Tại phiên thảo luận, các đại biểu đều thống nhất cao về sự cần thiết của việc thí điểm chế định luật sư công. Theo ĐBQH Nguyễn Thị Thủy (Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên) cho biết, từ số liệu thực tế xét xử các vụ án hành chính cho thấy áp lực rất lớn lên hệ thống quản lý hành chính. Bên cạnh đó, theo Điều 60 Luật Tố tụng hành chính, người đứng đầu (Chủ tịch UBND hoặc Phó Chủ tịch UBND được ủy quyền) bắt buộc phải tham gia tố tụng. Tuy nhiên, do bận rộn công việc quản lý, tình trạng lãnh đạo vắng mặt tại các phiên tòa diễn ra phổ biến, gây khó khăn cho quá trình xét xử. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của đội ngũ luật sư công được kỳ vọng sẽ là cứu cánh giúp các cơ quan nhà nước tư vấn pháp luật trước khi ban hành quyết định, đồng thời đại diện tham gia tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.

Toàn cảnh buổi thảo luận tổ 6. Nguồn: Quochoi.vn.
Đóng góp ý kiến về mặt kỹ thuật lập pháp, ĐBQH Trương Thị Diệu Thúy (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai) đề nghị cần chuẩn hóa các thuật ngữ ngay từ đầu để bảo đảm tính đồng bộ. Đại biểu đề xuất bổ sung cụm từ: "Trong nghị quyết này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau" vào Điều 2 để minh bạch hóa phạm vi áp dụng, nhất là khi "khu vực nhà nước" trong dự thảo bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước.
Liên quan đến Điều 3 và Điều 5 về nguyên tắc hoạt động của luật sư công và tiêu chuẩn của luật sư công, ĐBQH Trương Thị Diệu Thuý phân tích, khoản 1 Điều 5 có nhắc đến tiêu chuẩn của luật sư công gồm: Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; đồng thời khoản 2 Điều 3 yêu cầu những người này thì phải tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Đại biểu cho rằng, điều này lại khu trú ở trong phần đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan Công an nhân dân với hàm ý là từng đối tượng thì chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp trong cái lĩnh vực hoạt động. Tuy nhiên, khi đối chiếu với hai điều này, Đại biểu đặt câu hỏi: “Đối với người làm trong doanh nghiệp nhà nước thì cái nguyên tắc đạo đức, cái tiêu chuẩn tuân thủ như thế nào vì họ không phải là người cán bộ, công chức, viên chức, cũng không phải là sĩ quan Công an rồi quân đội”, do đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ thêm nội dung này.
Về quy trình cấp chứng chỉ hành nghề, đại biểu cũng băn khoăn, “với 08 bộ và 10 địa phương thực hiện thí điểm, ai sẽ là chủ thể quản lý trực tiếp và đề xuất Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ cho người làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)?”. Đây là nội dung cần cơ quan soạn thảo làm rõ để triển khai thuận lợi trên thực tế.
Một vấn đề quan trọng khác được ĐBQH Nguyễn Thị Thủy nhấn mạnh đó là việc rà soát để tránh chồng chéo nhiệm vụ giữa luật sư công và các đơn vị pháp chế hiện có tại bộ, ngành và địa phương. Theo dự thảo, luật sư công sẽ tham gia tư vấn pháp luật trước khi ban hành quyết định hành chính. Đại biểu đặt vấn đề "đây vốn là trách nhiệm của đơn vị pháp chế, của Sở Tư pháp tham mưu cho Chủ tịch UBND. Nếu không phân định rõ, sẽ dẫn đến tình trạng trùng lắp vị trí việc làm và lãng phí nguồn lực". Từ đó, đại biểu đề nghị cần có cơ chế phối hợp hoặc phân định rạch ròi nội dung nào thuộc trách nhiệm tham mưu thường xuyên của pháp chế, nội dung nào cần sự can thiệp chuyên sâu của luật sư công.
Về thời gian thực hiện, dự thảo đang đề xuất thí điểm trong 02 năm theo kết luận của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, một số đại biểu đều bày tỏ sự lo ngại rằng thời gian này là quá hẹp. Lý do được đưa ra là quy trình chuẩn bị (rà soát danh sách, xét tiêu chuẩn, đề nghị Bộ Tư pháp công nhận) đã chiếm một khoảng thời gian không nhỏ. Đồng thời, một vụ kiện hành chính hoặc vụ việc pháp lý thường kéo dài, 02 năm có thể chưa đủ số lượng vụ việc và thời lượng để đánh giá chính xác chất lượng, sự phù hợp của đội ngũ luật sư công. Từ đó, ĐBQH Nguyễn Thị Thủy đề xuất chấp nhận thời gian thí điểm ban đầu là 02 năm, nhưng cần bổ sung quy định cho phép Chính phủ trình cấp có thẩm quyền kéo dài thời gian thí điểm (lên 03 hoặc 04 năm) nếu thấy cần thiết để có đủ cơ sở dữ liệu đánh giá toàn diện chế định này trước khi quyết định chính thức hóa.
Liên quan đến chế độ cho đội ngũ này, ĐBQH Lê Minh Trí (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai) góp ý về cách dùng từ trong văn bản. Theo đó, thay vì dùng từ "chính sách tương xứng", nên sử dụng cụm từ "chính sách chế độ phù hợp". ĐBQH Lê Minh Trí phân tích, khái niệm "tương xứng" rất khó định lượng, trong khi "phù hợp" sẽ tạo ra sự linh hoạt. Cụ thể, duy trì hỗ trợ bình thường cho các hoạt động thường xuyên; khi phát sinh vụ án, vụ việc cụ thể, sẽ có mức hỗ trợ riêng dựa trên tính chất, mức độ đóng góp và kết quả thực tế của luật sư công đó. Quan điểm này nhằm đảm bảo tính sát thực, động viên kịp thời lực lượng luật sư trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và Nhân dân.

