/ Kinh nghiệm - Thực tiễn
/ Kỹ năng và kiến thức của một đại diện sở hữu trí tuệ: Một số lưu ý áp dụng trong đào tạo luật sư tại Học viện Tư pháp

Kỹ năng và kiến thức của một đại diện sở hữu trí tuệ: Một số lưu ý áp dụng trong đào tạo luật sư tại Học viện Tư pháp

20/01/2026 09:06 |

(LSVN) - Trong những năm gần đây, thành tựu khoa học - kĩ thuật và kinh tế ngày càng phát triển, cùng với sự cạnh tranh khốc liệt trong kinh doanh, nhu cầu bảo hộ các thành tựu từ nghiên cứu khoa học để ứng dụng kinh doanh ngày càng cao, nhất là nhu cầu bảo hộ các sáng chế, nhãn hiệu của nhà khoa học và doanh nghiệp. Vì vậy, nhu cầu sử dụng dịch vụ đại diện sở hữu trí tuệ (SHTT) cũng tăng lên, không chỉ trong nước mà cả quốc tế. Trong bài viết này, tác giả sẽ tổng hợp và phân tích các kĩ năng cần thiết của một đại diện sở hữu trí tuệ hiện nay. Từ đó đưa ra những đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp để nâng cao hơn nữa chất lượng đại diện sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong thời gian tới.

1.    Đặt vấn đề

Những người có hiểu biết về sở hữu trí tuệ và được cấp phép hành nghề "đại diện sở hữu trí tuệ” với các chức danh khác nhau như “luật sư sáng chế”, “đại diện sở hữu công nghiệp”. Chức năng của những người đại diện sở hữu trí tuệ này bao gồm: nộp đơn và xử lí đơn xin cấp bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp, và việc duy trì việc đăng ký các đối tượng đó; tư vấn về các vấn đề liên quan đến sở hữu công nghiệp, bao gồm cạnh tranh không lành mạnh, li-xăng, bí quyết và chuyển giao công nghệ; tranh tụng trong tất cả các lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Để có thể làm tốt công việc của một luật sư, người đại diện sở hữu trí tuệ thì cần phải có đầy đủ các kiến thức về kĩ thuật, pháp lí và các kĩ năng hành nghề tư vấn và thực hành pháp luật về sở hữu trí tuê. Việc đào tạo các kiến thức và kĩ năng cần thiết trong nhà trường cũng như việc thực hành nghề đại diện sở hữu trí tuệ một cách chuyên nghiệp, nghiêm túc là cần thiết để trở thành người đại diện sở hữu trí tuệ thành công.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

2.    Các kĩ năng cơ bản cần được đào tạo của của một đại diện SHTT

2.1 Kiến thức kĩ thuật và pháp lí của một đại diện SHTT

Trong giai đoạn trước khi nộp đơn, luật sư sáng chế phải đưa ra được nhận định để tư vấn cho khách hàng của mình về việc tài sản sở hữu trí tuệ của họ có được cấp bằng độc quyền sáng chế không, họ có nên tiết lộ một phần bí mật về sáng chế để được bảo hộ không hay không nên nộp đơn bảo hộ, nên nộp đơn xin được bảo hộ ở quốc gia nào.

Xác định khả năng cấp bằng độc quyền sáng chế

Vấn đề liệu sáng chế có đáp ứng điều kiện về khả năng cấp bằng độc quyền sáng chế được Cơ quan sáng chế hay tòa án xác định nếu quyết định của Cơ quan sáng chế bị khiếu nại ra tòa án.

Hỗ trợ người nộp đơn tưởng lai trong việc xác nhận tình trạng kĩ thuật và so sánh tình trạng trạng kĩ thuật với sáng chế có thể là một trong số các công việc của một đại diện. Tuy nhiên, người nộp đơn có thể quyết định không cần hỏi ý kiến của đại diện.

Người nộp đơn có thể đạt được quyết định vì nhiều lí do như việc đó mất nhiều chi phí hay bởi vì người nộp đơn được thông báo về tình trạng kỹ thuật hơn là người đại diện. Lý do khác có thể là một sáng chế tưởng tự đã là đối tượng của đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế tưởng tự đã là đối tượng của đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở quốc gia khác và việc kiểm tra cần thiết tình trạng kĩ thuật đã được hoàn thành và có hiệu lực một cách chính xác.

