Thứ sáu, 7/2/2020 | 22:00 GMT+7

Những điều người đi xuất khẩu lao động nước ngoài cần biết

LSVNO - Người lao động Việt Nam đang lao động tại nước ngoài không may bị chết do tai nạn lao động, ngoài việc được hưởng theo các chế độ theo Luật Bảo hiểm xã hội, thì còn được hưởng ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động...

1-5e3d7b1728761

 

Ảnh minh họa.

Hiện nay, người lao động Việt Nam đang có xu hướng sang nước ngoài làm việc bởi mức thu nhập cao. Để sang nước ngoài làm việc, người lao động được các công ty, văn phòng môi giới xuất khẩu lao động đưa đi theo các đơn hàng, mã hàng,...

Tuy nhiên, nhiều trường hợp người lao động Việt Nam không may gặp tai nạn lao động hoặc chết do tai nạn lao động trong thời gian lao động.

Vậy, quyền lợi của người lao động Việt Nam sẽ được hưởng như thế nào khi gặp tai nạn? Luật sư Việt Nam Online có cuộc trao đổi với Luật sư Hoàng Tùng – Trưởng Văn phòng luật sư Trung Hòa, Đoàn luật sư TP. Hà Nội xung quanh vấn đề này.

Phóng viên: Thưa Luật sư, khi người lao động ký hợp đồng lao động với công ty xuất khẩu lao động, công ty này đưa người lao động Việt Nam sang nước ngoài làm việc và thực hiện trả lương, nhưng không may người lao động bị tai nạn lao động hoặc chết do tai nạn lao động trong thời gian làm việc, thì công ty phải bồi thường và chịu trách nhiệm như thế nào?

Luật sư Hoàng Tùng: Trong trường hợp này thì đây là hợp đồng lao động trong nước nên trường hợp người lao động bị tai nạn lao động hoặc chết do tai nạn lao động trong thời gian làm việc sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật Lao động 2012. Trách nhiệm lúc này thuộc về công ty xuất khẩu lao động.

Theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Lao động thì công ty xuất khẩu lao động là người sử dụng lao động và có trách nhiệm:

“1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này”.

Bên cạnh đó, tại Điều 145 Bộ luật Lao động 2012 quy định về quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là:

“3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này”.

Do đó, công ty xuất khẩu lao động có trách nhiệm thanh toán các khoản tiền bồi thường, tiền lương, chi phí khám chữa bệnh, chi phí cứu chữa,… theo quy mức quy định tại Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2012.

Tại Bộ luật Lao động năm 2019 (sẽ có hiệu lực 01/01/2021) không còn quy định cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động. Trách nhiệm này được ghi nhận trong Luật Vệ sinh an toàn lao động năm 2015 tại Điều 38. Về cơ bản, tại Điều 38 làm rõ hơn, cụ thể hơn trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nhưng mức  bồi thường không thay đổi so với Bộ luật Lao động năm 2012.

2-5e3d7b18a3677

 

Luật sư Hoàng Tùng – Trưởng Văn phòng luật sư Trung Hòa, Đoàn luật sư TP. Hà Nội.

Phóng viên: Trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động với công ty nước ngoài, công ty xuất khẩu lao động đóng vai trò trung gian giới thiệu người lao động sang nước ngoài làm việc, không may người lao động bị tai nạn lao động hoặc chết thì công ty xuất khẩu lao động có phải bồi thường và chịu trách nhiệm gì, thưa Luật sư?

Luật sư Hoàng Tùng: Trường hợp này do ký kết hợp đồng lao động với công ty bên nước ngoài thì trách nhiệm đối với việc người lao động bị tai nạn lao động hoặc chết sẽ do công ty nước ngoài chịu trách nhiệm theo pháp luật của công ty nước đó.

Còn công ty xuất khẩu lao động đóng vai trò trung gian chỉ chịu trách nhiệm theo thỏa thuận hợp đồng của công ty môi giới khi ký kết, bên cạnh đó theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 27 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ: “Phối hợp với bên nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh khi người lao động chết, bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và giải quyết tranh chấp liên quan đến người lao động”.

Như vậy, công ty xuất khẩu đóng vai trò là công ty môi giới, dịch vụ chỉ chịu trách nhiệm theo hợp đồng dịch vụ đã ký kết và có trách nhiệm phối hợp với bên nước ngoài để giải quyết khi người lao động chết.

Phóng viên: Thưa Luật sư, nếu người lao động bị tai nạn lao động hoặc chết đã tham gia bảo hiểm thì được hưởng như thế nào?

Luật sư Hoàng Tùng: Người lao động làm việc tại các doanh nghiệp sau khi hết hạn các hợp đồng thử việc và tiếp tục làm việc thì phải tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội. Trường hợp người lao động chết sẽ được hưởng các quyền lợi của Bảo hiểm xã hội như sau:

Theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là: "Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở". 

Và theo quy định tại Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 còn có thể hưởng trợ cấp mai táng:

1. Những người sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng:

a) Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này đang đóng bảo hiểm xã hội hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà đã có thời gian đóng từ đủ 12 tháng trở lên;

b) Người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc chết trong thời gian điều trị do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

c) Người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.

2. Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà người quy định tại khoản 1 Điều này chết.

3. Người quy định tại khoản 1 Điều này bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp mai táng quy định tại khoản 2 Điều này.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì trường hợp người lao động chết do tai nạn lao động thì thân nhân sẽ được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng như sau:

1. Những người quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 66 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng:

a) Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;

b) Đang hưởng lương hưu;

c) Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

d) Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

Thân nhân của những người quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm:

a) Con chưa đủ 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; con được sinh khi người bố chết mà người mẹ đang mang thai;

b) Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới 55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

c) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợ hoặc mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ;

d) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợ hoặc mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

3. Thân nhân quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương cơ sở. Thu nhập theo quy định tại Luật này không bao gồm khoản trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công.

Và mức trợ cấp tử tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân là: bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung.

Phóng viên: Công ty xuất khẩu lao động phải bồi thường và chịu trách nhiệm khi người lao động bị tai nạn lao động hoặc chết nhưng lại không thực hiện theo các quy định của pháp luật thì công ty sẽ bị chế tài gì của pháp luật hiện hành?

Luật sư Hoàng Tùng: Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội quy định:

“Điều 16. Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

l) Không thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế; không thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;

m) Không thực hiện chế độ trợ cấp, bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định”.

Như vậy, nếu công ty xuất khẩu lao động không thực hiện các quy định về bồi thường, thanh toán các chi phí theo quy định của pháp luật sẽ bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

d) Buộc người sử dụng lao động thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế; thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều này;

đ) Buộc trả trợ cấp, bồi thường cho người lao động cộng với khoản tiền tính theo lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt của số tiền trợ cấp, bồi thường đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm m khoản 2 Điều này.

Phóng viên: Xin cảm ơn Luật sư.

Đoàn Vĩnh – Khánh Duy