Xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề của luật sư
1. Về miễn, giảm đào tạo nghề luật sư và thời gian tập sự hành nghề luật sư:
Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Bộ Tư pháp về việc rà soát “các trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư mặc dù có kinh nghiệm, kiên thức về pháp luật, chuyên môn trong quá trình công tác nhưng kỹ năng hành nghề luật sư, trách nhiệm, đạo đức ứng xử nghể nghiệp luật sư có đặc thù riêng”.
Từ thực tiễn hoạt động hành nghề luật sư, Tôi nhận thấy chỉ nên miễn đào tạo nghề luật sư và miễn tập sự hành nghề luật sư đối với các chức danh: Thẩm phán, kiểm sát viên, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật và tiến sĩ luật. Các chức danh khác cần phải tham gia đào tạo nghề luật sư và thực hiện tập sự hành nghề luật sư theo quy định.
Lý do là thẩm phán và kiểm sát viên là những người nắm vững cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng, có kinh nghiệm thực tiễn và trực tiếp tham gia hoạt động xét xử tại phiên tòa với sự tham gia của luật sư. Trong khi đó, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật và tiến sĩ luật là những người trực tiếp giảng dạy, đào tạo cử nhân và thạc sĩ luật, có nền tảng học thuật và chuyên môn sâu về pháp luật.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Cơ quan Truyền thông Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Do đó, Tôi đề nghị:
1.1. Chỉ miễn đào tạo nghề luật sư và miễn tập sự hành nghề luật sư đối với các chức danh: Thẩm phán, kiểm sát viên, giáo sư và phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật.
1.2. Đối với thẩm phán và kiểm sát viên, cần bổ sung thêm các điều kiện:
a) Đã có thời gian công tác với chức danh thẩm phán hoặc kiểm sát viên liên tục ít nhất 05 năm (tương đương một nhiệm kỳ).
b) Thời gian từ khi thôi giữ chức danh thẩm phán, kiểm sát viên tối thiểu là 05 năm cho đến khi gia nhập Đoàn Luật sư, nhằm hạn chế việc sử dụng các mối quan hệ khi còn đương chức và cũng để tương thích với các quy định khác của pháp luật.
- Theo Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung 2025, thời hạn đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử là 05 năm.
- Thời gian miễn thị thực tối đa cho người nước ngoài vào Việt nam là không quá 05 năm theo quy định tại Nghị định 82/2015/NĐ-CP ngày 24/09/2015 về “quy định về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam”.
- Bộ luật Lao động 2019 tại Điều 114 quy định: “Cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được tăng thêm tương ứng 01 ngày”.
- Điểm a khoản 2 Điều 18 Nghị định 188/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 về “hướng dẫn chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế” quy định: “Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế kể từ thời điểm người bệnh đồng thời đạt đủ điều kiện tham gia bảo hiểm y tế 05 năm liên tục trở lên”.
1.3. Đối với các chức danh khác, cần thực hiện đầy đủ việc đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư theo quy định; không nên đặt vấn đề miễn hoặc giảm thời gian đào tạo hay tập sự, vì việc này vừa thiếu căn cứ thực tiễn, vừa phát sinh thêm thủ tục hành chính và khó khăn trong tổ chức thực hiện, do không thể xây dựng chương trình đào tạo và tập sự riêng cho từng nhóm đối tượng được miễn hoặc giảm.
2. Về quy định kỳ thi cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư:
Dự thảo chính sách đề xuất tổ chức kỳ thi luật sư thông qua Hội đồng thi luật sư, với sự tham gia của nhiều cơ quan như: Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ sở đào tạo nghề luật sư mà lại không đề cập ai là người chủ trì, cần nêu rõ Liên đoàn Luật sư Việt Nam là đơn vị chủ trì và các cơ quan khác là cơ quan phối nếu cần thiết.
Tuy nhiên, theo Tôi cần cân nhắc sự cần thiết của mô hình này.
Trên thực tế, việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư hiện nay do Liên đoàn Luật sư Việt Nam thực hiện đã vận hành ổn định và đạt hiệu quả. Từ năm 2014 đến nay, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tổ chức 22 kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, được thực hiện đúng quy định pháp luật, dưới sự kiểm tra và giám sát của Bộ Tư pháp cùng lực lượng an ninh thuộc Bộ Công an (A03).