Xác định nên nộp đơn xin bảo hộ ở quốc gia nào

Khi có vấn đề việc nên xin bảo hộ sáng chế ở quốc gia nào, người nộp đơn và người đại diện phải tìm hiểu các thông tin và so sánh vấn đề chi phí để xem quốc gia dự định nộp đơn bảo hộ đó có phải là thị trường tiềm năng cho các sản phẩm mà sáng chế của họ dự định sẽ được sử dụng, hay có quốc gia đó có những sáng chế trùng/tưởng tự như sáng chế dự định nộp đơn bảo hộ không, có những người nhận li-xăng hay nhận chuyển nhượng hay có các đối thủ cạnh tranh có thể khai thác sáng chế nếu sáng chế không được cấp bằng độc quyền ở quốc gia đó...

Người đại diện trong nước mà cả đại diện ở nước ngoài nơi dự định bảo hộ cho sáng chế cũng cần phải trao đổi ý kiến về vấn đề liệu việc bảo hộ sáng chế có nên tiến hành ở quốc gia đó không. Đại diện ở quốc gia khác có thể có ý kiến rằng vì một số lí do liên quan đến luật sáng chế của quốc gia đó, một đơn nếu đã nộp có thể sẽ không thành công. Hoặc người đại diện có thể biết về các công bố trước thời hạn mà người nộp đơn tưởng lai không biết được, và việc công bố như vậy gần như loại trừ khả năng nhận được bằng độc quyền sáng chế ở quốc gia đó.

Nếu người nộp đơn tưởng lại quyết định xin bảo hộ cho sáng chế ở một số các quốc gia và nếu ít nhất một số các quốc gia đó là thành viên của Hiệp ước Hợp tác sáng chế (PCT) và là thành viên của tổ chức sáng chế khu vực, vấn đề phát sinh là liệu có nên nộp đơn sáng chế quốc tế theo PCT và đơn sáng chế khu vực thay vì nộp đơn sáng chế quốc gia tại từng nước. Điều này đòi hỏi người đại diện SHTT phải cân nhắc và đưa ra tư vấn sao cho có lợi nhất cho khách hang của mình ra quyết định sẽ nộp đơn bảo hộ ở đâu, như thế nào.

Người nộp đơn và người đại diện cũng phải lưu ý về thời điểm nộp đơn. Nếu là đơn đầu tiên thì nên nộp càng sớm càng tốt. Trong quá trình soạn thảo đơn thì người đại diện phải trao đổi ý kiến, thông tin và tư vấn cho người nộp đơn một cách nhanh chóng. Theo luật sáng chế của hầu hết các quốc gia, khi có nhiều đơn được nộp cùng một lúc cho cùng một sáng chế thì bằng độc quyền sáng chế sẽ được cấp cho người nộp đơn đầu tiên, hoặc có đề nghị hưởng ngày ưu tiên sớm nhất.

Trong trường hợp một đơn nộp sau mà người nộp đơn viện dẫn ưu tiên của đơn đầu tiên, việc nộp đúng thời hạn có nghĩa là việc nộp trước khi kết thúc 12 tháng sau ngày nộp đơn đầu tiên. Trách nhiệm của một đại diện sở hữu trí tuệ là phải biết ngày kết thúc thời hạn 12 tháng là ngày nào và bảo đảm rằng đơn đã được Cơ quan có thẩm quyền nhận trước ngày đó. Trách nhiệm của người nộp đơn là cung cấp tất cả những dữ liệu yêu cầu về người nộp đơn trước ngày đó để người đại diện có thời gian hỏi thêm các thông tin bổ sung từ người nộp đơn, để dịch nếu việc dịch là bắt buộc, và để trao đổi ý kiến với người nộp đơn về những điểm chưa rõ.

Trong giải đoạn nộp đơn, khi cơ quan có thẩm quyền xem xét về mặt hình thức của đơn thì người đại diện có trách nhiệm sửa chữa những lỗi về mặt hình thức của đơn (các chỉ dẫn dẫn không đầy đủ về tên, lỗi chính tả, địa chỉ chưa chính xác...) trong thời gian luật định.

