/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

16/01/2026 06:00 |

(LSVN) - Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh mẽ gắn với quá trình chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, số lượng và tính chất phức tạp của các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hoạt động giải quyết vụ án dân sự (VADS) tại Tòa án. Bài viết tập trung phân tích nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) Việt Nam hiện hành, đồng thời chỉ ra một số bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của đương sự.

Nghĩa vụ chứng minh của đương sự là một trong những yếu tố có tính quyết định đến hiệu quả và công bằng trong hoạt động giải quyết các VADS. Đây là nguyên tắc cơ bản của TTDS, thể hiện rõ vai trò chủ động của đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước Tòa. Thông qua việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh, đương sự không chỉ thể hiện tính tích cực, trách nhiệm trong việc cung cấp chứng cứ mà còn góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết VADS theo quy định của BLTTDS năm 2015 đã bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện và sửa đổi, bổ sung các quy định này là một nhu cầu tất yếu, khách quan.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

1. Thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết VSDS

1.1. Chủ thể thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết VADS

Đương sự trong VSDS bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tùy thuộc vào vị trí tố tụng và phạm vi yêu cầu của từng chủ thể, nghĩa vụ chứng minh được xác định với nội dung và mức độ khác nhau, cụ thể như sau:

Nguyên đơn là chủ thể trực tiếp khởi kiện hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng. Với vai trò là chủ thể khởi xướng tố tụng, nguyên đơn là người đầu tiên và chủ yếu thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Theo Điều 91 BLTTDS năm 2015, nguyên đơn có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp. Do các hành vi tố tụng của nguyên đơn như khởi kiện, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quá trình tố tụng, nên nguyên đơn phải chứng minh không chỉ cho yêu cầu khởi kiện mà còn để phản đối yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập hoặc ý kiến của các đương sự khác có lợi ích đối lập.

Bị đơn là chủ thể bị nguyên đơn hoặc chủ thể có thẩm quyền khởi kiện do bị cho rằng đã có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự. Mặc dù tham gia tố tụng với tư cách bị kiện, bị đơn có địa vị pháp lý bình đẳng với nguyên đơn. Về nguyên tắc, bị đơn không có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, trong trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố hoặc phản đối yêu cầu khởi kiện thì bị đơn phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình. Do đó, nghĩa vụ chứng minh của bị đơn mang tính phát sinh và giới hạn trong phạm vi yêu cầu phản tố hoặc nội dung phản đối.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chủ thể không khởi kiện và không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ. Họ có thể tham gia tố tụng theo đề nghị của mình, của đương sự khác hoặc theo quyết định của Tòa án trong trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án toàn diện, triệt để. Nghĩa vụ chứng minh của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xác định khác nhau tùy thuộc vào việc họ có đưa ra yêu cầu độc lập hay không. Trường hợp họ đưa ra yêu cầu độc lập thì họ phải tự chứng minh để bảo vệ yêu cầu đó và có vị trí tố tụng độc lập với nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác. Ngược lại, nếu không đưa ra yêu cầu độc lập thì họ không có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn, tuy nhiên họ có thể tham gia tố tụng nhằm bảo vệ lợi ích gắn với một bên cụ thể và thường có lập trường đối lập với bên còn lại.

1.2. Thời điểm phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết VSDS

Nghĩa vụ chứng minh của đương sự không phát sinh một cách tự thân ngay từ khi quan hệ pháp luật nội dung hình thành, mà chỉ được xác lập khi đương sự chủ động thực hiện các quyền tố tụng nhất định trước Tòa án, qua đó kích hoạt cơ chế tố tụng.

- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ chứng minh

Nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn phát sinh sớm nhất so với các nhóm đương sự khác và hình thành ngay từ thời điểm nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện. Việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn không phụ thuộc vào việc bị đơn có phản đối hay không, mà gắn trực tiếp với việc nguyên đơn chủ động kích hoạt cơ chế tố tụng thông qua quyền khởi kiện. Theo khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định “kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm”. Sau khi đơn khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, Tòa án sẽ ra thông báo thụ lý vụ án, kể từ thời điểm đó nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ chứng minh xuyên suốt trong quá trình giải quyết VADS.

