/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Hành trình hình thành và phát triển của kinh tế nhà nước trong lịch sử Việt Nam: Từ nền tảng cách mạng đến vai trò tiên phong trong thời kỳ hội nhập

Hành trình hình thành và phát triển của kinh tế nhà nước trong lịch sử Việt Nam: Từ nền tảng cách mạng đến vai trò tiên phong trong thời kỳ hội nhập

14/01/2026 10:52 |

(LSVN) - Bài viết này không chỉ phản ánh sự tiến hóa của một mô hình kinh tế mà còn khẳng định vai trò chủ đạo của nó trong việc ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Thông qua lăng kính khoa học trong ngành quản lý kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực KTNN, bài viết sẽ phân tích hành trình này một cách sâu sắc, rút ra bài học lịch sử và triển vọng tương lai, nhằm khẳng định rằng KTNN chính là nền tảng vững chắc cho khát vọng vươn tới một Việt Nam hùng cường, nơi mà sự kết hợp hài hòa giữa vai trò lãnh đạo của Nhà nước và cơ chế thị trường tạo nên động lực phát triển bền vững.

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, kinh tế nhà nước (KTNN) không chỉ là một thành phần kinh tế thuần túy mà còn là biểu tượng sống động của ý chí tự chủ, tự cường và định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phản ánh sâu sắc bản chất của một nền kinh tế chính trị hướng tới công bằng xã hội và phát triển bền vững. Từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, KTNN đã trải qua một hành trình dài đầy gian nan, từ việc hình thành trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân, đế quốc đến sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN, nơi mà nó không ngừng thích ứng với các biến động toàn cầu hóa và công nghệ số. Bài viết này không chỉ phản ánh sự tiến hóa của một mô hình kinh tế mà còn khẳng định vai trò chủ đạo của nó trong việc ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Thông qua lăng kính khoa học trong ngành quản lý kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực KTNN, bài viết sẽ phân tích hành trình này một cách sâu sắc, rút ra bài học lịch sử và triển vọng tương lai, nhằm khẳng định rằng KTNN chính là nền tảng vững chắc cho khát vọng vươn tới một Việt Nam hùng cường, nơi mà sự kết hợp hài hòa giữa vai trò lãnh đạo của Nhà nước và cơ chế thị trường tạo nên động lực phát triển bền vững.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: tuyengiao.vn

Ảnh minh hoạ. Nguồn: tuyengiao.vn

Giai đoạn hình thành: Nền tảng cách mạng và kháng chiến (1945 - 1975)

Từ góc nhìn quản lý kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực KTNN, giai đoạn hình thành của KTNN Việt Nam từ 1945 đến 1975 đại diện cho một quá trình chuyển biến sâu sắc từ một nền kinh tế thuộc địa lạc hậu sang một mô hình kinh tế chính trị định hướng XHCN, nơi Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc huy động, phân bổ và kiểm soát nguồn lực quốc gia nhằm phục vụ mục tiêu giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH. Sự hình thành này không chỉ là kết quả của các chính sách kinh tế thuần túy mà còn là sản phẩm của bối cảnh lịch sử đầy biến động, với cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 đánh dấu điểm khởi đầu, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời giữa bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi ách thực dân Pháp và phải đối mặt với nạn đói khủng khiếp năm 1945, khiến hơn 2 triệu người thiệt mạng do nạn đói và chính sách vơ vét của thực dân, phát xít. Trong bối cảnh này, KTNN chưa phải là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc rõ ràng như sau này, mà chủ yếu tập trung vào việc xây dựng nền kinh tế độc lập phục vụ kháng chiến, với trọng tâm là ổn định xã hội, huy động nguồn lực và chống lại sự can thiệp của các thế lực ngoại bang. Hiến pháp 1946, được ban hành trong điều kiện chiến tranh, đã công nhận quyền tư hữu đa dạng để động viên toàn dân, nhưng Nhà nước nhanh chóng can thiệp qua các chính sách thuế mới, chẳng hạn như bãi bỏ các loại thuế thuộc địa nặng nề và thay thế bằng hệ thống thuế tiến bộ nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thông qua các chương trình phân phối giống cây trồng và công cụ lao động, cũng như thành lập các cơ quan mậu dịch quốc doanh để thu mua sản phẩm nông nghiệp từ nông dân, đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm cho lực lượng kháng chiến và dân chúng. Những biện pháp này phản ánh nguyên tắc quản lý KTNN ban đầu: sử dụng công cụ hành chính để tái phân bổ nguồn lực từ khu vực tư nhân sang mục tiêu công cộng, đồng thời duy trì sự cân bằng giữa sở hữu tư nhân và kiểm soát nhà nước để tránh xung đột xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp [17].

