Thực tiễn gần đây xuất hiện tình trạng một số tổ chức hành nghề luật sư (TCHNLS) ký văn bản mang tên “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc” với luật sư, rồi từ tên gọi đó suy ra rằng quan hệ giữa hai bên không phải là quan hệ lao động và không làm phát sinh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc. Cách lập luận này cần được kiểm tra đồng thời dưới nhiều lớp quy phạm: pháp luật luật sư, pháp luật lao động, pháp luật BHXH, pháp luật dân sự, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật thuế và pháp luật hình sự. Điểm then chốt không nằm ở tên hợp đồng, mà nằm ở bản chất pháp lý của quan hệ: luật sư có làm việc có trả công, chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của tổ chức hay không; và quan hệ ấy có rơi vào một hình thức hành nghề được pháp luật luật sư thừa nhận hay không. Sau Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP và theo định hướng của Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026, điều kiện 2 năm hành nghề liên tục để thành lập TCHNLS không còn. Tuy nhiên, việc cắt giảm điều kiện đó không làm phát sinh một hình thức hành nghề độc lập mang tên “cộng tác”.
1. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn hành nghề, không hiếm trường hợp TCHNLS và một luật sư ký với nhau văn bản mang tên “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc” hoặc một tên gọi dân sự tương tự. Cách đặt tên ấy thường được biện minh bằng hai lý do: một là bảo đảm “tính linh hoạt” trong quản trị nhân sự; hai là vì “pháp luật không cấm”. Từ đó, một số chủ thể đi xa hơn, cho rằng chỉ cần hợp đồng không mang tên “hợp đồng lao động” (HĐLĐ) thì TCHNLS không phải đóng BHXH bắt buộc cho luật sư.
Lập luận đó có vẻ đơn giản, nhưng lại bỏ qua trật tự điều chỉnh của pháp luật. Pháp luật dân sự có thể thừa nhận quyền tự do thỏa thuận; pháp luật doanh nghiệp có thể thừa nhận quyền tự chủ trong tổ chức, quản trị và thuê mướn nhân sự; nhưng nghề luật sư là nghề có điều kiện, chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành, đồng thời chịu sự kiểm soát của pháp luật lao động và pháp luật BHXH khi quan hệ thực tế mang bản chất lao động. Vì vậy, câu hỏi pháp lý chính xác không phải là “các bên đặt tên hợp đồng là gì”, mà là: pháp luật có thừa nhận một hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với TCHNLS” hay không; và nếu quan hệ thực tế có đủ dấu hiệu của quan hệ lao động thì tên gọi “cộng tác” có đủ sức loại trừ nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc hay không.
Bài viết này tiếp cận vấn đề theo hướng bình luận khoa học pháp lý: không đọc từng điều luật một cách biệt lập, mà đặt các quy phạm liên quan trong cùng một hệ thống. Luật Luật sư trả lời câu hỏi luật sư được hành nghề theo những hình thức nào; Bộ luật Lao động năm 2019 trả lời khi nào một quan hệ được coi là HĐLĐ bất chấp tên gọi; Luật BHXH năm 2024 nối bản chất quan hệ lao động với nghĩa vụ BHXH bắt buộc; Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định ranh giới của quyền tự do thỏa thuận; Luật Doanh nghiệp năm 2020 xác định giới hạn của quyền tự chủ kinh doanh; còn pháp luật thuế và pháp luật hình sự đặt ra hệ quả tiếp theo nếu việc đặt tên hợp đồng được dùng như một kỹ thuật che giấu bản chất quan hệ.
Điểm cần cập nhật so với cách tiếp cận trước đây là: Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP của Chính phủ đã cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính và quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó có lĩnh vực luật sư thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Sự bãi bỏ điều kiện 2 năm hành nghề liên tục đối với luật sư khi thành lập tổ chức hành nghề đã làm thay đổi nền tảng biện luận; do đó, tiêu chí này không còn được tác giả sử dụng làm “phép thử” định hướng trong cấu trúc của bài bình luận này. Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 cũng đi theo hướng mở rộng, sắp xếp lại các hình thức, trạng thái hành nghề. Tuy nhiên, sự cắt giảm và mở rộng đó không đồng nghĩa với việc pháp luật thừa nhận “cộng tác” là một hình thức hành nghề mới.