Các kỳ kiểm tra được tổ chức nghiêm túc, đúng quy định, không phát sinh vi phạm và được các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá cao. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ thí sinh không đạt thường dao động từ 30% đến 40%, thậm chí có kỳ lên tới 50%, cho thấy kỳ kiểm tra được tổ chức nghiêm túc và bảo đảm chất lượng chuyên môn.
Vì vậy, cần cân nhắc việc thay đổi cơ chế tổ chức kỳ kiểm tra hiện nay. Đồng thời, cũng cần xem xét liệu việc đưa thêm các cơ quan tiến hành tố tụng tham gia Hội đồng thi có thực sự cần thiết hay không, khi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan này hoàn toàn khác với chức năng, nhiệm vụ của luật sư; kỹ năng nghề nghiệp của những người làm việc trong các cơ quan tiến hành tố tụng cũng khác với kỹ năng hành nghề luật sư.
Việc thay đổi cơ chế tổ chức kỳ kiểm tra cũng cần được xem xét trong bối cảnh chủ trương tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Tại Hoa Kỳ, việc tổ chức thi luật sư do cơ quan quản lý tư pháp của từng tiểu bang đảm nhận, cụ thể là Hội đồng Kiểm tra Luật sư Tiểu bang dưới sự giám sát của Tòa án Tối cao tiểu bang đó. Không có kỳ thi quốc gia duy nhất; mỗi bang có tiêu chuẩn và đề thi riêng.
Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, chuyên nghiệp phù hợp với thông lệ quốc tế, cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý mà Việt Nam tham gia ký kết
1. Xác định lại khái niệm “dịch vụ pháp lý” (có thu tiền):
Khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư không có quy định cấm luật sư kiêm nhiệm hành nghề khác. Đề nghị bổ sung vào Điều 9 để tạo sự chuyên nghiệp. Cần quy định cung cấp dịch vụ pháp lý là hoạt động kinh doanh có điều kiện (phải có chứng chỉ hành nghề luật sư) mới được cung cấp dịch vụ pháp lý.
Về cơ bản, tôi đồng tình với việc xác định lại khái niệm “dịch vụ pháp lý”. Theo đó, hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư là hoạt động thuộc phạm vi hành nghề của luật sư, có thu thù lao từ khách hàng; chỉ luật sư và tổ chức hành nghề luật sư mới có quyền cung cấp dịch vụ pháp lý. Cá nhân, tổ chức không phải là luật sư hoặc không phải là tổ chức hành nghề luật sư thì không được cung cấp dịch vụ pháp lý.
Dịch vụ pháp lý của luật sư được quy định tại Điều 4 Luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung 2012 như sau:
“1. Tham gia tố tụng;
2. Tư vấn pháp luật;
3. Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng;
4. Dịch vụ pháp lý khác”.
Thời gian qua, trên địa bàn TP. HCM đã xuất hiện tình trạng một số công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhưng thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật, dẫn đến sự nhập nhằng và gây hiểu lầm về chức năng, phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý của các tổ chức này. Trên thực tế, các công ty này không có quyền cung cấp dịch vụ pháp lý nhưng vẫn cử luật sư tham gia tố tụng hoặc thực hiện tư vấn pháp luật như các tổ chức hành nghề luật sư, từ đó tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường dịch vụ pháp lý.
TP. HCM trước đây cũng đã có văn bản kiến nghị Bộ Tư pháp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét dừng việc cấp đăng ký doanh nghiệp đối với loại hình doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức nêu trên.
Quán triệt, chỉ đạo Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các sở, ngành liên quan, Đoàn Luật sư tiếp tục triển khai thực hiện Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nêu tại Thông báo số 359/TB-VPCP ngày 09/10/2019 của Văn phòng chính phủ về tháo gỡ vướng mắc liên quan đến đăng ký ngành nghề dịch vụ pháp lý, Công văn số 3575/BTP-BTTP ngày 25/9/2020 của Bộ Tư pháp “về việc đăng ký hoạt động tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý”, thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện để xử lý các doanh nghiệp đã đăng ký hoặc cá nhân, tổ chức doanh nghiệp không thực hiện việc đăng ký mà có hoạt động không phù hợp với quy định của Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Luật sư.