Một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành KTNN là Luật Cải cách ruộng đất năm 1953, được thực thi chủ yếu ở miền Bắc, nơi Nhà nước tịch thu ruộng đất từ địa chủ, thực dân Pháp và các thế lực phong kiến để phân phối cho nông dân nghèo và vô sản, với hơn 810.000 hecta đất được chia cho khoảng 2 triệu hộ nông dân, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích canh tác. Chính sách này không chỉ nhằm giải quyết bất bình đẳng xã hội mà còn động viên toàn dân tham gia kháng chiến chống Pháp, bằng cách liên kết quyền lợi kinh tế với mục tiêu chính trị, tạo nên một lực lượng hậu phương vững chắc. Từ góc nhìn quản lý kinh tế, cải cách ruộng đất thể hiện vai trò của Nhà nước như một nhà quản lý chiến lược, sử dụng công cụ pháp lý để tái cấu trúc sở hữu tư liệu sản xuất, chuyển từ sở hữu tư nhân lớn sang sở hữu cá nhân nhỏ lẻ, từ đó tăng năng suất lao động và huy động nguồn lực quốc gia hiệu quả hơn. Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này là bảo vệ quyền sở hữu rộng rãi cho nông dân, huy động tối đa nguồn lực quốc gia - bao gồm lao động, thực phẩm và tài chính - để hỗ trợ kháng chiến, giúp nền kinh tế non trẻ vượt qua khó khăn chiến tranh, với sản lượng lúa gạo tăng dần từ mức thấp điểm nạn đói lên mức ổn định đủ để chi viện cho lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, quá trình này cũng lộ rõ những thách thức ban đầu, như sự kháng cự từ tầng lớp địa chủ và sai lầm trong thực thi, dẫn đến một số trường hợp phân loại sai giai cấp và xung đột xã hội, ảnh hưởng đến sự đoàn kết dân tộc [18].

Tiếp nối đó, từ năm 1954 đến 1975, KTNN ở miền Bắc phát triển theo mô hình XHCN một cách toàn diện hơn, với việc hoàn tất cải cách ruộng đất và chuyển sang sở hữu tập thể qua hệ thống HTX nông nghiệp, bắt đầu từ các HTX sơ cấp năm 1955 và tiến tới HTX bậc cao vào cuối thập niên 1950. Hiến pháp 1959 đã quy định rõ bốn hình thức sở hữu - toàn dân, tập thể, cá nhân và tư bản - nhưng ưu tiên sở hữu tập thể và quốc doanh, kết hợp với kế hoạch hóa 5 năm đầu tiên từ 1961 đến 1965, tập trung vào công nghiệp hóa XHCN với trọng tâm là ngành công nghiệp nặng như khai thác than, sản xuất điện và cơ khí. Kết quả là công nghiệp quốc doanh tăng trưởng mạnh mẽ, từ gần như con số không năm 1954 lên chiếm 42% tổng sản phẩm xã hội năm 1975, với các nhà máy lớn như Nhà máy Điện Yên Phụ và Mỏ Than Cẩm Phả được xây dựng nhờ viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc. Trong nông nghiệp, hệ thống phát triển với hơn 18.600 HTX bậc cao vào năm 1975, bao phủ hầu hết diện tích canh tác, áp dụng cơ chế phân phối theo công điểm để khuyến khích lao động tập thể. Vai trò của KTNN lúc này không chỉ dừng lại ở sản xuất mà còn là hậu phương vững chắc, chi viện cho miền Nam thông qua các tuyến đường mòn Hồ Chí Minh để vận chuyển vũ khí, lương thực và nhân lực, kết hợp kế hoạch hóa tập trung với tinh thần thi đua yêu nước, như phong trào “Ba sẵn sàng” và “Ba đảm đang” nhằm nâng cao năng suất. Từ phân tích khoa học quản lý kinh tế, mô hình này thể hiện sự áp dụng nguyên tắc quản trị nhà nước tập trung, nơi Nhà nước đóng vai trò như một trung tâm điều phối, sử dụng kế hoạch hóa để phân bổ nguồn lực khan hiếm trong điều kiện chiến tranh, đảm bảo ổn định vĩ mô và an ninh quốc phòng, nhưng cũng lộ rõ bất cập như thiếu động lực cá nhân dẫn đến hiệu quả thấp hơn ở nông nghiệp, với năng suất lúa chỉ đạt khoảng 2 - 3 tấn/ha do chiến tranh phá hoại và viện trợ hạn chế từ các nước XHCN [19].

