/ Trợ giúp pháp lý
/ Hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm và sử dụng đất không đúng mục đích đã được cấp

Hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm và sử dụng đất không đúng mục đích đã được cấp

15/05/2026 13:14 |

(LSVN) - Tại Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ ngày 07/4/2026, Cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã giải đáp vướng mắc liên quan đến việc cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm và sử dụng đất không đúng mục đích đã được cấp.

Văn bản nêu rõ, Cục Quản lý đất đai nhận được phản ánh tại hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Đất đai năm 2024. Cụ thể, căn cứ khoản 6, Điều 12, Nghị định 49/2026 của Chính phủ quy định: "Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 24 như sau: “4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đối với một phần diện tích của thửa đất, phần diện tích còn lại chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây mà nay đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây có 1 phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận (do không phù hợp quy hoạch...) trên sơ đồ thửa đất đã thể hiện rõ kích thước, khuôn viên sử dụng và được gạch sọc ghi chú rõ phần đất không công nhận hoặc chưa được công nhận. Hiện nay các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thực hiện biến động sang tên chủ sử dụng khác (thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng...) thì các chủ sử dụng nhận chuyển nhượng sau này có được căn cứ điều khoản quy định nêu trên để xin cấp giấy chứng nhận đối với phần đất chưa được công nhận không? Nếu được công nhận thì điều khoản nào áp dụng công nhận đối với trường hợp này, trình tự thủ tục được quy định cụ thể ra sao.

Đồng thời việc tính thuế sử dụng đất được xác định theo hồ sơ cấp giấy gốc ban đầu, hay tính thời điểm từ lúc chủ sử dụng cuối cùng nhận chuyển nhượng để tính thuế (xin hướng dẫn rõ điều khoản luật, nghị định).

Ngoài ra khi thực hiện cấp giấy chứng nhận, cấp đổi giấy chứng nhận nếu hiện trạng có thay đổi khác so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có công trình xây dựng trên đất, không bị xử phạt...) thì có cần phải xác minh có ý kiến tồn tại đối với công trình xây dựng đó hay không? 

Giải đáp về việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đối với một phần diện tích của thửa đất, phần diện tích còn lại chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây, Cục Quản lý đất đai cho biết tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 101/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 6 Điều 12 Nghị định 49/2026/NĐ-CP đã quy định: 

“4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đối với một phần diện tích của thửa đất, phần diện tích còn lại chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây mà nay đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.”.

Nội dung phản ánh, kiến nghị liên quan đến vụ việc cụ thể và cần căn cứ theo diện tích đất thể hiện trong văn bản về việc chuyển quyền sử dụng đất là phần diện tích được cấp Giấy chứng nhận hay toàn bộ diện tích thửa đất (bao gồm cả phần diện tích chưa được cấp Giấy chứng nhận) để xem xét, giải quyết. Về trình tự, thủ tục được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định 49/2026/NĐ-CP; thời điểm tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm người sử dụng đất nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Luật Đất đai.

Bên cạnh đó, giải đáp về việc sử dụng đất không đúng với mục đích đã được cấp Giấy chứng nhận, tại khoản 1 và khoản 3 Điều 121 Luật Đất đai đã quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Căn cứ theo quy định nêu trên, nếu việc sử dụng đất không đúng với mục đích đã được cấp Giấy chứng nhận mà thuộc trường hợp phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì xem xét, giải quyết đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai, Điều 25 Nghị định 101/2024/NĐ-CP, Nghị định 123/2024/NĐ-CP; trường hợp việc sử dụng đất không đúng với mục đích đã được cấp Giấy chứng nhận mà thuộc trường hợp không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu người sử dụng đất có nhu cầu thì thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định tại e khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai.

PV

Các tin khác