Ngoài ra, hiện nay còn tồn tại tình trạng một số cá nhân không phải là luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư nhưng vẫn đứng ra ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, nhận đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại tòa án các cấp và thu thù lao, thậm chí ký hợp đồng hứa thưởng với giá trị rất lớn.
Những cá nhân này không chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về luật sư, không bị ràng buộc bởi Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, cũng không chịu sự thanh tra, kiểm tra của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác. Từ sự thiếu chặt chẽ này đã hình thành một thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý bất hợp pháp, gây cạnh tranh không lành mạnh và làm méo mó thị trường dịch vụ pháp lý.
Có trường hợp luật sư bị xoá tên do vi phạm Tư vấn pháp luật, sau đó họ gia nhập Hội Luật gia và vào các Trung tâm Tư vấn pháp luật theo Nghị định 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 về “tư vấn pháp luật” để cung cấp dịch vụ pháp lý dẫn đến tình trạng lộn xộn cho những người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để cung cấp dịch vụ pháp luật như “hành nghề” Luật sư. Điều này gây ra những tiềm ẩn, khó khăn trong quản lý Nhà nước.
Để khắc phục triệt để tình trạng nêu trên, tránh việc các doanh nghiệp không phải là tổ chức hành nghề luật sư hoặc các cá nhân không phải là luật sư vẫn cung cấp dịch vụ pháp lý dưới nhiều hình thức khác nhau, Tôi đề nghị Bộ Tư pháp trình theo hướng quy định rõ trong Luật Luật sư việc nghiêm cấm tổ chức, cá nhân không phải là luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý.
2. Trợ giúp pháp lý:
Luật Trợ giúp pháp lý 2017 - Điều 2 quy định về trợ giúp pháp lý:
“Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý”.
Trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách, nhận lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước theo Luật Trợ giúp pháp lý 2017.
Theo đó, luật đã quy định bỏ chức năng dịch vụ pháp lý góp phần đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp lý.
Trợ giúp pháp lý, hoà giải, Trọng tài theo luật chuyên ngành.
3. Hỗ trợ pháp lý (không thu tiền):
Không phải là luật sư, văn phòng luật sư, công ty luật thì chỉ được hỗ trợ pháp lý.
Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017:
- Doanh nghiệp có số lao động không quá 200 người (Doanh nghiêp nhỏ và vừa).
- Tổng nguồn vốn không quá 100 tỉ đồng.
- Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỉ đồng.
Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa”, có quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng, thương mại và dịch vụ
Điều 4 Nghị định 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 “về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” quy định các nguyên tắc thực hiện hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân (Điều 49 Luật Luật sư)
Điều 49. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
1. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư.
2. Trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho hoạt động hành nghề của mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
3. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn Luật sư mà luật sư là thành viên.
Hiện nay, quy định về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân đang cản trở sự phát triển nghề luật sư Việt Nam, nhiều khó khăn so với luật sư nước ngoài khi tiếp cận dịch vụ pháp lý.
Theo Điều 35 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”.
Theo Điều 19 Bộ luật lao động 2019 ghi nhận: “Người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết”.
Luật Luật sư hiện nay lại hạn chế quyền làm việc, chọn nơi làm việc và quyền giao kết nhiều Hợp đồng lao động của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân thông qua phạm vi khách hàng mà Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân được tiếp cận.
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân chỉ cung cấp cho 01 chủ thể.
- Nếu đối chiếu với các quy định pháp luật, hành vi giao kết HĐLĐ không thuộc nhóm hành vi mà luật sư bị cấm, không được làm, cũng không thuộc nhóm vụ việc không được tiếp nhận theo Bộ quy tắc đạo đức ứng xử nghề luật sư Việt Nam.
Hạn chế này thiếu tương thích với định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, đó là khuyến khích các tập đoàn kinh tế tư nhân nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh, tầm vóc của Doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Chúng ta cũng cần tham khảo cách làm của Singapore, Thái Lan. Pháp luật về luật sư của Singapore phân biệt hình thức hành nghề của luật sư dựa trên mức độ được tham gia và trình tự tố tụng thay vì phân biệt giữa hình thức hành nghề và không có giới hạn nhắm đến các luật sư hành nghề với tư cách cá nhân.