Trong khi đó, ở miền Nam, KTTT với tư nhân chủ đạo chiếm ưu thế dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, với Nhà nước can thiệp chủ yếu qua các chương trình viện trợ Mỹ và chính sách kinh tế tự do, như Chương trình Đất đai cho Người cày ruộng (Land to the Tiller) năm 1970, phân phối hơn 1 triệu hecta đất cho nông dân nhằm chống lại ảnh hưởng cộng sản. Tuy nhiên, nền kinh tế này phụ thuộc rất lớn vào viện trợ Mỹ, với ngân sách quốc phòng chiếm hơn 60% tổng chi tiêu vào năm 1967, dẫn đến lạm phát cao lên đến 500% từ 1964 - 1969 và sự méo mó trong phát triển, nơi khu vực tư nhân phát triển nhưng bị chi phối bởi tham nhũng và bất ổn chính trị. Sau thống nhất năm 1975, KTNN bắt đầu can thiệp mạnh mẽ qua quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn của miền Nam, chuyển đổi từ mô hình thị trường sang XHCN, đánh dấu sự mở rộng phạm vi của KTNN trên toàn quốc. Thách thức lớn nhất trong giai đoạn này là sai lầm trong cải cách ruộng đất ban đầu, dẫn đến xung đột xã hội và giảm năng suất tạm thời, cũng như bất cập quản lý hành chính, nơi cơ chế kế hoạch hóa cứng nhắc không thích ứng kịp với điều kiện chiến tranh, gây ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa và phụ thuộc viện trợ bên ngoài [20].

Tổng thể, giai đoạn này khẳng định rằng KTNN không chỉ là công cụ kinh tế thuần túy mà còn là vũ khí chính trị hiệu quả, giúp dân tộc vượt qua chia cắt và chiến tranh kéo dài, đặt nền móng vững chắc cho sự thống nhất đất nước năm 1975. Từ lăng kính quản lý KTNN, hành trình này minh chứng cho tính tất yếu của vai trò Nhà nước trong bối cảnh phát triển ban đầu, nơi sự can thiệp tập trung giúp huy động nguồn lực quốc gia, nhưng cũng đòi hỏi sự linh hoạt để khắc phục bất cập, mở đường cho các cải cách sau này trong Đổi Mới. Những bài học từ giai đoạn này - như cân bằng giữa kiểm soát nhà nước và động lực cá nhân, hay tích hợp yếu tố chính trị vào quản lý kinh tế - vẫn còn nguyên giá trị trong việc hoàn thiện mô hình KTNN hiện đại, góp phần vào chủ đề cốt lõi của bài báo khoa học: hành trình từ nền tảng cách mạng đến vai trò tiên phong trong hội nhập, nơi KTNN là trụ cột cho sự tự chủ và phát triển bền vững của Việt Nam [21].

Giai đoạn khủng hoảng và Đổi Mới: Từ kế hoạch hóa tập trung đến thị trường định hướng (1975 - 2000)