Đối với các khoản phí phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền, người đại diện sẽ nộp thay cho khách hàng (người sở hữu tài sản trí tuệ) và tính vào chi phí dịch vụ đại diện. Một số cơ quan có thẩm quyền cấp bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp cho phép đại diện mở tài khoản kí quỹ tại cơ quan đó. Đại diện gửi một khoản tiền vào Cơ quan có thẩm quyền. Khi nộp đơn, đại diện đưa ra số tiền cần Cơ quan có thẩm quyền chuyển từ tài khoản ký quỹ của người đại diện tại cơ quan cấp văn bằng bảo hộ vào tài khoản riêng của Cơ quan đó. Biện pháp này sẽ hạn chế việc thanh toán chậm nên rất được khuyến khích sử dụng. Việc này cũng đòi hỏi đại diện sở hữu trí tuệ cho phép Cơ quan có thẩm quyền tính toán bất kì khoản phí nào liên quan đến các đơn mà có chỉ định người đại diện và Cơ quan đó chuyển khoản tiền đó, không cần có yêu cầu cụ thể của người đại diện, từ tài khoản kí quỹ của người đại diện vào tài khoản riêng của Cơ quan cấp văn bằng bảo hộ.

Giai đoạn công bố đơn, tính từ khi kết thúc giải đoạn 18 tháng sau ngày nộp đơn hoặc trường hợp xin hưởng quyền ưu tiên dựa trên một đơn nộp sớm hơn vào lúc kết thúc 18 tháng sau ngày nộp đơn của đơn nộp sớm hơn. Lúc này, người đại diện sẽ phải nhận định sự việc và đưa ra tư vấn cho khách hàng là người nộp đơn đưa ra quyết định có nên công bố đơn sớm hay muộn thì sẽ tốt hơn. Sau khi cân nhắc kĩ, nếu quyết định công bố đơn sớm, nhiệm vụ của người đại diện là yêu cầu cơ quan cấp bằng bảo hộ tiến hành việc công bố sớm.

Khi yêu cầu xem xét về nội dung đơn, người đại diện cũng cần tư vấn cho khách hàng của mình là người nộp đơn thời điểm gửi yêu cầu xem xét nội dung theo đúng quy định pháp luật để không bị từ chối đơn. Vì thế, nhiệm vụ của người đại diện là lưu ý ngày công bố đơn hoặc ngày nộp đơn và khi sắp hết thười hạn phải hỏi người nộp đơn xem liệu có nộp yêu cầu xét nội dung không. Nếu người nộp đơn đồng ý nộp yêu cầu thì người đại diện phải tiến hành nộp yêu cầu trước khi kết thúc thời hạn và bởi thông thường pháp luật đòi hỏi việc thanh toán phí xem xét nội dung trong cùng thời hạn, người đại diện phải đảm bảo rằng việc thanh toán phí cho cơ quan có thẩm quyền phải được thực hiện trong cùng thời hạn.

Khi có phản đối từ một cá nhân hay tổ chức yêu cầu cơ quan có thẩm quyền từ chối đơn, vai trò của người đại diện là cần trao đổi với người nộp đơn về việc nên trao đổi với cơ quan có thẩm quyền những lập luận tưởng ứng đối với việc phản đối. Nếu việc phản đối liên quan đến tính mới hoặc tính sáng tạo thì chỉ cần thay đổi các yêu cầu bảo hộ sẽ tránh được việc từ chối đơn. Đại diện của người phản đối thường phải biết rõ lịch sử của quá trình xét duyệt nội dung và hủy bỏ hành chính hoặc phản đối. Người đại diện này cũng sẽ cần xác định liệu sáng chế tưởng tự có là đối tượng xem xét nội dung hoặc hủy bỏ hành chính hoặc phản đối ở cơ quan sở hữu trí tuệ của quốc gia khác, hoặc là đối tượng của vi phạm hoặc hành vi pháp lí đình chỉ hiệu lực ở các tòa án nước ngoài, và nếu như vậy, những lập luận đã sử dụng và kết quả cuối cùng của đơn xin đăng kí và hành vi pháp lí đó là gì.