Nghĩa vụ chứng minh của bị đơn không phát sinh một cách tự động khi vụ án được Tòa án thụ lý, mà chỉ phát sinh khi bị đơn thực hiện quyền phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc đưa ra yêu cầu phản tố. Nói cách khác, nghĩa vụ chứng minh của bị đơn không phát sinh đồng thời với nguyên đơn, mà chỉ phát sinh khi bị đơn nhận được thông báo thụ lý vụ án và có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc đưa ra yêu cầu phản tố. Trong trường hợp bị đơn chỉ tham gia tố tụng với thái độ thụ động và không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, thì họ không phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh đối với các tình tiết mà nguyên đơn đã chứng minh được. Ngược lại, khi bị đơn phản bác yêu cầu của nguyên đơn hoặc đưa ra yêu cầu phản tố, nghĩa vụ chứng minh của bị đơn phát sinh tương ứng với phạm vi phản bác hoặc phản tố đó.

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ chứng minh của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phụ thuộc vào tư cách và mức độ tham gia tố tụng của chủ thể này. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS năm 2015, sau khi vụ án được thụ lý theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án thông báo về việc thụ lý cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS. Trong trường hợp họ không có yêu cầu độc lập và không phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn thì họ không phát sinh nghĩa vụ chứng minh. Trường hợp họ có yêu cầu độc lập thì yêu cầu này phải thể hiện bằng văn bản để nộp cho Tòa án và kèm theo đó là tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu độc lập đó, tuy nhiên yêu cầu này phải được đưa ra trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

- Thời điểm chấm dứt nghĩa vụ chứng minh

Về nguyên tắc, nghĩa vụ chứng minh của đương sự chấm dứt khi có bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn tố tụng, phạm vi và mức độ thực hiện nghĩa vụ chứng minh có thể khác nhau.

Nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn chấm dứt khi căn cứ phát sinh nghĩa vụ này không còn tồn tại. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 217 BLTTDS năm 2015, nguyên đơn không còn phải chứng minh các tình tiết làm căn cứ cho yêu cầu đã rút bởi quan hệ tranh chấp không còn được đặt ra để Tòa án giải quyết. Trường hợp nguyên đơn chỉ rút một phần yêu cầu khởi kiện, nghĩa vụ chứng minh chỉ chấm dứt đối với phần yêu cầu đã rút, phần yêu cầu còn lại vẫn được Tòa án giải quyết, nguyên đơn vẫn phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho đến khi có phán quyết cuối cùng. Trường hợp vụ án được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn cũng chấm dứt do từ thời điểm này, kết quả giải quyết vụ án đã được xác lập và không còn là đối tượng của hoạt động chứng minh.

Tương tự, nghĩa vụ chứng minh của bị đơn chấm dứt khi phạm vi phản đối hoặc yêu cầu phản tố của bị đơn không còn là đối tượng xem xét của Tòa án. Cụ thể, trong trường hợp bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố hoặc không tiếp tục duy trì ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn và được Tòa án chấp nhận, thì nghĩa vụ chứng minh tương ứng của bị đơn chấm dứt. Ngoài ra, khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và vụ án bị đình chỉ theo Điều 217 BLTTDS năm 2015, bị đơn cũng không còn nghĩa vụ chứng minh, do không còn yêu cầu pháp lý nào được đặt ra để họ phải phản bác. Ngoài ra, nghĩa vụ chứng minh của bị đơn cũng chấm dứt khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, do kết quả giải quyết vụ án đã được xác lập và không còn cần đến hoạt động chứng minh trong khuôn khổ vụ án đó.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thời điểm chấm dứt nghĩa vụ chứng minh phụ thuộc chặt chẽ vào tư cách tố tụng cụ thể và phạm vi tham gia tố tụng của chủ thể này. Trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, nghĩa vụ chứng minh của họ chấm dứt khi yêu cầu độc lập đó được rút và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu này, hoặc khi bản án, quyết định giải quyết yêu cầu độc lập có hiệu lực pháp luật. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà chỉ tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của mình thì nghĩa vụ chứng minh sẽ chấm dứt khi ý kiến phản đối đó không còn được xem xét, hoặc khi vụ án được giải quyết dứt điểm bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

1.3. Hậu quả pháp lý khi đương sự không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh

Khoản 4 Điều 91 BLTTDS năm 2015 quy định trong trường hợp đương sự không đưa ra được chứng cứ hoặc không cung cấp đầy đủ chứng cứ để thực hiện nghĩa vụ chứng minh, Tòa án sẽ giải quyết vụ việc dân sự trên cơ sở các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp và có trong hồ sơ vụ án.

