/ Bút ký Luật sư
/ Điểm yếu pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam trong hợp đồng thương mại quốc tế và hệ lụy khi tranh chấp phát sinh

Điểm yếu pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam trong hợp đồng thương mại quốc tế và hệ lụy khi tranh chấp phát sinh

24/04/2026 19:26 |

(LSVN) - Vừa qua, một doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hồ tiêu ra nước ngoài, do ký kết hợp đồng với những điều khoản rất rủi ro mà doanh nghiệp không nhận ra, dẫn đến việc bên nhập khẩu ép bên xuất khẩu phải giảm giá nếu không, họ sẽ từ chối nhận hàng. Dù chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu này của bên mua hàng thì doanh nghiệp Việt Nam vẫn thiệt hại hàng chục tỉ đồng. Qua vụ việc trên, tác giả muốn gửi một số khuyến cáo tới các doanh nghiệp Việt Nam trong giao thương Quốc tế để tránh rủi ro.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn vào hoạt động mua bán hàng hóa xuyên biên giới, ký kết các hợp đồng thương mại với đối tác nước ngoài thuộc nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, mức độ am hiểu về pháp lý quốc tế của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển và sự phức tạp của thương mại toàn cầu. Chính sự thiếu hụt này đã khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào thế yếu ngay từ thời điểm thương lượng hợp đồng, đặc biệt là khi chấp nhận những điều kiện bất lợi liên quan đến cơ quan giải quyết tranh chấp, luật áp dụng, cơ chế bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tuân thủ khác. Khi tranh chấp phát sinh, doanh nghiệp Việt Nam thường bị “trói tay” bởi chính những điều khoản đã ký nhưng không hiểu hết ý nghĩa pháp lý, dẫn đến việc khởi kiện gặp nhiều khó khăn và khả năng thắng kiện bị hạn chế đáng kể.

Luật sư Lê Hồng Quang tư vấn pháp luật tại Phường An Lạc, TP. HCM.

 Luật sư Lê Hồng Quang tư vấn pháp luật tại Phường An Lạc, TP. HCM.

Một trong những điểm yếu phổ biến nhất của doanh nghiệp Việt Nam là tâm lý “ưu tiên giao dịch hơn pháp lý”. Nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản, thủy sản, dệt may, thường tập trung vào việc chốt đơn hàng, giá cả và sản lượng mà thiếu quan tâm đến các điều khoản trọng yếu của hợp đồng. Khi đối tác nước ngoài đưa ra bản dự thảo hợp đồng mẫu, doanh nghiệp Việt Nam thường chấp nhận gần như toàn bộ nội dung theo đề xuất mà không có sự phản biện hoặc yêu cầu điều chỉnh. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chính: sự thiếu hiểu biết về rủi ro pháp lý và tâm lý e ngại làm căng thẳng quan hệ thương mại. Tuy nhiên, chính sự nhượng bộ này đã khiến doanh nghiệp Việt Nam luôn rơi vào trạng thái bị động khi phải đối mặt với tranh chấp.

Một điều khoản thường được phía nước ngoài đưa vào và gây bất lợi lớn cho doanh nghiệp Việt Nam là quy định về cơ quan giải quyết tranh chấp. Phần lớn các đối tác đến từ châu Âu, Mỹ, Nhật Bản hoặc Singapore thường yêu cầu đưa tranh chấp vào giải quyết tại tòa án hoặc trọng tài của chính quốc gia họ. Ví dụ, không ít hợp đồng chỉ định tòa án bang New York, tòa án Paris hoặc trọng tài Singapore (SIAC) làm cơ quan tài phán duy nhất. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, việc phải theo kiện tại một cơ quan tài phán nước ngoài đặt ra hàng loạt thách thức. Chi phí luật sư tại các nước phát triển luôn rất cao, đôi khi vượt xa cả giá trị hợp đồng. Các thủ tục tố tụng phức tạp, thời gian kéo dài, yêu cầu về chứng cứ nghiêm ngặt khiến doanh nghiệp Việt Nam khó đáp ứng. Rào cản ngôn ngữ cũng là một yếu tố quan trọng, vì trong môi trường tố tụng quốc tế, việc sử dụng thuật ngữ pháp lý chuẩn xác đóng vai trò quyết định. Không ít trường hợp doanh nghiệp Việt Nam mất quyền lợi chỉ vì không thể nộp đúng loại chứng cứ theo chuẩn mực của tòa án nước ngoài hoặc do không kịp thời đáp ứng yêu cầu pháp lý trong thời hạn quy định.

Pháp luật áp dụng cũng là một điều khoản gây nhiều bất lợi mà doanh nghiệp Việt Nam thường chấp nhận mà không nhận thức đầy đủ. Khi luật áp dụng là luật của các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Pháp hay Singapore, doanh nghiệp Việt Nam thường gặp khó khăn lớn vì sự khác biệt trong cách giải thích hợp đồng, tiêu chuẩn chứng minh thiệt hại, cũng như khái niệm về vi phạm nghĩa vụ. Luật thương mại Việt Nam thiên về bảo vệ sự thiện chí trong giao dịch và giải thích hợp đồng theo hướng cân bằng, trong khi các hệ thống pháp luật phương Tây thường đặt nặng nguyên tắc tự do hợp đồng và trách nhiệm nghiêm ngặt của các bên. Điều này dẫn đến việc nhiều điều khoản tưởng như “bình thường” đối với doanh nghiệp nước ngoài lại có thể trở thành nghĩa vụ nặng nề đối với doanh nghiệp Việt Nam, chẳng hạn như điều khoản giới hạn trách nhiệm của bên mua nhưng lại mở rộng trách nhiệm của bên bán, điều khoản phạt chậm giao hàng ở mức cao, hoặc yêu cầu bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn mà doanh nghiệp Việt Nam chưa chắc đã hiểu hoặc khó có khả năng đáp ứng hoàn toàn.