Đối với việc cấp li-xăng bắt buộc thì dịch vụ đại diện cần cho cả bên yêu cầu li-xăng bắt buộc và chủ sở hữu bằng. Bên yêu cầu li-xăng bắt buộc sẽ phải viện lí lẽ việc không thực hiện sáng chế hoặc thực hiện sáng chế đã được cấp bằng độc quyền không đầy đủ tại quốc gia đó, và sự sai xót về thời hạn ba hay bốn năm được quy định trong Công ước Paris. Người nộp đơn/chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế, nếu muốn chống lại yêu cầu li-xăng bắt buộc thì phải chứng minh rằng sáng chế được cấp đã thực hiện đầy đủ tại quốc gia bởi chính họ hoặc bởi các cá nhân/pháp nhân mà họ cho phép hoặc họ phải chỉ rõ và chứng minh về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ sáng chế.

Đại diện SHTT nước ngoài sẽ cung cấp các tài liệu đầy đủ và chi tiết theo yêu cầu về người nộp đơn và bất kỳ yêu cầu xin hưởng ưu tiên nào theo Công ước Paris nhưng sẽ phải hợp tác với đại diện bản địa để đảm bảo rằng đơn được nộp đúng thời hạn cuối cùng đã định, thường là lần kỷ niệm của đơn ban đầu, nộp các tài liệu phù hợp theo luật và thông lệ của nước sở tại, thông báo về các thông tin yêu cầu tiếp theo, đảm bảo các mẫu được hoàn thiện đúng. Đại diện nước sở tại cũng phải thông báo ngay cho Đại diện nước ngoài về các thời hạn cuối cùng sau này để nộp các tài liệu bổ sung và kịp thời khi tài liệu được đại diện nước ngoài chuyển đến. Các tài liệu đó bao gồm các mẫu, bản vẽ và tài liệu ưu tiên, các bản sao của đơn cơ bản có xác nhận chính thức kèm theo bản dịch nếu cần thiết. Người đại diện nước ngoài cũng mong chờ người đại diện bản địa thông báo các vấn đề có thể phát sinh theo luật của quốc gia sở tại như về đối tượng hoặc hình thức của yêu cầu bảo hộ, về nội dung của đơn dự định nộp, hoặc về sự phù hợp theo luật trong nước về quyền nộp đơn đã được tuyên bố của người nộp đơn. Vai trò chủ chốt của người đại diện quốc gia sở tại là bảo đảm việc thông báo, theo dõi và đáp ứng tất cả các thời hạn cuối cùng ảnh hưởng đến đơn và thông báo cho người đại diện nước ngoài về các yêu cầu đặc thù của luật pháp quốc gia sở tại.

Đối với việc nộp đơn xin bảo hộ tài sản trí tuệ ở nước ngoài theo Công ước Paris, người đại diện phải hướng dẫn người nộp đơn hỏi các câu hỏi đúng và hỗ trợ người nộp đơn có được các thông tin rõ ràng về những chi phí trước mắt và lâu dài, và về tình hình tại từng quốc gia để xem xét thị trường tiềm năng ở các quốc gia, cách thức có thể khai thác sáng chế bao gồm việc  cấp li-xăng và trình độ công nghệ ở từng quốc gia để xem liệu sáng chế có thể đưa vào sử dụng và liệu có thể được sự bảo hộ không. Người đại diện phải thông báo đầy đủ cho người nộp đơn về các chi phí mà người nộp đơn phải chịu vì việc bảo hộ sáng chế ở nhiều quốc gia là khá tốn kém, đặc biệt là chi phí duy trì việc bảo hộ. Khi đã quyết định lựa chọn các quốc gia cần bảo hộ, người đại diện phải thực hiện một số chỉ dẫn cho người đại diện nước ngoài. Bước đầu tiên là lựa chọn người đại diện sẽ thay mặt mình và người nộp đơn tại từng quốc gia. Nhiều quốc gia đòi hỏi ít nhất là một người giao dịch bản địa cho người nộp đơn nhưng trong bất kì trường hợp nào, thực tế hơn là người nộp đơn sử dụng các dịch vụ của một nhà chuyên môn tại từng quốc gia. Lựa chọn này của người đại diện là một quyết định quan trọng, đặc biệt là ở các quốc gia mà ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của người đại diện hoặc người nộp đơn. Trong quá trình lựa chọn, người đại diện sẽ xem xét sự đáng tin cậy, kỹ năng chuyên môn, và sự đánh giá kinh doanh lành mạnh. Bước tiếp theo, người đại diện xác định những tài liệu chính thức nào được yêu cầu cho từng đơn cũng như chuẩn bị các tài liệu cần thiết khác như một giấy ủy quyền của người nộp đơn hay các hợp đồng chuyển nhựợng. Tiếp đó, người đại diện cũng cần chuẩn bị bản mô tả cho các đơn nước ngoài bao gồm cả việc dịch ra ngôn ngữ nước ngoài. Một người đại diện chuyên nghiệp không chỉ sao chụp bản mô tả trong nước để sử dụng ở nước ngoài mà sẽ xem xét liệu mình có thể sắp xếp lại một cách thành công ngôn ngữ hoặc cấu trúc của các yêu cầu bảo hộ phù hợp hơn với thông lệ ở từng quốc gia, hoặc có thể sửa đổi bản mô tả. Cuối cùng, khi xem xét một cách cẩn thận thời hạn cuối cùng theo công ước có thể áp dụng, người đại diện sẽ chuyển đầy đủ các chỉ dẫn vào thời điểm thích hợp cho bên đối tác nước ngoài đã chọn.