Đối với nguyên đơn: Tại giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án, đương sự không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh thì hậu quả pháp lý bất lợi mà đương sự phải chịu đó là chưa được Toà án thụ lý giải quyết. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Việc pháp luật quy định khi khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ cần thiết ban đầu giúp cho Toà án có cơ sở để xem xét, thụ lý vụ án. Trong giai đoạn này, người khởi kiện không có nghĩa vụ phải giao nộp cho Toà án toàn bộ các tài liệu chứng cứ mà đương sự đó đang có mà họ chỉ phải bắt buộc cung cấp cho Toà án các tài liệu chứng cứ để chứng minh họ có quyền khởi kiện với người bị kiện về quan hệ pháp luật tranh chấp. Nếu người khởi kiện không cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ bắt buộc ban đầu kèm theo đơn khởi kiện thì chưa có cơ sở để chứng minh đương sự có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp nên Toà án chưa thụ lý.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử, nếu nguyên đơn không chứng minh được căn cứ của yêu cầu khởi kiện hoặc không bổ sung đầy đủ chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì hậu quả pháp lý trực tiếp là yêu cầu khởi kiện có thể bị Tòa án bác toàn bộ hoặc một phần đơn khởi kiện. Việc bác đơn khởi kiện trong trường hợp này không xuất phát từ việc Tòa án xác định yêu cầu của nguyên đơn là trái pháp luật, mà do nguyên đơn không làm rõ được các tình tiết, sự kiện làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Đồng thời, nguyên đơn còn phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí. Như vậy, nguyên đơn không chỉ đối mặt với nguy cơ không được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp mà còn phải gánh chịu nghĩa vụ tài chính tương ứng với phần yêu cầu không được chấp nhận.

Đối với bị đơn: Hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh thể hiện chủ yếu trong trường hợp bị đơn có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc có yêu cầu phản tố. Khi bị đơn không cung cấp được hoặc không cung cấp đủ chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối hoặc yêu cầu phản tố của mình, Tòa án có thể không chấp nhận các phản đối hoặc yêu cầu đó và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong phạm vi đã được chứng minh. Không những vậy, bị đơn còn có thể phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập nhưng không cung cấp được chứng cứ, không cung cấp đủ chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu độc lập của mình, Tòa án có thể không chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập với hậu quả pháp lý tương tự như nguyên đơn. Đồng thời, chủ thể này cũng phải gánh chịu án phí tương ứng vơi phần yêu cầu không được chấp nhận. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập mà chỉ tham gia tố tụng với tư cách phụ thuộc, họ chỉ có nghĩa vụ chứng minh trong phạm vi các ý kiến phản đối mà mình nêu ra; do đó, nếu không cung cấp hoặc không cung cấp đủ chứng cứ, các ý kiến phản đối này sẽ không được Tòa án xem xét hoặc chấp nhận khi giải quyết vụ án và không làm phát sinh các hậu quả pháp lý bất lợi khác ngoài phạm vi tham gia tố tụng của họ.

