/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Tổng kết 40 năm Đổi mới: Nền tảng lý luận cho Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Tổng kết 40 năm Đổi mới: Nền tảng lý luận cho Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

03/03/2026 06:39 |

(LSVN) - Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong 40 năm qua ở Việt Nam” là một văn kiện lý luận quan trọng được trình Đại hội XIV (2026), đánh dấu tròn 40 năm công cuộc đổi mới (1986 - 2026). Văn kiện không chỉ tổng kết sâu sắc những thành tựu lịch sử, hạn chế và bài học kinh nghiệm mà còn bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, làm nền tảng tư tưởng vững chắc cho kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Với tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 và 2045, Báo cáo khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) Việt Nam, nhấn mạnh động lực nội sinh từ khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài viết phân tích cấu trúc, nội dung cốt lõi và ý nghĩa lịch sử - khoa học của văn kiện, khẳng định đây là bước tiến vượt bậc trong tư duy lý luận của Đảng, góp phần đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng.

1. Giới thiệu

Năm 2026, trong không khí thiêng liêng và phấn khởi của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội đánh dấu mốc son lịch sử khi dân tộc ta chính thức bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển mạnh mẽ - chúng ta long trọng kỷ niệm tròn 40 năm công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước, một sự nghiệp vĩ đại, mang tầm vóc lịch sử do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI năm 1986 [1]. Đây không chỉ là dịp nhìn lại hành trình đầy gian nan nhưng vẻ vang của dân tộc, từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu sau chiến tranh và khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển năng động với tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao, mà còn là thời điểm để tổng kết sâu sắc những bài học lý luận và thực tiễn quý báu, làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng CNXH trong giai đoạn mới.

Trong hệ thống văn kiện Đại hội XIV, Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam” giữ vị trí trung tâm, là văn kiện lý luận mang tầm vóc thời đại, thể hiện sự kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo tư duy lý luận của Đảng về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam [2]. Văn kiện này được xây dựng trên cơ sở chỉ đạo sâu sắc của Bộ Chính trị, tập trung vào tám nội dung cốt lõi, từ bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước đến các vấn đề xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, đồng thời nhằm mục đích chính là “góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chuẩn bị tích cực, chủ động và thiết thực vào việc xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng” [3]. Đặc biệt, Báo cáo kế thừa và phát huy tinh thần chỉ đạo chiến lược của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “đến năm 2025, trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 50 năm thống nhất đất nước, cần hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường lối đổi mới; đến năm 2030, trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH, tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, có thể bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới; bổ sung, làm phong phú và tiến thêm một bước để hoàn thiện hơn nền tảng tư tưởng của Đảng; và đến năm 2045, khi nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao thì chúng ta sẽ có một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, khoa học và hiện đại về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam” [4].

Trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc tế được nâng lên tầm cao mới, việc tổng kết 40 năm đổi mới không chỉ là nhìn lại hành trình lịch sử đầy thử thách và thắng lợi mà còn là nền tảng lý luận vững chắc để định hướng tương lai, khơi dậy khát vọng phát triển mạnh mẽ, đưa đất nước tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng [5]. Nghiên cứu văn kiện này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đặc biệt sâu sắc đối với lĩnh vực xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam và khoa học chính trị, góp phần làm rõ sự phát triển liên tục, nhất quán nhưng đồng thời sáng tạo, cách mạng của tư duy lý luận Đảng ta - từ nhận thức về khủng hoảng mô hình cũ dẫn đến quyết tâm đổi mới tại Đại hội VI, đến việc bổ sung, hoàn thiện lý luận về CNXH khoa học, phù hợp thực tiễn Việt Nam trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 và toàn cầu hóa. Văn kiện khẳng định rõ ràng rằng mô hình CNXH Việt Nam là lựa chọn lịch sử đúng đắn, sáng tạo, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước, đồng thời tiếp thu có chọn lọc thành tựu của nhân loại, từ đó củng cố niềm tin chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn lịch sử mới [6].

Ảnh minh họa. Nguồn: Nhân dân.

Ảnh minh họa. Nguồn: Nhân dân. 