Bên cạnh đó, một số hợp đồng còn cài cắm những điều khoản cho phép bên nước ngoài đơn phương đánh giá vi phạm của doanh nghiệp Việt Nam mà không cần sự xác nhận của một cơ quan độc lập. Ví dụ, điều khoản cho phép người mua tự đánh giá chất lượng hàng hóa và quyền từ chối nhận hàng nếu họ “cho rằng” chất lượng không đạt yêu cầu. Khi xảy ra tranh chấp, doanh nghiệp Việt Nam rất khó chứng minh rằng việc từ chối hàng là không có cơ sở, nhất là khi quá trình kiểm định diễn ra ở nước ngoài và chỉ do phía đối tác thực hiện. Những điều khoản như vậy tạo ra sự mất cân bằng nghiêm trọng và đẩy doanh nghiệp Việt Nam vào thế bị động hoàn toàn.

Không thể không nhắc đến điều khoản miễn trừ trách nhiệm, thường được diễn đạt bằng các từ ngữ phức tạp và dễ gây hiểu lầm. Phía nước ngoài, dù là nhà nhập khẩu hay bên xuất khẩu, thường soạn thảo theo hướng họ được hưởng phạm vi miễn trừ rộng, trong khi doanh nghiệp Việt Nam lại chịu trách nhiệm đối với hầu hết rủi ro liên quan đến nguồn hàng, vận chuyển, hải quan, thậm chí cả những rủi ro nằm ngoài khả năng kiểm soát. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã gặp tình huống hàng bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển do lỗi hãng tàu nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường vì hợp đồng đã quy định rất rõ về sự chuyển giao rủi ro và điều này không phải lúc nào cũng trùng khớp với Incoterms. Việc hiểu sai hoặc chỉ hiểu một phần về các điều khoản liên quan đến giao nhận và rủi ro khiến doanh nghiệp Việt Nam dù không có lỗi vẫn bị coi là vi phạm nghĩa vụ.

Không ít doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn có xu hướng ký hợp đồng song ngữ trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ ưu tiên áp dụng khi có mâu thuẫn. Tuy nhiên, bản tiếng Anh thường được soạn thảo bởi phía nước ngoài và được viết theo ngôn ngữ pháp lý chuyên sâu, trong khi bản dịch tiếng Việt do doanh nghiệp Việt Nam tự thực hiện có thể không chính xác hoặc không đầy đủ. Khi xảy ra tranh chấp, cơ quan giải quyết dựa vào bản tiếng Anh, và doanh nghiệp Việt Nam mới phát hiện ra những nghĩa vụ mà họ đã vô tình đồng ý nhưng không hề hiểu. Đây là một rủi ro rất phổ biến nhưng lại chưa được nhiều doanh nghiệp nhìn nhận đúng mức.

Một điểm yếu đáng chú ý khác là việc lưu trữ tài liệu và chứng cứ của doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế. Trong môi trường tranh chấp quốc tế, chứng cứ đóng vai trò then chốt, và mọi tuyên bố đều phải được chứng minh bằng tài liệu rõ ràng. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam không có hệ thống lưu trữ khoa học, thậm chí sử dụng email cá nhân để trao đổi công việc. Khi tranh chấp xảy ra, họ không thể tìm lại đầy đủ tài liệu, hóa đơn, thông tin vận đơn hoặc hồ sơ kiểm định. Điều này khiến doanh nghiệp bị suy yếu nghiêm trọng về mặt chứng cứ, dẫn đến khả năng thắng kiện rất thấp, cho dù về bản chất họ có thể không phải là bên vi phạm.

Ngoài ra, nhận thức về tầm quan trọng của tư vấn pháp lý trong giai đoạn tiền hợp đồng của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế. Thay vì sử dụng dịch vụ luật sư để rà soát hợp đồng ngay từ đầu, nhiều doanh nghiệp chỉ tìm đến luật sư khi tranh chấp đã phát sinh. Việc không đầu tư cho tư vấn pháp lý từ sớm khiến doanh nghiệp phải trả giá đắt khi tranh chấp nổ ra, với chi phí kiện tụng, thời gian mất mát và thiệt hại uy tín.

Tất cả những điểm yếu nêu trên cho thấy rằng doanh nghiệp Việt Nam đang gặp bất lợi ngay từ khi đàm phán hợp đồng quốc tế, và sự bất lợi ấy càng trở nên nghiêm trọng khi xảy ra tranh chấp. Trong một thế giới thương mại toàn cầu hóa, nơi pháp luật đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi, việc thiếu kiến thức pháp lý và thiếu sự thận trọng khi ký kết hợp đồng là một rủi ro lớn, thậm chí có thể đe dọa sự tồn vong của doanh nghiệp. Đã đến lúc các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực pháp lý, xây dựng đội ngũ hiểu biết về hợp đồng quốc tế và chủ động hơn trong việc thương lượng các điều khoản trọng yếu. Chỉ khi nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình, doanh nghiệp mới có thể bảo vệ hiệu quả lợi ích trong hoạt động thương mại toàn cầu.

Luật sư, Quản tài viên LÊ HỒNG QUANG

Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Các tin khác