Ảnh minh họa.
2. Cập nhật bối cảnh pháp lý: Nghị quyết đã có hiệu lực và dự thảo chưa phải quy phạm
Trước hết phải tách bạch hai tầng pháp lý. Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP là văn bản đã được ban hành, có hiệu lực trong khoảng thời gian xác định, dùng để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Với nhóm thủ tục thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, phụ lục kèm theo Nghị quyết đã điều chỉnh nhiều nội dung trong lĩnh vực luật sư, bao gồm hồ sơ, trình tự, thời hạn thực hiện một số thủ tục về TCHNLS, chi nhánh và đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân.
Trong phạm vi bài viết này, tác động của Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP được xác định là điểm mốc then chốt để định hình trục lập luận. Khi điều kiện “ít nhất 2 năm hành nghề liên tục” đã chính thức được dỡ bỏ theo chủ trương nới lỏng rào cản pháp lý, việc không lấy tiêu chí này làm trọng tâm bác bỏ mô hình “cộng tác” là một sự lựa chọn phương pháp luận cần thiết để đảm bảo tính thời sự. Thay vì dựa trên những chỉ dấu bổ trợ đã thay đổi, bài viết tập trung xuyên thấu vào bản chất của các quy phạm chuyên ngành hiện hành, từ đó xác lập một tiền đề vững chắc và tránh được những rủi ro phản biện về mặt cập nhật chính sách.
Ngược lại, Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 chưa phải văn bản quy phạm pháp luật. Nó không thể được viện dẫn như căn cứ trực tiếp để xác lập quyền, nghĩa vụ hiện hành của TCHNLS hoặc của luật sư. Giá trị của dự thảo, trong bài bình luận này, nằm ở chỗ cho thấy “định hướng” lập pháp là: Nhà làm luật có thể mở rộng, tái cấu trúc các hình thức, trạng thái hành nghề; có thể bổ sung nhóm luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước hoặc pháp chế doanh nghiệp nhà nước; có thể điều chỉnh cơ chế Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư, gia hạn hoặc cấp lại. Nhưng dù theo định hướng dự thảo, cấu trúc điều chỉnh vẫn là cấu trúc do luật định, không phải cấu trúc do các bên tự đặt tên hợp đồng để tạo ra.
Vì vậy, bài viết này sử dụng Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP như căn cứ cập nhật có hiệu lực để loại bỏ lập luận về điều kiện 2 năm; đồng thời sử dụng Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 như tài liệu đối chiếu xu hướng, không dùng như căn cứ quy phạm trực tiếp.
3. Luật Luật sư thiết kế cấu trúc hành nghề khép kín, không dành chỗ cho một hình thức mang tên “cộng tác”
Theo Luật Luật sư hiện hành, luật sư được hành nghề trong TCHNLS hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo điều kiện luật định. Trong hình thức hành nghề trong TCHNLS, luật sư hoặc là người thành lập, tham gia thành lập tổ chức, hoặc làm việc theo HĐLĐ cho tổ chức. Trong hình thức hành nghề với tư cách cá nhân, luật sư cũng không ở trong trạng thái “tự do tuyệt đối”, mà phải đăng ký hành nghề và phải gắn với cơ chế quản lý nhất định theo Luật Luật sư.
Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 cho thấy định hướng làm rõ luật sư chỉ được lựa chọn trong các hình thức hành nghề do luật quy định, bao gồm việc thành lập hoặc tham gia thành lập TCHNLS, làm việc theo HĐLĐ cho TCHNLS, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Dự thảo cũng có xu hướng bổ sung nhóm quy định về luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước, pháp chế doanh nghiệp nhà nước. Dù cách đếm số lượng hình thức thay đổi so với Luật hiện hành, bản chất pháp lý không thay đổi: hình thức hành nghề của luật sư là vấn đề do luật định, không phải do nhãn gọi hợp đồng dân sự tự tạo ra.