Đối với đại diện nhãn hiệu, cần theo dõi việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa mà khách hàng mình đại diện yêu cầu và ngăn chặn việc sử dụng không phù hợp. Trường hợp phát hiện ra việc sử dụng không phù hợp, người đại diện nhãn hiệu phải có biện pháp thích đáng ngay lập tức như gửi thông báo yêu cầu người vi phạm chấm dứt việc sử dụng hay bồi thường, trả phí cho việc sử dụng nhãn hiệu...

2.2 Kỹ năng viết của một đại diện SHTT

Kỹ năng viết là khá cần thiết đối với một người đại diện sở hữu trí tuệ. Đó là khả năng biểu đạt các thuật ngữ một cách rõ ràng, hợp lí và không mơ hồ về các đối tượng là tài sản sở hữu trí tuệ cần bảo hộ mà đặc điểm kí thuật của chúng do người chuyên môn tạo ra. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt với việc chuyên môn hóa sớm ở các trường giữa các môn khoa học và nghệ thuật, người nộp đơn có kiến thức kỹ thuật được yêu cầu khong nhất thiết phải có khả năng làm điều này. Vì thế, người đại diện phải có kỹ năng này mới có thể giúp cho khách hang của họ.

Trong giải đoạn chuẩn bị đơn, người đại diện chịu trách nhiệm chính cho việc chuẩn bị chính xác đơn, soạn thảo các phần chính của đơn như bản mô tả và yêu cầu bảo hộ, là quan trọng đối với người nộp đơn để có được sự bảo hộ thỏa đáng quyền của người nộp đơn đối với tài sản sở hữu trí tuệ. Người nộp đơn sẽ phải cung cấp đủ dữ liệu về tài sản trí tuệ muốn được bảo hộ cho người đại diện để họ chuẩn bị hồ sơ pháp lí theo quy định của luật sở hữu trí tuệ khi nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với các sửa đổi, hầu hết các luật sở hữu trí tuệ đều cho phá người nộp đơn sửa đổi đơn. Việc sửa đổi đó không được vượt quá bộc lộ ban đầu trong đơn đã nộp. Bởi vì công việc đang được xem xét là một công việc mang tính trách nhiệm, thường thì không một đại diện nào lại sửa đơn mà không trình bày và xin phép người nộp đơn. Thường thì mỗi sửa đổi dự kiến được trao đổi một cách tỉ mỉ, bằng lời nói hoặc văn bản giữa người nộp đơn và người đại diện.