1.4. Nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm

- Khởi kiện và thụ lý VSDS:

Để Tòa án thụ lý và giải quyết VSDS, nguyên đơn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện theo luật định bao gồm điều kiện về chủ thể có quyền khởi kiện, thẩm quyền của Tòa án và việc vụ việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, pháp luật TTDS còn đặt ra yêu cầu về nghĩa vụ chứng minh ngay từ thời điểm nộp đơn khởi kiện, theo đó nguyên đơn có nghĩa vụ gửi kèm theo các tài liệu, chứng cứ để bước đầu chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Trường hợp vì nguyên nhân khách quan mà chưa thể cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ, nguyên đơn vẫn phải nộp những tài liệu, chứng cứ hiện có. Nếu không thể xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào, họ phải lập văn bản nêu rõ lý do và đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật. Khi xét thấy lý do là chính đáng, Tòa án vẫn tiến hành thụ lý và thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015[2]. Quy định này vừa bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự, vừa làm rõ bản chất nghĩa vụ chứng minh ở giai đoạn khởi phát tố tụng mới chỉ là nghĩa vụ chứng minh ở mức độ ban đầu.

Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý chưa phát sinh đầy đủ. Theo BLTTDS năm 2015, kể từ khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, trong thời hạn 15 ngày, các chủ thể này phải gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan; nếu có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì cũng phải trình bày trong thời hạn này. Nghĩa vụ chứng minh của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì vậy mang tính tương đối, phụ thuộc vào nội dung ý kiến họ đưa ra. Nếu chỉ trình bày quan điểm mang tính giải thích, chưa trực tiếp phản bác yêu cầu khởi kiện, thì nghĩa vụ chứng minh chưa thực sự phát sinh. Ngược lại, khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, thì nghĩa vụ chứng minh được xác lập đầy đủ và độc lập, tương tự như đối với nguyên đơn.

- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm:

Nghĩa vụ chứng minh của đương sự được thể hiện đầy đủ và toàn diện nhất, giữ vai trò quan trọng trong việc giúp Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm giải quyết nhanh chóng, chính xác và công bằng.

Sau khi thụ lý vụ án, đương sự có trách nhiệm tiếp tục cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình. Khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 trao cho Thẩm phán quyền ấn định thời hạn giao nộp chứng cứ, đồng thời giới hạn thời điểm này không vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Quy định này tăng cường tính chủ động, trách nhiệm của đương sự và bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án.

Để bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ, khoản 5 Điều 96 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự khi nộp chứng cứ cho Tòa án phải sao gửi cho đương sự khác hoặc thông báo bằng văn bản nếu không thể sao gửi. Quy định này tạo điều kiện cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nắm bắt nội dung yêu cầu và chứng cứ kèm theo để thực hiện quyền phản tố hoặc yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, trên thực tế, việc ghi chép, sao chụp tài liệu còn gặp khó khăn do hạn chế về nhận thức pháp lý của đương sự và sự hướng dẫn chưa đầy đủ của một số Thẩm phán.

Khoản 1 Điều 97 BLTTDS năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận tương đối đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự, gồm: thu thập tài liệu nghe, nhìn, đọc được; thông điệp dữ liệu điện tử; vật chứng; xác định và lấy xác nhận của người làm chứng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đang quản lý, lưu giữ; và yêu cầu UBND cấp xã chứng thực chữ ký người làm chứng. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để đương sự chủ động thu thập chứng cứ và bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ được giao nộp.

Điều 70 và khoản 1 Điều 106 BLTTDS năm 2015 cũng quy định đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 15 ngày; nếu không cung cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp đương sự không nhận được phản hồi, bị từ chối hoặc cung cấp tài liệu không đầy đủ, không đúng thời hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Chính vì vậy, pháp luật TTDS cho phép đương sự đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án ban hành quyết định buộc chủ thể liên quan cung cấp tài liệu (khoản 7 Điều 70 BLTTDS năm 2015). Các chủ thể này phải cung cấp trong 15 ngày kể từ khi nhận yêu cầu của Tòa án. Tuy nhiên, cơ chế bảo đảm thực hiện còn hạn chế. Điều 495 BLTTDS năm 2015 và Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 chỉ tập trung quy định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, trong khi vẫn bỏ ngỏ trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý đối với hành vi không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc cung cấp không đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu hợp pháp của đương sự. Trong nhiều VADS, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ thường né tránh hoặc trì hoãn việc cung cấp với lý do đây không phải là yêu cầu trực tiếp từ Tòa án, dẫn đến việc đương sự không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Trong khi đó, mức xử phạt vi phạm hành chính hiện hành đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng còn rất thấp, chỉ từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức, chưa đủ sức răn đe [3]; đồng thời, pháp luật cũng chưa đặt ra khả năng xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng, có tính chất cố ý gây cản trở việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự.