Từ góc nhìn quản lý kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực KTNN, giai đoạn từ 1975 đến 2000 đánh dấu một chương quan trọng trong hành trình hình thành và phát triển KTNN Việt Nam, nơi mà mô hình kinh tế chính trị chuyển biến từ kế hoạch hóa tập trung cao độ - một di sản của CNXH cổ điển - sang KTTT định hướng XHCN, phản ánh sự thích ứng linh hoạt của Nhà nước trước những thách thức nội tại và ngoại cảnh toàn cầu. Giai đoạn này không chỉ là thời kỳ khủng hoảng sâu sắc mà còn là bài học quý giá về vai trò quản lý của Nhà nước trong việc điều chỉnh cơ chế kinh tế, từ việc duy trì quyền kiểm soát nguồn lực quốc gia đến việc mở cửa cho các yếu tố thị trường nhằm kích thích tăng trưởng bền vững, góp phần vào chủ đề cốt lõi của bài viết, nơi KTNN được xem là trụ cột chiến lược, không ngừng tiến hóa để cân bằng giữa mục tiêu XHCN và hiệu quả KTTT. Sau thống nhất đất nước năm 1975, KTNN bước vào giai đoạn kế hoạch hóa tập trung cao độ, với Hiến pháp 1980 loại bỏ sở hữu tư nhân lớn, quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, và thực thi quốc hữu hóa bắt buộc ở miền Nam đối với các doanh nghiệp lớn, ngân hàng và cơ sở sản xuất của chế độ cũ, nhằm xây dựng một nền kinh tế thống nhất dưới mô hình XHCN. Chế độ thu mua nghĩa vụ nông sản, phân phối tem phiếu cho hàng hóa thiết yếu và kế hoạch hóa 5 năm (như Kế hoạch 5 năm lần thứ hai từ 1976 - 1980) được áp dụng triệt để, với mục tiêu xây dựng sản xuất lớn XHCN, nơi Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc phân bổ nguồn lực, kiểm soát giá cả và hướng dẫn sản xuất theo chỉ tiêu trung ương. Tuy nhiên, từ phân tích khoa học quản lý kinh tế, đây là thời kỳ khủng hoảng sâu sắc, với lạm phát phi mã do in tiền vô tội vạ để bù đắp thâm hụt ngân sách kéo dài (bội chi ngân sách được bù bằng phát hành tiền tăng trung bình 64,7% hàng năm giai đoạn 1981 - 1985, dẫn đến tiền tệ mất giá nghiêm trọng), và cuộc cải cách giá - lương - tiền năm 1985 - nhằm điều chỉnh giá cả theo cơ chế thị trường một phần - lại đẩy lạm phát lên mức đỉnh điểm 453,5% vào cuối năm, gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóa thiết yếu và suy giảm niềm tin xã hội. Thành tựu hạn chế chỉ là củng cố chế độ công hữu thống nhất trên toàn quốc, với việc chuyển đổi hơn 500 doanh nghiệp tư nhân lớn ở miền Nam thành DNNN và mở rộng hệ thống HTX nông nghiệp lên hơn 20.000 đơn vị vào đầu thập niên 1980, nhưng thách thức lớn nhất là cơ chế phân phối cào bằng dẫn đến tình trạng “chia đều sự nghèo khổ”, hàng hóa khan hiếm kéo dài (như tình trạng xếp hàng dài để mua gạo theo tem phiếu), và đặc quyền tham nhũng lan rộng trong hệ thống quản lý nhà nước, nơi cán bộ có quyền phân phối nguồn lực dễ dàng lạm dụng để trục lợi cá nhân, phản ánh bất cập trong quản trị KTNN khi thiếu cơ chế giám sát hiệu quả và động lực thị trường [22].

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng, với GDP tăng trưởng âm ở một số năm (như  âm 3,5% năm 1986 do ảnh hưởng của lạm phát và thiếu hụt sản xuất), Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử với chính sách Đổi Mới (Renovation), phê bình gay gắt mô hình kế hoạch hóa tập trung cũ kỹ và chuyển sang KTTT định hướng XHCN, nơi KTNN vẫn giữ vai trò chủ đạo nhưng được bổ sung bởi các thành phần kinh tế khác để tạo động lực phát triển. Hiến pháp 1992, được sửa đổi để phù hợp với Đổi Mới, đã bảo hộ quyền sở hữu tư nhân, công nhận nền kinh tế nhiều thành phần với KTNN là chủ đạo và khu vực tư nhân là động lực quan trọng, đồng thời quy định rõ quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát tập trung sang quản lý vĩ mô thông qua chính sách pháp lý. Các chính sách cụ thể được triển khai bao gồm Nghị quyết 10 (khoán 10) trong nông nghiệp năm 1988, cho phép nông dân tự chủ sản xuất và giữ lại phần sản phẩm vượt chỉ tiêu sau khi nộp nghĩa vụ cho Nhà nước, dẫn đến năng suất lúa tăng từ 2,1 tấn/ha năm 1985 lên 3,2 tấn/ha năm 1990; cải cách tài khóa - tiền tệ với việc kiểm soát chặt chẽ phát hành tiền tệ và ổn định tỷ giá hối đoái, giảm lạm phát từ mức siêu lạm phát xuống dưới 70% vào đầu thập niên 1990; và Luật Công ty 1990 cùng Luật Đầu tư nước ngoài 1987 (sửa đổi năm 1992 và 1996), giảm cơ chế “xin - cho” hành chính bằng cách đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Kết quả của những cải cách này là tăng trưởng GDP trung bình đạt 4,4% giai đoạn 1986 - 1990 và tăng vọt lên 7% giai đoạn 1991 - 2000, chấm dứt siêu lạm phát (giảm từ 453,5% năm 1986 xuống 37,7% năm 1992 và ổn định ở mức một con số vào cuối thập niên), xuất khẩu tăng 18,3 lần từ mức thấp năm 1986 lên 14,45 tỷ USD năm 2000, chủ yếu nhờ mở cửa thị trường và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, dệt may. KTNN chuyển từ cơ chế bao cấp toàn diện sang hạch toán kinh doanh tự chủ, với việc tái cấu trúc DNNN thông qua việc giảm trợ cấp nhà nước từ 20% GDP năm 1985 xuống dưới 5% năm 1995, đồng thời thu hút FDI hơn 40 tỷ USD tích lũy đến năm 2000, chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nơi DNNN đóng vai trò dẫn dắt bằng cách hợp tác với đối tác nước ngoài trong các liên doanh. Từ góc nhìn quản lý KTNN, sự chuyển biến này nhấn mạnh vai trò của Nhà nước không còn là nhà sản xuất trực tiếp mà là nhà điều tiết vĩ mô, sử dụng công cụ pháp lý và chính sách để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, đồng thời duy trì kiểm soát các ngành then chốt như năng lượng, ngân hàng và hạ tầng, góp phần giải quyết khủng hoảng bằng cách kết hợp yếu tố thị trường vào mô hình XHCN [23].