2. Cấu trúc và phương hướng tổng kết của Báo cáo

Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam” được xây dựng một cách khoa học, chặt chẽ, trên nền tảng kế thừa có chọn lọc và phát huy sáng tạo những thành quả từ các lần tổng kết lý luận - thực tiễn trước đây của Đảng, từ Đại hội VI khởi xướng đổi mới đến các kỳ đại hội sau, đặc biệt là các báo cáo tổng kết tại Đại hội XI, XII và XIII [7]. Sự kế thừa này không phải là máy móc mà là sự phát triển biện chứng, vận dụng nguyên tắc “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” - một nguyên tắc cơ bản trong tư duy lý luận và phương pháp công tác của Đảng ta, nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học và cách mạng trong việc đánh giá hành trình 40 năm đổi mới, từ đó rút ra những bài học sâu sắc làm nền tảng lý luận vững chắc cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong giai đoạn mới [8].

Theo chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị, Báo cáo tập trung sâu sắc vào tám nội dung cốt lõi, bao quát toàn diện các lĩnh vực then chốt của sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc: (1) Bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước tác động đến Việt Nam qua 40 năm đổi mới cùng sự phát triển nhận thức của Đảng ta về đường lối đổi mới; (2) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và mô hình CNXH Việt Nam; (3) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - mô hình kinh tế đặc trưng của CNXH Việt Nam; (4) Phát triển văn hoá, quản lý phát triển xã hội và xây dựng con người Việt Nam mới; (5) Các vấn đề quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh mới; (6) Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh - nhân tố quyết định thành bại của sự nghiệp đổi mới; (7) Đánh giá khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới cùng những vấn đề đặt ra trong giai đoạn lịch sử mới; (8) Dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đề xuất quan điểm, định hướng và các nội dung giải pháp tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ [9]. Tám nội dung này không chỉ phản ánh sự bao quát toàn diện mà còn thể hiện sự liên kết biện chứng, từ phân tích bối cảnh khách quan đến phát triển nhận thức chủ quan, từ thành tựu thực tiễn đến bài học lý luận, hướng tới định hướng chiến lược cho tương lai - một cấu trúc logic chặt chẽ phù hợp với phương pháp luận duy vật biện chứng mà Đảng ta luôn kiên định vận dụng.

Về kết cấu, Báo cáo được tổ chức thành năm mục lớn, đảm bảo tính hệ thống và chiều sâu khoa học: Mục I phân tích bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước tác động đến quá trình đổi mới 40 năm qua, làm rõ những thuận lợi, thách thức từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự nổi lên của khu vực châu Á - Thái Bình Dương; Mục II làm sáng tỏ sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng qua các kỳ đại hội, từ nhận thức về khủng hoảng mô hình cũ đến khẳng định con đường đổi mới là tất yếu lịch sử; Mục III đánh giá khách quan thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và những hạn chế, bất cập trong thực tiễn xây dựng CNXH Việt Nam; Mục IV khái quát chung, chỉ rõ những vấn đề đặt ra cùng bài học kinh nghiệm quý báu; Mục V dự báo tình hình mới và đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ [10]. Kết cấu này không chỉ đảm bảo tính logic mà còn thể hiện chiều sâu liên ngành giữa xây dựng Đảng, khoa học chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần làm nền tảng lý luận cho việc xây dựng văn kiện Đại hội XIV - Đại hội đánh dấu bước chuyển mình lịch sử của dân tộc, từ vượt khó vươn lên thành chủ động kiến tạo phát triển trong kỷ nguyên vươn mình.

Phương hướng tổng kết của Báo cáo thể hiện rõ tinh thần khoa học, khách quan, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”, đồng thời nhấn mạnh mạnh mẽ mục tiêu bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới để chuẩn bị văn kiện Đại hội XIV - một đại hội mang ý nghĩa bước ngoặt, khẳng định Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên mới với cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc tế cao hơn [11]. Phương hướng này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện mới, đồng thời đáp ứng khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN.

3. Nội dung cốt lõi của Báo cáo

Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam” là sự kết tinh trí tuệ tập thể của toàn Đảng, thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, làm nền tảng tư tưởng vững chắc cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - giai đoạn lịch sử mà Việt Nam chuyển từ vượt qua khó khăn, thách thức thành chủ động kiến tạo phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng [12]. Nội dung cốt lõi của Báo cáo không chỉ bao quát toàn diện hành trình 40 năm đổi mới mà còn khẳng định sự đúng đắn của đường lối Đảng, góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 và toàn cầu hóa sâu rộng, đồng thời củng cố năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong bối cảnh mới đầy cơ hội và thách thức.