- Xét xử sơ thẩm VSDS:

Tại phiên tòa sơ thẩm, nghĩa vụ chứng minh của đương sự được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc xét xử trực tiếp và tranh tụng tại phiên tòa. Đương sự không chỉ xuất trình chứng cứ mà còn phải trình bày, phân tích, lập luận để làm rõ giá trị chứng minh của chứng cứ do mình cung cấp, đồng thời phản bác chứng cứ và lập luận của phía đối lập. Theo khoản 1 Điều 247 BLTTDS năm 2015, tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc các bên trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp và tranh luận về các tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết các yêu cầu của đương sự. Các đương sự lần lượt trình bày yêu cầu, ý kiến, đề nghị và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình theo địa vị tố tụng, bắt đầu từ nguyên đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, tiếp theo là bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau cùng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

So với giai đoạn chuẩn bị xét xử, nghĩa vụ chứng minh tại phiên toaf của đương sự chủ yếu thể hiện ở nghĩa vụ thuyết phục thông qua hoạt động trình bày, lập luận và đối đáp, trong khi nghĩa vụ giao nộp chứng cứ bị giới hạn nhất định. Khoản 3 Điều 221 BLTTDS năm 2015 cho phép đương sự có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình. Tuy nhiên, khi đặt trong mối liên hệ với khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015, có thể hiểu rằng các chứng cứ được giao nộp tại phiên tòa chỉ được Tòa án chấp nhận trong trường hợp đương sự chứng minh được việc không thể giao nộp các chứng cứ đó tại phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là do có lý do chính đáng. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể làm rõ các tiêu chí để Tòa án xác định thế nào là “lý do chính đáng” của đương sự. Việc quy định theo hướng mở này, một mặt tạo điều kiện để Thẩm phán linh hoạt trong việc đánh giá tính chính đáng của việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh không đúng thời hạn; mặt khác, sự thiếu vắng các tiêu chí cụ thể đã dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án, qua đó có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả giải quyết vụ án.

Khoản 1 Điều 225 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án phải trực tiếp xác định các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và các đương sự khác. Trên cơ sở đó, nguyên đơn có trách nhiệm đưa ra chứng cứ, lý lẽ và lập luận nhằm chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Ngược lại, khi phản đối toàn bộ hoặc một phần yêu cầu khởi kiện, bị đơn cũng phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 BLTTDS năm 2015, theo đó đương sự phản đối yêu cầu của người khác phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ. Việc thực hiện nghĩa vụ này đòi hỏi bị đơn phải đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm làm rõ cơ sở của việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, qua đó thuyết phục Tòa án rằng mình không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Trên cơ sở đó, Tòa án mới có đủ căn cứ pháp lý để xem xét và quyết định có chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu.

Bản án sơ thẩm được ban hành trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa và việc đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Việc đương sự chủ động, kịp thời thực hiện nghĩa vụ chứng minh tại phiên tòa có ý nghĩa quyết định đối với khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Trường hợp đương sự không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh, Tòa án chỉ có thể giải quyết vụ án trên cơ sở các chứng cứ hiện có, làm gia tăng nguy cơ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảo đảm đầy đủ.

Thực tiễn xét xử cho thấy việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm vẫn còn tồn tại một số hạn chế như việc giao nộp, bổ sung chứng cứ tại phiên tòa chưa được áp dụng thống nhất do thiếu tiêu chí cụ thể xác định “lý do chính đáng”; khả năng tranh tụng và lập luận của một bộ phận đương sự còn hạn chế; vai trò hướng dẫn, điều hành tranh tụng của Thẩm phán trong một số trường hợp chưa thực sự phát huy hiệu quả gây ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự và chất lượng bản án sơ thẩm, làm phát sinh kháng cáo, kháng nghị kéo dài thời gian giải quyết VADS.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTDS năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong giải quyết VADS

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Điều 91 BLTTDS theo hướng: (i) quy định rõ nghĩa vụ chứng minh bao gồm cả nghĩa vụ chủ động thu thập, cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ giải trình, lập luận để chứng minh mối liên hệ giữa chứng cứ với yêu cầu hoặc sự phản đối của mình; (ii) phân định tương đối phạm vi nghĩa vụ chứng minh của từng nhóm đương sự, có thể được thể hiện trực tiếp trong điều luật hoặc thông qua văn bản hướng dẫn áp dụng, điều khoản dẫn chiếu rõ ràng.