Trước những biến chuyển trong định hướng sửa đổi Luật Luật sư năm 2026, việc nhận diện các hình thức hành nghề cần được đặt trong một cấu trúc pháp lý khép kín và có tính bao quát cao hơn. Ở góc độ này, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc liệt kê số lượng các hình thức do luật định, mà là sự khẳng định rằng trong hệ thống pháp luật chuyên ngành hoàn toàn không tồn tại một hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với tổ chức hành nghề luật sư”.
Nói cách khác, nếu một luật sư làm việc thường xuyên trong TCHNLS, chịu sự phân công, quản lý, điều hành, giám sát của TCHNLS, sử dụng thương hiệu, khách hàng, cơ sở vật chất, quy trình nghiệp vụ của TCHNLS và nhận thù lao, tiền công hoặc khoản chi trả định kỳ từ TCHNLS, thì không thể chỉ bằng tên gọi “cộng tác” mà đặt luật sư ấy ra ngoài cấu trúc hành nghề do pháp luật luật sư thiết kế. Hoặc quan hệ đó phải được nhìn nhận đúng là quan hệ lao động; hoặc nếu nó chỉ là quan hệ dân sự thuần túy, nó không thể tự nâng cấp thành một hình thức hành nghề luật sư hợp pháp trong TCHNLS.
4. Có thể có hợp đồng dân sự mang tên “cộng tác”, nhưng không thể từ đó suy ra một hình thức hành nghề luật sư mới
Cần công bằng ở điểm này: Luật Luật sư không viết một điều khoản theo kiểu “TCHNLS bị cấm ký hợp đồng cộng tác với cá nhân”. Một TCHNLS vẫn có thể ký các hợp đồng dân sự, thương mại, dịch vụ, hợp tác hoặc cộng tác viên với cá nhân, tổ chức khác để thực hiện các công việc phụ trợ nhất định, miễn nội dung, mục đích và cách thực hiện không trái luật, không vi phạm đạo đức nghề nghiệp và không làm phát sinh một trạng thái hành nghề giả tạo.
Nhưng từ khả năng tồn tại của một hợp đồng dân sự không thể suy ra khả năng tồn tại của một hình thức hành nghề luật sư mới. Đây là điểm mà thực tiễn thường nhầm lẫn. Một hợp đồng dân sự có thể hợp lệ ở tầng giao dịch dân sự, nhưng vẫn không đủ để xác lập địa vị “luật sư làm việc trong TCHNLS” nếu quan hệ ấy không rơi vào hình thức hành nghề do Luật Luật sư thừa nhận. Tương tự, một người có Thẻ luật sư không làm cho mọi hợp đồng người đó ký với TCHNLS đương nhiên trở thành hợp đồng hành nghề hợp pháp.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng. Nếu cá nhân không hành nghề luật sư trong quan hệ đó, mà chỉ cung cấp một dịch vụ phụ trợ độc lập, thí dụ dịch thuật, nghiên cứu thị trường, thiết kế truyền thông, hỗ trợ công nghệ, thì hợp đồng dân sự có thể được đánh giá theo pháp luật dân sự, thương mại, thuế. Nhưng nếu cá nhân đó là luật sư và thực tế được đưa vào bộ máy chuyên môn của TCHNLS để xử lý vụ việc pháp lý, gặp khách hàng, soạn thảo hồ sơ, tham gia tư vấn, tranh tụng, chịu sự điều hành của TCHNLS, thì việc gọi hợp đồng là “cộng tác” không thể làm thay đổi bản chất của quan hệ.
Vì vậy, câu trả lời không nên cực đoan theo hướng “mọi hợp đồng cộng tác đều vô hiệu” hoặc “TCHNLS tuyệt đối không được ký hợp đồng có tên cộng tác”. Câu trả lời đúng hơn là: hợp đồng dân sự có thể tồn tại, nhưng nó không thể được dùng để thay thế HĐLĐ khi quan hệ có bản chất lao động, và càng không thể được dùng để tạo ra một hình thức hành nghề luật sư độc lập nằm ngoài Luật Luật sư.