Trước hết, Báo cáo phân tích sâu sắc, khách quan bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước đã tác động mạnh mẽ đến quá trình đổi mới 40 năm qua, làm rõ những yếu tố khách quan dẫn đến sự tất yếu lịch sử của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng [13]. Từ cuối thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, sự sụp đổ của hệ thống XHCN hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, kết thúc Chiến tranh lạnh, chuyển biến cục diện quốc tế từ lưỡng cực sang nhất siêu đa cường đã tạo ra bước ngoặt lớn, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp như phong trào dân tộc, tôn giáo cực đoan và chia rẽ sắc tộc. Đồng thời, toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển mạnh mẽ đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, hợp lý hóa phân công lao động quốc tế, tạo điều kiện cho các nước đang phát triển công nghiệp hóa, nhưng cũng lộ rõ những khiếm khuyết của trật tự kinh tế do Mỹ và phương Tây chi phối, dẫn đến các hệ quả tiêu cực như bất bình đẳng gia tăng. Dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ, kinh tế thế giới chuyển mạnh sang kinh tế tri thức, với tri thức và nguồn nhân lực sáng tạo trở thành động lực chính. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương nổi lên thành trung tâm kinh tế - chính trị thế giới, với liên kết kinh tế chặt chẽ qua hàng loạt FTA, hợp tác an ninh mở rộng và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực. Phong trào cộng sản và cánh tả quốc tế, dù trải qua khó khăn sau sự sụp đổ mô hình cũ, đã từng bước phục hồi với những chuyển động tích cực ở Trung Quốc, Cuba và các đảng cánh tả ở châu Âu, Mỹ Latinh [14]. Những biến động này vừa tạo thuận lợi căn bản (liên kết kinh tế khu vực, FTA, cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0) vừa đặt ra thách thức lớn lao (khủng hoảng tài chính 2008, đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị gay gắt, an ninh phi truyền thống phức tạp).

Từ bối cảnh khách quan đầy biến động ấy, Đảng ta đã phát triển nhận thức lý luận một cách sáng tạo, biện chứng, từ việc nhận rõ khủng hoảng của mô hình XHCN cũ dẫn đến quyết tâm đổi mới tại Đại hội VI, đến việc kiên định vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể Việt Nam, hình thành và ngày càng hoàn chỉnh hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta - một mô hình khoa học, cách mạng, phù hợp thực tiễn và xu thế thời đại [15]. Sự phát triển này thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực tư duy chiến lược của Đảng, khẳng định đổi mới là tất yếu lịch sử, là sự lựa chọn đúng đắn để dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Tiếp theo, Báo cáo đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và những hạn chế, bất cập trong thực tiễn xây dựng CNXH Việt Nam qua 40 năm đổi mới, thể hiện tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc - một nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng cầm quyền [16]. Sau 40 năm, Việt Nam đã đạt những thành tựu vượt bậc: quy mô và tiềm lực kinh tế tăng mạnh với GDP theo giá hiện hành từ mức thấp đạt 346,6 tỉ USD năm 2020, 476 tỉ USD năm 2024 và dự kiến 510 tỉ USD năm 2025; GDP bình quân đầu người tăng nhanh đạt khoảng 5.000 USD năm 2025, chính thức gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 47%; đến cuối năm 2024 đã có 73 quốc gia công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường; thương hiệu quốc gia đạt giá trị 507 tỉ USD; chỉ số hạnh phúc tăng 48 bậc theo tiêu chí Liên Hiệp Quốc; chi ngân sách nhà nước cho giáo dục tăng mạnh từ hơn 178 nghìn tỉ đồng năm 2016 lên 380.561 tỉ đồng năm 2024; Việt Nam có 8 di sản thế giới, 15 di sản văn hoá phi vật thể và nhiều danh hiệu UNESCO khác; quốc phòng, an ninh, đối ngoại đạt bước tiến vượt bậc với phân giới cắm mốc biên giới với Lào và Campuchia cơ bản hoàn thành; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn với 6 ban đảng Trung ương, 14 bộ và các cơ quan ngang bộ, toàn Đảng có hơn 5,6 triệu đảng viên đến cuối năm 2025 [17]. Những thành tựu này khẳng định sức mạnh lãnh đạo của Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, với tinh thần khoa học và trách nhiệm cao, Báo cáo thẳng thắn chỉ ra những hạn chế: nguy cơ tụt hậu kinh tế và rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn tồn tại; mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 chưa hoàn thành; tăng trưởng có xu hướng giảm dần theo chu kỳ; một số lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ còn bất cập, chưa thực sự trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ; hợp tác kinh tế với một số đối tác lớn như Nga, Ấn Độ còn hạn chế, chưa tương xứng tiềm năng; thể chế pháp luật còn điểm nghẽn, tuổi thọ văn bản ngắn [18].