Để làm sâu sắc hơn phân tích, cần nhấn mạnh rằng giai đoạn này không chỉ là quá trình vượt qua khủng hoảng mà còn là sự tái định vị vai trò KTNN trong bối cảnh toàn cầu hóa sơ khai, nơi Việt Nam bắt đầu hội nhập khu vực ASEAN (gia nhập năm 1995) và chuẩn bị cho các hiệp định thương mại tự do sau này. Từ quan điểm khoa học quản lý kinh tế, bất cập của mô hình kế hoạch hóa tập trung nằm ở sự thiếu linh hoạt trong phân bổ nguồn lực, dẫn đến lãng phí và tham nhũng, như trường hợp các DNNN hoạt động kém hiệu quả với tỷ lệ nợ xấu lên đến 30% tổng tài sản vào giữa thập niên 1980, đòi hỏi Nhà nước phải chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính và quản trị theo nguyên tắc thị trường, như việc thí điểm mô hình tổng công ty nhà nước từ năm 1990, nơi các doanh nghiệp lớn như Petrolimex và Vietcombank được trao quyền tự quyết định sản xuất và đầu tư. Thành tựu của Đổi Mới không chỉ ở các chỉ số kinh tế vĩ mô mà còn ở việc giảm nghèo từ hơn 70% dân số năm 1986 xuống dưới 40% năm 2000, nhờ tăng trưởng nông nghiệp và mở rộng việc làm ở khu vực tư nhân, chứng minh rằng KTNN có thể đóng vai trò tiên phong khi kết hợp với thị trường, thay vì đối lập. Tuy nhiên, thách thức còn lại là sự chậm trễ trong tái cấu trúc DNNN, với số lượng DNNN giảm từ hơn 12.000 năm 1989 xuống còn khoảng 5.700 năm 2000, nhưng hiệu quả vẫn thấp do gánh nặng nợ nần và thiếu cạnh tranh, đòi hỏi các cải cách sâu hơn trong giai đoạn sau. Giai đoạn này chứng minh rằng sự linh hoạt trong can thiệp nhà nước, kết hợp hài hòa với cơ chế thị trường, là chìa khóa then chốt để giải cứu khủng hoảng và mở đường cho tăng trưởng bền vững, khẳng định vị thế của KTNN như một công cụ chiến lược trong hành trình lịch sử của Việt Nam, từ nền tảng cách mạng đến vai trò dẫn dắt trong hội nhập quốc tế, nơi Nhà nước không chỉ kiểm soát mà còn kiến tạo phát triển [24] [25] [26] [27].

Giai đoạn phát triển trong hội nhập: Tiên phong và thách thức mới (2001 - nay)

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một sự chuyển mình về chất, đánh dấu sự chuyển dịch căn bản từ giai đoạn “phá rào” đổi mới sang giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu rộng. Trong bối cảnh đó, vai trò của KTNN không hề bị lu mờ mà trái lại, đối diện với những yêu cầu cấp thiết về tái định vị chức năng: từ vị thế độc tôn trong cơ chế kế hoạch hóa sang vai trò “chủ đạo” và “dẫn dắt” trong nền KTTT định hướng XHCN.