5. Bộ luật Dân sự bảo vệ tự do thỏa thuận, nhưng không bảo vệ sự ngụy trang bản chất quan hệ
Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; đồng thời quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và trường hợp giao dịch vô hiệu khi mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Như vậy, quyền tự do hợp đồng là nguyên tắc nền tảng, nhưng không phải quyền năng vô hạn để các chủ thể tự vô hiệu hóa những quy phạm bắt buộc của luật chuyên ngành, luật lao động và luật BHXH.
Trong lĩnh vực đang bàn, pháp luật dân sự không cấm các bên lựa chọn tên gọi “hợp đồng cộng tác”. Nhưng pháp luật dân sự cũng không trao cho các bên quyền dùng tên gọi đó để thay đổi bản chất pháp lý của quan hệ. Nếu một quan hệ thực tế là quan hệ lao động, thì không thể dùng nhãn dân sự để làm mất nghĩa vụ HĐLĐ, nghĩa vụ tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các nghĩa vụ khác theo luật.
Điểm đáng lưu ý là trong quan hệ giữa TCHNLS và luật sư, việc ngụy trang bằng hợp đồng dân sự còn nguy hiểm hơn quan hệ lao động thông thường. Bởi luật sư không chỉ là người lao động có chuyên môn; luật sư còn là chủ thể hành nghề có điều kiện, chịu quản lý của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Một mô hình hợp đồng cố tình đặt luật sư vào vùng xám: không phải người lao động để khỏi đóng BHXH, nhưng vẫn được sử dụng như luật sư của TCHNLS để khai thác dịch vụ pháp lý, là mô hình có rủi ro pháp lý kép.
6. Bộ luật Lao động và Luật BHXH nhìn vào bản chất, không nhìn vào nhãn dán của hợp đồng
Điểm xuyên thấu quan trọng nhất nằm ở Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. Điều luật này xác định HĐLĐ là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Đặc biệt, trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là HĐLĐ.
Quy phạm này phá vỡ trực tiếp kỹ thuật “đổi tên hợp đồng”. Tên gọi “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc” chỉ là lớp vỏ. Cơ quan có thẩm quyền sẽ phải nhìn vào ba yếu tố cốt lõi: có việc làm; có trả công, tiền lương hoặc thù lao mang bản chất tiền công; và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên đối với bên còn lại.
Áp dụng vào quan hệ giữa TCHNLS và luật sư, nếu luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức; chịu phân công hồ sơ; phải báo cáo tiến độ; chịu đánh giá kết quả; làm việc tại trụ sở hoặc theo lịch do tổ chức bố trí; nhận khoản chi trả định kỳ hoặc chi trả theo vụ việc nhưng phụ thuộc vào sự giao việc, nghiệm thu của tổ chức; chịu nội quy, quy chế, kỷ luật nội bộ; sử dụng thương hiệu, cơ sở vật chất, khách hàng và bộ máy hỗ trợ của tổ chức, thì tên gọi “cộng tác” không còn có ý nghĩa quyết định. Quan hệ ấy có cơ sở bị xác định lại là HĐLĐ.
Từ Bộ luật Lao động, nghĩa vụ BHXH được nối tiếp bởi Luật BHXH năm 2024. Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; luật cũng đã tính đến trường hợp các bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Luật BHXH năm 2024 đồng thời nghiêm cấm hành vi chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc.
Vì vậy, nếu TCHNLS dùng hợp đồng “cộng tác” để sử dụng luật sư như người lao động thường xuyên nhưng không tham gia BHXH bắt buộc, thì rủi ro pháp lý không nằm ở tên hợp đồng mà nằm ở chính cách tổ chức vận hành quan hệ. Một khi các dấu hiệu của quan hệ lao động được chứng minh, nghĩa vụ BHXH phát sinh theo bản chất quan hệ, chứ không theo tiêu đề của văn bản.
7. Việc bãi bỏ điều kiện 2 năm không làm hợp pháp hóa mô hình “cộng tác”
Với việc Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP chính thức bãi bỏ điều kiện luật sư phải có ít nhất 2 năm hành nghề liên tục khi thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề, cuộc tranh luận pháp lý hiện nay không còn xoay quanh việc thời gian “cộng tác” có được tính vào thâm niên hành nghề hay không. Thay vào đó, vấn đề cốt lõi cần xuyên thấu chính là: bản thân mô hình “cộng tác” này có được hệ thống pháp luật công nhận như một hình thức hành nghề độc lập, hay chỉ là công cụ lẩn tránh quan hệ lao động?
