động lực phát triển”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và các nguồn chính thức, dẫn theo Báo Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26/12/2025.

[5] Tô Lâm (2025), “Phát biểu kết luận tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 11/12/2025.

[6] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), “Phụ lục 5 về Tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 06/02/2026.

[7] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), “Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 23/01/2026.

[8] Tô Lâm (2026), “Phát biểu khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 19/01/2026.

[9] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), “Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 145-152; dẫn theo Báo Nhân Dân điện tử, ngày 23/01/2026.

[10] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), “Phụ lục 5: Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 06/02/2026.

[11] Tô Lâm (2026), “Bài phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 25/01/2026.

LÊ HÙNG

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

Học viện Chính trị khu vực I.