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về tiếp cận chứng cứ nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các đương sự thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh trong các giai đoạn tố tụng. Cụ thể như sau:

Sửa đổi khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 theo hướng quy định rõ thời điểm cuối cùng để giao nộp chứng cứ, gắn thời hạn này với phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cụ thể như sau: “Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định, nhưng không được vượt quá thời điểm diễn ra phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.

Bổ sung khoản 5 Điều 96 BLTTDS năm 2015 theo hướng: “Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải thực hiện ngay việc sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải gửi ngay thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác.

Bổ sung khoản 1 Điều 106 BLTTDS theo hướng quy định rõ nghĩa vụ pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu hợp pháp của đương sự, theo đó: “Khi nhận được yêu cầu hợp lệ của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phải cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu và chỉ gia hạn 1 lần duy nhất nếu có lý do chính đáng; trường hợp không thể cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do”. Ngoài ra, về trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức thì pháp luật nên quy định rõ trách nhiệm cho người đứng đầu, cơ quan tổ chức trong trường hợp vi phạm các quy định về cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự. Theo đó, trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ chứng cứ hoặc quản lý chứng cứ từ chối cung cấp chứng cứ mà không có lý do chính đáng; cung cấp không đầy đủ, kịp thời; cung cấp tài liệu, chứng cứ không chính xác theo yêu cầu của đương sự thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật như phạt cảnh cáo, phạt tiền, cưỡng chế thi hành, xử lý kỷ luật hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, nghiên cứu tăng mức xử phạt vi phạm hành chính và bổ sung truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án.

Thứ ba, cần quy định rõ hậu quả pháp lý đối với trường hợp đương sự không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh. Theo đó bổ sung khoản 4 Điều 91 BLTTDS năm 2015 theo hướng quy định rõ tiêu chí để Tòa án đánh giá mức độ thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự, bao gồm: mức độ chủ động trong việc thu thập, giao nộp chứng cứ; việc thực hiện yêu cầu của Tòa án về cung cấp chứng cứ; và các biện pháp hợp lý mà đương sự đã áp dụng để tiếp cận nguồn chứng cứ. Trên cơ sở các tiêu chí này, cho phép Tòa án linh hoạt áp dụng hậu quả pháp lý bất lợi đối với trường hợp đương sự thiếu thiện chí hoặc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, đồng thời không áp dụng hoặc giảm nhẹ hậu quả pháp lý đối với trường hợp đương sự chứng minh được rằng họ đã thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể thu thập chứng cứ do trở ngại khách quan. Việc hoàn thiện theo hướng này sẽ góp phần bảo đảm nghĩa vụ chứng minh của đương sự được thực hiện hiệu quả, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp trong TTDS hiện nay.

Nhìn chung, các quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự đã được quy định tại BLTTDS năm 2015 đã và đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn thực hiện khi giải quyết VADS, song vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập nhất định. Hơn nữa, các quan hệ kinh tế xã hội ngày càng phức tạp đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế số, đòi hỏi việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định liên quan đến nghĩa vụ chứng minh của đương sự là rất cần thiết.

[1]. Bài viết này được trích lọc từ đề tài nghiên cứu luận văn “Nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong quá trình giải quyết VSDS” của HVCH Bùi Thị Thương (Trường Đại học Luật Hà Nội) và được chỉnh lý, bổ sung cho phù hợp với khuôn khổ tạp chí.

[2] Mục 5. IV Giải đáp số 01/2016/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân Tối cao giải đáp một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, TTDS.

[3] Điều 18 Pháp lệnh số: 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.

BÙI THỊ THƯƠNG