Tuy nhiên, việc bỏ điều kiện 2 năm chỉ gỡ một rào cản gia nhập thị trường dịch vụ pháp lý; nó không tạo ra một trạng thái hành nghề mới. Đây là điểm phải tách bạch. Cắt giảm điều kiện kinh doanh nhằm tạo thuận lợi cho luật sư thành lập, tham gia thành lập TCHNLS không có nghĩa là mọi quan hệ “cộng tác” giữa luật sư và TCHNLS đều được hợp pháp hóa thành quan hệ hành nghề. Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP không đặt ra một hình thức hành nghề độc lập mang tên “cộng tác”, cũng không loại trừ Điều 13 Bộ luật Lao động và Điều 2 Luật BHXH năm 2024.
Do đó, trục lập luận đúng không phải là “hợp đồng cộng tác không được tính vào điều kiện 2 năm”, mà là: pháp luật luật sư chỉ công nhận các hình thức hành nghề do luật định; pháp luật lao động và BHXH xác định nghĩa vụ theo bản chất quan hệ; còn Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP chỉ cắt giảm điều kiện, thành phần hồ sơ, thời hạn và cách thức thực hiện một số thủ tục hành chính, không trao cho các bên quyền biến quan hệ lao động thành quan hệ dân sự bằng tên gọi hợp đồng.
8. Nới rộng hành nghề với tư cách cá nhân không đồng nghĩa với tự do “cộng tác” ngoài luật
Một điểm cũng cần cập nhật là định hướng dự thảo sửa đổi Luật Luật sư có xu hướng nới rộng một số giới hạn đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Đáng chú ý, dự thảo có hướng ghi nhận trường hợp luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc tại Trung tâm tư vấn pháp luật có thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức khác ngoài Trung tâm trong phạm vi luật định. Đây là điểm mở hợp lý, phản ánh nhu cầu xã hội hóa dịch vụ pháp lý và bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật của người dân.
Nhưng điểm mở đó không làm thay đổi nguyên tắc: luật sư hành nghề với tư cách cá nhân vẫn phải nằm trong cơ chế đăng ký, quản lý và điều kiện hành nghề do luật quy định. Sự nới rộng phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý không đồng nghĩa với việc một luật sư có thể tùy ý đứng trong bộ máy chuyên môn của một TCHNLS bằng hợp đồng “cộng tác” để thay thế HĐLĐ, né BHXH và né cơ chế quản lý hành nghề.
Nói cách khác, dự thảo có thể làm mềm một số đường biên của hành nghề cá nhân, nhưng không phá bỏ nguyên tắc luật sư hành nghề phải có địa vị pháp lý xác định. Nếu luật sư làm việc cho TCHNLS trong quan hệ có quản lý, điều hành, giám sát và có trả công, thì trục pháp lý vẫn quay về HĐLĐ và BHXH bắt buộc. Nếu luật sư chỉ có một giao dịch dân sự độc lập, không chịu sự quản lý như người lao động, thì giao dịch đó có thể được xem xét như giao dịch dân sự, nhưng không thể tự thân trở thành hình thức hành nghề trong TCHNLS.
9. Rủi ro thuế, quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm hình sự
Về thuế, việc cố tình làm mờ bản chất quan hệ có thể kéo theo rủi ro trong xác định thu nhập của cá nhân và chi phí được trừ của doanh nghiệp. Nếu khoản chi trả cho luật sư thực chất là tiền lương, tiền công, thù lao trong quan hệ lao động thì cơ quan thuế có cơ sở xem xét khoản thu nhập đó theo bản chất tiền lương, tiền công, thay vì chỉ theo tên gọi dân sự. Ở phía TCHNLS, nếu khoản chi được hạch toán như chi phí dịch vụ, cộng tác viên hoặc khoán việc nhưng thực chất là chi phí lao động, việc thiếu HĐLĐ, thiếu chứng từ, thiếu quy chế chi trả, thiếu nghĩa vụ BHXH có thể làm yếu vị thế của doanh nghiệp khi quyết toán, giải trình và bảo vệ chi phí được trừ.