Bối cảnh hội nhập sâu rộng và sự tăng trưởng vĩ mô

Giai đoạn từ năm 2001 đến nay chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc ngoại thương và quan hệ quốc tế của Việt Nam, khởi đầu bằng việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA) và đặc biệt là sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 [28]. Đây là những cột mốc lịch sử buộc khu vực KTNN phải đối mặt trực tiếp với áp lực cạnh tranh toàn cầu, xóa bỏ dần các bao cấp và ưu đãi phi thị trường.

Mặc dù chịu tác động của nhiều cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (2008 - 2009, 2011 - 2013 và đại dịch COVID-19), nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng ấn tượng nhờ sự điều tiết vĩ mô hiệu quả, trong đó KTNN đóng vai trò là “bộ ổn định” quan trọng. Số liệu thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2020 đạt 6,58%, đưa quy mô nền kinh tế và mức sống người dân lên một tầm cao mới [29]. Cụ thể, GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 2.779 USD, tăng gấp 5,57 lần so với năm 2000 [30]. Đây là minh chứng rõ nét cho sự thành công của đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTNN nắm giữ các mạch máu kinh tế then chốt.

Trong bức tranh thương mại quốc tế, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt mức kỷ lục 282,6 tỷ USD, khẳng định vị thế của Việt Nam như một công xưởng mới của khu vực [31]. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng bộc lộ những bất cập về cơ cấu. Mặc dù KTNN đóng vai trò dẫn dắt trong việc xây dựng hạ tầng và các ngành công nghiệp nền tảng, nhưng tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực này đã có xu hướng giảm dần, xuống còn 20,66% vào năm 2020 [29]. Ngược lại, khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã vươn lên mạnh mẽ, trong đó khu vực FDI chiếm ưu thế tuyệt đối về xuất khẩu (trên 70%) và khu vực ngoài nhà nước đóng góp tới 50,56% GDP [32]. Thực tế này đặt ra câu hỏi lớn về tính hiệu quả và sức lan tỏa của khu vực KTNN trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Những “nút thắt” thể chế và bài học từ các Tập đoàn kinh tế

Bên cạnh những thành tựu vĩ mô, giai đoạn này cũng bộc lộ những hạn chế yếu kém mang tính nội tại của khu vực DNNN. Mô hình “Tập đoàn KTNN” được kỳ vọng trở thành những “quả đấm thép” giúp kinh tế Việt Nam vươn ra biển lớn, song thực tiễn vận hành đã cho thấy nhiều lỗ hổng trong quản trị.

Sự thất bại và sụp đổ của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn trong giai đoạn 2008 - 2015 là hệ quả của cơ chế quản lý lỏng lẻo, đầu tư dàn trải ngoài ngành và sự thiếu minh bạch trong giám sát tài chính [33]. Vấn đề “xung đột lợi ích” và “rủi ro đạo đức” trong quản lý vốn nhà nước đã dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí nguồn lực công, gây bức xúc trong dư luận xã hội và làm suy giảm niềm tin vào vai trò chủ đạo của KTNN. Nguyên nhân sâu xa được các nhà nghiên cứu chỉ ra là sự chậm trễ trong việc tách bạch chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp [34].

Chính những thách thức này đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, trọng tâm là tái cơ cấu DNNN. Yêu cầu đặt ra không chỉ là cổ phần hóa, thoái vốn để giảm gánh nặng ngân sách, mà quan trọng hơn là phải đổi mới căn bản mô hình quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế, áp dụng các chuẩn mực về minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình.

Tầm nhìn chiến lược mới: Từ “công cụ độc quyền” đến “nền tảng tự chủ” (2026 - tầm nhìn 2045)

Bước sang giai đoạn mới, đặc biệt là từ đầu năm 2026, tư duy về phát triển KTNN đã có những bước tiến mang tính đột phá, phản ánh sự trưởng thành trong lý luận quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị vừa được ban hành là một văn kiện mang tính lịch sử, tái định hình sứ mệnh của KTNN trong kỷ nguyên số và kinh tế xanh [35].

Nghị quyết này không chỉ tái khẳng định vai trò tiên phong của KTNN mà còn đặt ra những mục tiêu cụ thể, đầy tham vọng nhưng khả thi. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 50 DNNN lọt vào danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất khu vực Đông Nam Á; đồng thời yêu cầu 100% các DNNN phải hoàn thành quá trình chuyển đổi số và áp dụng quản trị số hóa toàn diện [35]. Đây là bước chuyển chiến lược từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy năng suất và hiệu quả công nghệ làm thước đo giá trị.