Cuối cùng, Báo cáo khái quát những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ 40 năm đổi mới, đồng thời dự báo tình hình và đề xuất định hướng, giải pháp cho giai đoạn mới - nền tảng lý luận trực tiếp phục vụ kỷ nguyên vươn mình của dân tộc [19]. Các bài học then chốt bao gồm: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới sáng tạo tư duy lý luận gắn chặt với tổng kết thực tiễn; kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Dự báo tình hình mới nhấn mạnh cơ hội lớn từ cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số quốc gia, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời cảnh báo thách thức từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống. Văn kiện đề xuất quan điểm, giải pháp tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ, với trọng tâm lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao làm đột phá then chốt; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; củng cố Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu [20]. Những định hướng này không chỉ kế thừa mà còn phát triển sáng tạo, góp phần đưa Việt Nam vững bước thực hiện khát vọng phát triển đến năm 2030 và 2045.

4. Ý nghĩa lịch sử và khoa học trong kỷ nguyên mới

Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam” là đóng góp lý luận quan trọng nhất, mang tầm vóc thời đại của Đại hội XIV, thực sự trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc, kim chỉ nam hành động cách mạng cho kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, giai đoạn lịch sử mà đất nước ta chuyển biến căn bản từ vượt qua khó khăn, thử thách thành chủ động kiến tạo phát triển nhanh, bền vững, toàn diện, với tiềm lực nội sinh mạnh mẽ và vị thế quốc tế ngày càng cao [21]. Văn kiện này không chỉ là sự tổng kết khách quan, khoa học hành trình 40 năm đổi mới mà còn là bước phát triển vượt bậc trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định một cách thuyết phục rằng mô hình CNXH Việt Nam là khoa học, cách mạng, phù hợp sâu sắc với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, đồng thời góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận Marxist - Leninist toàn cầu trong bối cảnh thế giới đương đại đầy biến động và phức tạp [22]. Ý nghĩa lịch sử của Báo cáo nằm ở việc nó đánh dấu bước ngoặt chiến lược trong sự nghiệp xây dựng CNXH, từ nhận thức về đổi mới như một tất yếu lịch sử tại Đại hội VI đến khẳng định kỷ nguyên vươn mình tại Đại hội XIV, mở ra vận hội mới để dân tộc Việt Nam thực hiện khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về mặt lịch sử, Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới khẳng định công cuộc đổi mới là “sự nghiệp vĩ đại mang tầm vóc lịch sử”, là quá trình phát triển toàn diện về tư duy, nhận thức lý luận và đường lối lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc [23]. Văn kiện làm rõ rằng, nhờ đổi mới sáng tạo, Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng để bước vào kỷ nguyên vươn mình - giai đoạn mà sức mạnh nội sinh của dân tộc được khơi dậy tối đa, kết hợp hài hòa với sức mạnh thời đại, chuyển từ thích ứng thụ động sang chủ động kiến tạo tương lai. Ý nghĩa này càng sâu sắc hơn khi đặt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước vận hội lịch sử với cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế cao chưa từng có, đòi hỏi Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược sắc bén để lãnh đạo dân tộc vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và kinh tế xanh.