Về quản trị doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2020 thừa nhận quyền tự do kinh doanh, quyền chủ động ký kết hợp đồng, tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động. Nhưng quyền tự chủ đó không cho phép doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có điều kiện tự tạo ra cơ chế sử dụng luật sư trái với luật chuyên ngành và pháp luật lao động. Công ty luật là doanh nghiệp đặc thù; do đó, quyền quản trị nhân sự của công ty luật luôn bị giới hạn bởi Luật Luật sư, Bộ luật Lao động, Luật BHXH và quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp luật sư.
Về hình sự, cần diễn đạt chuẩn xác: không phải cứ ký hợp đồng “cộng tác” thay cho HĐLĐ là tự động cấu thành tội phạm. Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, và Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ đặt ra trách nhiệm hình sự khi hành vi trốn đóng BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành. Tuy nhiên, nếu hợp đồng “cộng tác” được dùng như công cụ có chủ ý để che giấu quan hệ lao động, kéo dài việc không đóng hoặc không đóng đầy đủ BHXH bắt buộc cho người lao động, thì lớp vỏ hợp đồng không ngăn được việc xem xét trách nhiệm tương ứng khi đủ căn cứ.
10. Phản biện một số lập luận thường gặp
Thứ nhất, lập luận “pháp luật không cấm thì được làm” chỉ đúng một phần. Trong lĩnh vực hành nghề luật sư, câu hỏi không chỉ là có một điều cấm trực tiếp hay không, mà là luật đã thiết kế hình thức hành nghề nào và có dành chỗ cho mô hình đó hay không. Khi pháp luật luật sư điều chỉnh nghề luật sư bằng cấu trúc: hình thức, điều kiện, đăng ký, quản lý và tự quản nghề nghiệp…v.v thì không thể dùng nguyên tắc tự do dân sự để tạo ra một hình thức hành nghề ngoài luật.
Thứ hai, lập luận “đây chỉ là hợp đồng dân sự linh hoạt, không phải quan hệ lao động” bỏ qua Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 2 Luật BHXH năm 2024. Nếu nội dung và cách thực hiện hợp đồng thể hiện việc làm có trả công, tiền lương hoặc thù lao, kèm sự quản lý, điều hành, giám sát của TCHNLS, thì quan hệ có thể bị xác định là HĐLĐ bất chấp tên gọi.
Thứ ba, lập luận “Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP đã bỏ điều kiện 2 năm nên hợp đồng cộng tác càng được thừa nhận” là một bước nhảy suy luận. Nghị quyết cắt giảm điều kiện và thủ tục để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó có lĩnh vực luật sư. Nhưng cắt giảm điều kiện thành lập TCHNLS không đồng nghĩa với việc tạo thêm một hình thức hành nghề luật sư mới; càng không đồng nghĩa với việc hợp pháp hóa kỹ thuật né HĐLĐ và né BHXH.
Thứ tư, lập luận “dự thảo Luật Luật sư sửa đổi đã mở rộng hình thức hành nghề nên cộng tác cũng có thể được chấp nhận” cũng không đứng vững. Dự thảo chưa phải quy phạm pháp luật. Hơn nữa, ngay cả theo định hướng dự thảo, việc mở rộng vẫn là mở rộng trong các hình thức do luật định, không phải thừa nhận mọi nhãn gọi do các bên tự đặt. Đáng chú ý hơn, trong các hình thức được định hướng, không có hình thức độc lập nào mang tên “luật sư cộng tác với TCHNLS” để thay thế HĐLĐ.
Thứ năm, lập luận “luật sư có Thẻ luật sư nên mọi hợp đồng ký với TCHNLS đều là hợp đồng hành nghề” đánh tráo giữa tư cách nghề nghiệp của cá nhân và địa vị pháp lý trong từng quan hệ cụ thể. Một người có Thẻ luật sư vẫn có thể ký hợp đồng dân sự, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động hoặc các giao dịch khác. Tư cách luật sư không tự động biến mọi hợp đồng thành căn cứ hành nghề hợp pháp trong TCHNLS.