Đặc biệt, tầm nhìn đến năm 2045 xác định KTNN phải trở thành “nền tảng tự chủ chiến lược” của quốc gia. Khái niệm này hàm ý rằng KTNN không chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ kinh doanh sinh lời hay điều tiết thị trường, mà phải nắm giữ các công nghệ lõi, đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh tài chính quốc gia trong bối cảnh địa chính trị thế giới đầy biến động [36].

Nghị quyết 79-NQ/TW cũng nhấn mạnh sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. KTNN không còn là công cụ để duy trì vị thế độc quyền hay chèn ép khu vực tư nhân, mà chuyển sang vai trò “người mở đường” (pathfinder) - đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao, vốn lớn mà tư nhân chưa làm được hoặc không muốn làm, từ đó tạo ra hạ tầng và hệ sinh thái để hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển [35]. Đồng thời, cuộc chiến chống lãng phí, tham nhũng trong khu vực công được nâng lên một cấp độ mới, gắn liền với trách nhiệm người đứng đầu và cơ chế kiểm soát quyền lực bằng công nghệ.

Kết luận

Nhìn lại chặng đường từ năm 2001 đến nay, có thể khẳng định KTNN Việt Nam đã và đang trải qua một cuộc “phẫu thuật” lớn để lột xác. Từ chỗ dựa vào ưu đãi và mệnh lệnh hành chính, KTNN đang chuyển mình trở thành lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, đảm bảo các cân đối lớn và an sinh xã hội. Sự ra đời của Nghị quyết 79-NQ/TW vào đầu năm 2026 chính là sự tiếp nối biện chứng của lịch sử: kế thừa nền tảng cách mạng của những năm kháng chiến, nhưng được trang bị tư duy quản trị hiện đại để thực hiện sứ mệnh tiên phong trong kỷ nguyên hội nhập và cạnh tranh toàn cầu.

Hành trình hình thành và phát triển KTNN Việt Nam là minh chứng sống động cho sức sống của dân tộc: từ nền tảng cách mạng kháng chiến, qua khủng hoảng kế hoạch hóa đến bứt phá Đổi Mới và hội nhập. Bài học lớn nhất là phải đổi mới tư duy liên tục, kết hợp can thiệp nhà nước với cơ chế thị trường, tránh duy ý chí và tham nhũng. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu, KTNN cần tiên phong trong chuyển đổi số, xanh hóa, nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và năm 2045 là nước phát triển thu nhập cao.

Việt Nam chúng ta, với truyền thống anh hùng và khát vọng vươn xa, sẽ tiếp tục khẳng định KTNN là trụ cột cho một tương lai thịnh vượng, công bằng và bền vững. Đó không chỉ là trách nhiệm lịch sử mà còn là sứ mệnh của thế hệ hôm nay.

Tài liệu tham khảo, trích dẫn

[1] ECONOMICS, HISTORY, AND THE ORIGINS OF VIETNAM’S POST ... - https://www.jstor.org/stable/10.1525/as.2009.49.3.484

[2] The Evolution of Vietnamese industry - https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/l2c_wp19_nguyen-luu-and-trinh-1.pdf

[3] Political Economy of Vietnam: Market Reform, Growth, and the State - https://digitalcommons.odu.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1024&context=publicservice_pubs

[4] A Brief History of Industrial Policy in Vietnam - https://americanaffairsjournal.org/2023/08/a-brief-history-of-industrial-policy-in-vietnam/

[5] The role of the state in Vietnam’s economic transition - https://www.researchgate.net/publication/47617522_The_role_of_the_state_in_Vietnam%27s_economic_transition

[6] Changes in the political economy of Vietnam and their impacts on ... - https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0264275102000689

[7] Vietnam’s Economy in Transition: Successes and Challenges - https://web.holycross.edu/RePEc/hcx/HC1007-Gottschang_Vietnam.pdf

[8] The State and The Private Sector in Vietnam - https://research.hhs.se/esploro/outputs/workingPaper/The-State-and-The-Private-Sector/991001529197906056

[9] The Politics of State Sector Reforms in Vietnam - https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/0022038042000309241

[10] The reformatting of state control in Vietnam - https://www.scienceopen.com/hosted-document?doi=10.13169/workorgalaboglob.2.2.0101

[11] The Role of the State in Viet Nam’s Economic Development - http://economica.vn/Content/files/PUBL%2520%2526%2520REP/Role%2520of%2520Sate_Overview_EN.pdf

[12] The Role of State - Owned Enterprises in Vietnam’s Market Socialist ... - https://easychair.org/publications/preprint/ptpW/open