Hay tại Hoa Kỳ, phải tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp tại nơi cấp phép, không có quy định cụ thể nào hạn chế phạm vi hành nghề của luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý theo dạng hành nghề tự do (freelance) hay hành nghề với tư cách cá nhân.
Do đó, đề nghi sửa đổi Điều 49 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân theo hướng như sau:
Đã là luật sư thì được:
- Tham gia tố tụng;
- Tư vấn pháp luật;
- Đại diện ngoài tố tụng;
- Thực hiện các dịch vụ pháp lý;
- Được nhận tập sự với điều kiện:
+ Tuân thủ các quy định về HĐLĐ, NQLĐ, minh bạch.
+ Tuân thủ các quy định về thuế, hành chính, Luật Luật sư.
Không thể để UBND cấp xã “kiểm tra hoạt động luật sư”
Gần đây xuất hiện đề xuất giao UBND cấp xã thực hiện việc kiểm tra hành chính đối với luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư. Nếu đề xuất này trở thành hiện thực, đó có thể được xem là một bước lùi trong tư duy xây dựng nhà nước pháp quyền.
Luật sư không phải là một hộ kinh doanh thông thường để chính quyền cấp xã, phường đến kiểm tra sổ sách hành chính. Trong hệ thống pháp luật, luật sư là một thiết chế của tư pháp, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý và hỗ trợ người dân trước quyền lực của Nhà nước.
Chính vì tính chất đặc thù đó, hoạt động của luật sư từ trước đến nay luôn được quản lý bởi các cơ quan và tổ chức có chuyên môn trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, bao gồm Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Đây đều là những chủ thể có hiểu biết chuyên môn sâu về nghề luật sư và cơ chế vận hành của hoạt động pháp lý.
Trong khi đó, UBND cấp xã chủ yếu là cơ quan quản lý hành chính ở cấp cơ sở theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Cơ quan này không được đào tạo chuyên môn để đánh giá các vấn đề mang tính nghề nghiệp của luật sư như hoạt động tranh tụng, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng hay nội dung tư vấn pháp lý.
Nếu giao cấp xã quyền kiểm tra luật sư, một câu hỏi hợp lý sẽ được đặt ra: Cán bộ xã sẽ kiểm tra điều gì? Họ có kiểm tra việc luật sư tranh tụng đúng hay sai trước tòa? Kiểm tra cách luật sư bào chữa trong một vụ án hình sự? Hay kiểm tra nội dung tư vấn pháp lý dành cho khách hàng? Rõ ràng, những nội dung này đều vượt xa chức năng và thẩm quyền chuyên môn của chính quyền cấp xã.
Nghiêm trọng hơn, quy định như vậy còn có thể tạo ra nguy cơ can thiệp hành chính vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Trong thực tiễn, luật sư nhiều khi phải bảo vệ người dân trong các tranh chấp với chính quyền, tham gia những vụ án nhạy cảm hoặc phản biện các quyết định của cơ quan nhà nước. Nếu chính quyền cấp xã có quyền kiểm tra luật sư, tính độc lập nghề nghiệp vốn là yếu tố cốt lõi của nghề luật sư liệu còn được bảo đảm?
Một nền tư pháp mạnh cần những luật sư độc lập. Một nhà nước pháp quyền đòi hỏi nghề luật sư không bị hành chính hóa.
Quản lý nghề luật sư là cần thiết, nhưng việc quản lý phải được thực hiện đúng cấp, đúng chuyên môn và đúng với bản chất của nghề nghiệp. Không thể vì mục tiêu thuận tiện trong quản lý mà biến luật sư một thiết chế bảo vệ công lý thành đối tượng kiểm tra hành chính của chính quyền cấp xã.
Nếu điều này xảy ra, đó không phải là sự tăng cường quản lý, mà là sự hạ thấp vị trí và vai trò của nghề luật sư trong hệ thống tư pháp.
Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU
Uỷ viên Thường vụ;
Chủ nhiệm Cơ quan Truyền thông
Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