11. Kết luận
Từ toàn bộ phân tích trên, có thể rút ra năm kết luận chính.
Một là, Luật Luật sư hiện hành và định hướng của Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026 đều cho thấy hình thức hành nghề của luật sư là vấn đề do luật định. Có thể cách đếm số lượng, tên gọi hoặc nhóm trạng thái hành nghề sẽ được điều chỉnh trong dự thảo; nhưng trong cấu trúc đó không có hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với TCHNLS”.
Hai là, Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP đã làm cho lập luận dựa trên điều kiện 2 năm hành nghề liên tục không còn phù hợp để tiếp tục dùng làm trục chính. Tuy nhiên, việc bãi bỏ hoặc cắt giảm điều kiện 2 năm không hợp pháp hóa hợp đồng “cộng tác” nếu hợp đồng ấy được dùng để thay thế HĐLĐ trong một quan hệ có bản chất lao động.
Ba là, một hợp đồng dân sự mang tên “cộng tác” có thể tồn tại trong những phạm vi phụ trợ, độc lập, đúng bản chất. Nhưng nếu nội dung và thực tế thực hiện thể hiện việc làm có trả công, có sự quản lý, điều hành, giám sát của TCHNLS, thì theo Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, quan hệ đó có thể bị xác định lại là HĐLĐ; và theo Luật BHXH năm 2024, nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc phát sinh theo bản chất quan hệ.
Bốn là, nếu quan hệ “cộng tác” thực sự chỉ là quan hệ dân sự thuần túy, thì nó không phải là HĐLĐ của luật sư trong TCHNLS, cũng không phải là hình thức hành nghề luật sư độc lập được Luật Luật sư công nhận. Khi pháp luật sửa đổi theo hướng quản lý Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư, gia hạn hoặc cấp lại theo thời hạn, luật sư càng cần có trạng thái hành nghề rõ ràng, hợp pháp, thay vì đứng lâu dài trong một vùng xám pháp lý.
Năm là, việc sử dụng lớp vỏ “cộng tác” để né BHXH có thể kéo theo rủi ro không chỉ trong quan hệ lao động và BHXH, mà còn trong quản trị doanh nghiệp, thuế và thậm chí trách nhiệm hình sự nếu hành vi trốn đóng đủ yếu tố cấu thành. Vì vậy, trả lời thẳng câu hỏi ở tiêu đề bài viết: TCHNLS ký “hợp đồng cộng tác” với luật sư để né đóng BHXH không có cơ sở pháp lý vững chắc để tự hợp pháp hóa. Hoặc đó là quan hệ lao động và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của quan hệ lao động; hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự thuần túy, và khi đó nó không thể được dùng như một hình thức hành nghề luật sư hợp pháp thay thế.
Danh mục căn cứ pháp lý và tài liệu đối chiếu
1. Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt các Điều 3, 117 và 123.
2. Bộ luật Lao động năm 2019, đặc biệt các Điều 13 và 21.
3. Luật BHXH năm 2024, đặc biệt các Điều 2 và 9.
4. Luật Luật sư năm 2006, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012, đặc biệt các quy định về hình thức hành nghề, đăng ký hành nghề, tổ chức hành nghề luật sư, quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư.
5. Luật Doanh nghiệp năm 2020, đặc biệt các quy định về quyền tự do kinh doanh, ký kết hợp đồng, tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động trong giới hạn pháp luật.
6. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
7. Pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành; đồng thời lưu ý Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, khi đánh giá các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công trong giai đoạn chuyển tiếp.
8. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đặc biệt Điều 216.
9. Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214, Điều 215 và Điều 216 của Bộ luật Hình sự.
10. Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP ngày 07/04/2026 của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và các phụ lục kèm theo, đặc biệt nội dung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.
11. Đề cương dự thảo Luật Luật sư sửa đổi năm 2026. Tài liệu này chỉ được sử dụng để đối chiếu xu hướng lập pháp, không được viện dẫn như căn cứ quy phạm đang có hiệu lực.
THẾ ANH
Công ty Luật TNHH Hoàng Minh Bình Phước.