[13] State - owned enterprise reform in Vietnam: A dynamic CGE analysis - https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S1049007817301148

[14] Equitisation, Privatisation and the Transformation of SOEs in Viet Nam - https://www.undp.org/vietnam/publications/state-investor-equitisation-privatisation-and-transformation-soes-viet-nam

[15] Vietnam Fiscal Update : The Performance of SOE and the Impact of ... - https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/641231636742511227/vietnam-fiscal-update-the-performance-of-soe-and-the-impact-of-covid-19

[16] State - owned enterprises (SOEs) in Vietnam - https://www.researchgate.net/publication/235289495_State-owned_enterprises_SOEs_in_Vietnam_-_Perceptions_of_strategic_direction_for_a_society_in_transition

[17] Khi V. Thai (2013). Political Economy of Vietnam: Market Reform, Growth, and the State. Old Dominion University Digital Commons. https://digitalcommons.odu.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1024&context=publicservice_pubs

[18] Ngô Đăng Tri (2023). Changing Political Economy of Vietnam in 1945 - 1986. Vietnam Journal of Social Sciences. https://vjol.info.vn/index.php/VSS/article/download/74748/63526/

[19] Dell, M., Lane, N., & Querubin, P (2017). The Historical State, Local Collective Action, and Economic Development in Vietnam. NBER Working Paper No. 23208. https://www.nber.org/system/files/working_papers/w23208/w23208.pdf

[20] Tran Van Tho (2025). The Economy of South Vietnam in the Prism of Bách Khoa Journal (1957 - 1975). International Journal of Economics and Social Sciences Research. https://ijessr.com/uploads2025/ijessr_08_1019.pdf

[21] US Army War College (1981). A Study of Strategic Lessons Learned in Vietnam. Volume III: US Foreign Policy and Vietnam 1945 - 1975. Defense Technical Information Center. https://apps.dtic.mil/sti/tr/pdf/ADA096426.pdf

[22] Beresford, M (2008). Doi Moi in review: The challenges of building market socialism in Vietnam. Journal of Contemporary Asia, 38(2), 221 - 243. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/00472330802001611

[23] Gottschang, T. R (2010). Vietnam’s Economy in Transition: Successes and Challenges. Holy Cross Working Papers in Economics. https://web.holycross.edu/RePEc/hcx/HC1007-Gottschang_Vietnam.pdf

[24] Malesky, E., & London, J (2014). The political economy of development in China and Vietnam. Annual Review of Political Science, 17, 395 - 419. https://www.annualreviews.org/content/journals/10.1146/annurev-polisci-041811-150032

[25] Nguyen Thi Tue Anh, Luu Minh Duc, Trinh Duc Chieu (2016). The Evolution of Vietnamese Industry. Brookings Institution Working Paper. https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/l2c_wp19_nguyen-luu-and-trinh-1.pdf

[26] Tran, T. B., & Vu, T. T. A (2019). State-Owned Enterprise Reform in Viet Nam: Progress and Challenges. ADB Institute Working Paper No. 1071. https://www.adb.org/sites/default/files/publication/562061/adbi-wp1071.pdf

[27] Nguyen, T. H (2016). Economic Reform in Vietnam: From Plan to Market. UCSD Economics Department Paper. https://econweb.ucsd.edu/~rstarr/191AB%20Fall%202016%20Winter%202017/ExemplaryPapers2016/Economic%20Reform%20in%20Vietnam.pdf

[28] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

[29] Tổng cục Thống kê (2021), Niên giám Thống kê 2020: Động lực tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, NXB Thống kê, Hà Nội, tr. 25 - 28.

[30] World Bank (2021), Taking Stock: Vietnam’s Economic Recent Developments, World Bank Group, Hanoi, pp. 12-15.

[31] Bộ Công Thương (2021), Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2020, NXB Công Thương, Hà Nội, tr. 18 - 20.

[32] Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) (2021), Báo cáo đánh giá cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020, Hà Nội, tr. 45 - 50.

[33] Trần Thọ Đạt & Tô Trung Thành (2018), “Hiệu quả hoạt động của các tập đoàn KTNN tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 250, tr. 10 - 18.

[34] Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

[35] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển KTNN.

[36] Nguyễn Xuân Thắng (chủ biên) (2026), KTNN trong bối cảnh tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế: Lý luận và thực tiễn, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 9 - 15.

LÊ HÙNG

Học viện Chính trị khu vực I

QUANG THỊ HƯƠNG QUẾ

Phòng Kinh tế, UBND xã Tri Lễ, tỉnh Nghệ An