Công việc của một đại diện SHTT là phối hợp tốt với tác giả sáng chế/nhãn hiệu trình bày rõ ràng, chính xác một đơn đăng kí sáng chế mà bao trùm sáng chế một cách rộng nhất. Người đại diện không nên dựa vào hoàn toàn tác giả sáng chế/nhãn hiệu về những gì họ trình bày mà phải rút ra những tri thức, ý tưởng thông qua việc trao đổi với tác giả, từ phạm vi của vấn đề chuyên môn mà tác giả SHTT đã gặp khó khăn. Thông thường, các thành quả SHTT với ý nghĩa rộng nhất được hiểu ra qua việc trao đổi giữa tác giả và người đại diện để trình bày trong đơn một cách rõ ràng. Việc mô tả chính xác và đầy đủ sáng chế trong đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế và sự trình bày chính xác các yêu cầu bảo hộ của sáng chế về cơ bản là vấn đề kinh nghiệm thực tế. Với kinh nghiệm này, đại diện SHTT với kiến thức và kĩ năng của mình phải là một đối tác thực sự để tư vấn và hỗ trợ khách hàng của mình nộp đơn xin bảo hộ tới cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, bằng cấp chuyên ngành kĩ thuật ở trường đại học hay tổ chức giáo dục là cần thiết để người đại diện có thể viết đơn tốt. Hơn nữa, ở các quốc gia công nghiệp, tính chuyên nghiệp của người đại diện SHTT chỉ có thể được thực hiện bởi những người đã đạt đủ trình độ chuyên môn thông qua một kì sát hạch kiểm tra, bao gồm cả kỹ năng viết.

2.3 Đạo đức nghề nghiệp của một đại diện SHTT

Mỗi ngành nghề đều có những tiêu chuẩn nghề nghiệp, bao gồm kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Đối với một luật sư là đại diện SHTT cũng vậy, ngoài những yêu cầu kiến thức về kĩ thuật, hiểu biết các quy định pháp luật về SHTT thì người đại diện SHTT cần có nhân cách đạo đức và những quy tắc giao tiếp với khách hàng của mình cũng như hành xử thích hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nộp đơn, đối tác của khách hàng khi thực hiện việc đàm phán, soạn thảo hợp đồng li-xăng, ... Người đại diện SHTT phải kết hợp khả năng thực tế và khả năng dự đoán rủi ro để giao tiếp và thể hiện chính kiến của mình như một nhà khoa học, một luật sư và nhà kinh doanh. Để làm được như vậy, ngoài kinh nghiệm thực tế, người đại diện SHTT phải có kiến thức về pháp lí gồm những quy định pháp lí của quốc gia sở tại và của các quốc gia công  nghệp quan trọng nhất liên quan đến việc bảo hộ sở hữu công nghiệp. Tất nhiên, những kiến thức này bao gồm cả các văn bản pháp lí quốc tế.

3.    Kết luận

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, một đại diện sở hữu trí tuệ không chỉ cần có kiến thức chuyên môn về kĩ thuật và pháp lí mà cần có đạo đức nghề nghiệp và kĩ năng mềm khác về giao tiếp, trình bày, viết, … Để có được những kĩ năng và kiến thức đó, đại diện SHTT cần được đào tạo một cách bài bản trong trường lớp cũng như đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn. Các cơ sở đào tạo như học viện tư pháp hay cục sở hữu trí tuệ cần xây dựng các chương trình tập huấn phù hợp để nâng cao chất lượng của luật sư làm đại diện SHTT. Bên cạnh đó, cũng cần có sự hợp tác quốc tế trong việc đào tạo, tập huấn kĩ năng cho những người làm đại diện SHTT.

Tài liệu tham khảo

[1]  Hiệp định Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp 1883

[2]  Quốc hội, 2015. Bộ luật dân sự

[3]  Quốc hội, 2005/2022. Luật sở hữu trí tuệ

[4]  Chính phủ, 2006. Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ về Sở hữu công nghiệp

[5]  WIPO, Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Nhà xuất bản WIPO, ISBN: 92-805-1341-9

[6]  Cục sở hữu công nghiệp, 2023. Cẩm nang về sở hữu trí tuệ dành cho doạnh nghiệp khởi nghiệp. Nhà xuất bản lao động, Hà Nội. ISBN: 9786-043-934-601

ThS. PHẠM THANH NGA

Đại học kinh tế quốc dân

TS. LƯƠNG VĂN TUẤN

Học viện tư pháp