Về mặt khoa học, Báo cáo là sự kết tinh của quá trình tổng kết thực tiễn phong phú, khách quan, góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam - một hệ thống lý luận ngày càng hoàn chỉnh, khoa học và hiện đại [24]. Văn kiện khẳng định rõ ràng mô hình CNXH Việt Nam với các đặc trưng bản chất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện đại, hội nhập quốc tế; Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nguồn lực con người làm trung tâm. Sự khẳng định này không chỉ kế thừa sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn tiếp thu có chọn lọc thành tựu lý luận và thực tiễn của nhân loại, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Marxist trong thời đại mới, đặc biệt trong bối cảnh phong trào cộng sản và cánh tả quốc tế đang phục hồi và chuyển động tích cực. Đồng thời, Báo cáo nhấn mạnh vai trò then chốt của xây dựng, chỉnh đốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, đấu tranh không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực - yếu tố quyết định bảo đảm sự lãnh đạo khoa học, cách mạng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình.

Trong hơi thở thời đại 2026 - năm mà Việt Nam đứng trước vận hội lịch sử với tiềm lực mạnh mẽ, vị thế quốc tế cao và khát vọng phát triển cháy bỏng - Báo cáo thực sự là ngọn lửa soi đường, là nguồn cảm hứng cách mạng khơi dậy khát vọng phát triển trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN [25]. Văn kiện này không chỉ định hướng đưa đất nước vững bước thực hiện mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, mà còn góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực mạnh mẽ để dân tộc Việt Nam vươn mình mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và tiến bộ của khu vực và thế giới.

5. Kết luận

Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam” thực sự là di sản lý luận quý báu, mang giá trị khoa học và cách mạng sâu sắc, là ngọn cờ tư tưởng, kim chỉ nam hành động dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, giai đoạn lịch sử mà đất nước ta với cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế cao hơn bao giờ hết, chủ động kiến tạo phát triển nhanh, bền vững, toàn diện, thực hiện thành công khát vọng dân tộc phồn vinh, hạnh phúc [26]. Văn kiện này không chỉ là sự kết tinh trí tuệ tập thể của toàn Đảng qua quá trình tổng kết thực tiễn phong phú, khách quan mà còn là bước phát triển vượt bậc trong hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin chính trị của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng cầm quyền cách mạng, khoa học, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để đáp ứng yêu cầu của thời đại [27].

Trong bối cảnh năm 2026 - năm đánh dấu vận hội lịch sử mới của dân tộc với những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới, Báo cáo tổng kết là nguồn cảm hứng cách mạng mạnh mẽ, khơi dậy khát vọng phát triển cháy bỏng trong mọi tầng lớp Nhân dân, khẳng định rằng công cuộc đổi mới là sự lựa chọn lịch sử đúng đắn, sáng tạo, đã đưa Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu vươn lên vị thế một quốc gia đang phát triển năng động, có trách nhiệm trên trường quốc tế [28]. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nhận thức sâu sắc, thấm nhuần đầy đủ tinh thần văn kiện, thống nhất cao độ ý chí và hành động, biến tầm nhìn chiến lược, những quan điểm, định hướng và giải pháp mà Báo cáo đề xuất thành hiện thực sinh động qua các chương trình, kế hoạch cụ thể, phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao làm đột phá then chốt để thực hiện thắng lợi mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN vào năm 2045 [29].

Chỉ có như vậy, chúng ta mới thực hiện thành công khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, một đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, nơi mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển, thực hiện tâm nguyện thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội của nhân loại [30]. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới mãi mãi là nguồn sáng soi đường, là động lực cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên và mọi người dân Việt Nam không ngừng phấn đấu, cống hiến, đưa đất nước ta vững bước trong kỷ nguyên vươn mình, vì một Việt Nam XHCN tươi đẹp, thịnh vượng và trường tồn.

Tài liệu tham khảo, trích dẫn:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[2], [10], [12], [22], [23], [27] [28] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[3], [7], [9] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Phần Mở đầu). Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[4], [8], [15], [24] Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. CTQGST (trích dẫn trong Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới, 2026).

[5], [11], [20], [21], [26] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[6], [25], [29] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026). Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[13], [14] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Mục I). Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[16], [17], [18] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Mục III). Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[19] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam (Mục IV và V). Hà Nội: Nxb. CTQGST.

[30] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, tập 15. Hà Nội: Nxb. CTQGST.

LÊ HÙNG

CAO THỊ THU TRANG

Học viện Chính trị khu vực I