/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Từ “một chương trình, nhiều sách giáo khoa” đến thống nhất quốc gia: Hành trình lịch sử chương trình sách giáo khoa phổ thông Việt Nam và định hướng quản trị nhà nước trong kỷ nguyên đột phá

Từ “một chương trình, nhiều sách giáo khoa” đến thống nhất quốc gia: Hành trình lịch sử chương trình sách giáo khoa phổ thông Việt Nam và định hướng quản trị nhà nước trong kỷ nguyên đột phá

08/01/2026 06:55 |

(LSVN) - Ngày 26/12/2025, với Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), việc lựa chọn bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống” làm bộ sách thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027 đã đánh dấu một mốc son lịch sử mới, cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GD&ĐT, cũng như Nghị quyết 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện nghị quyết ấy.

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, chương trình và sách giáo khoa (SGK) phổ thông không chỉ đóng vai trò là công cụ truyền tải tri thức cơ bản mà còn là biểu hiện sống động, sâu sắc của ý chí quốc gia, phản ánh rõ nét từng giai đoạn cách mạng, xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế. Từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân, qua thống nhất đất nước, đến các cải cách hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và cách mạng công nghiệp 4.0, hành trình này đã chứng kiến những bước chuyển mình đầy ý nghĩa, đồng thời bộc lộ những bài học quản trị nhà nước quý giá trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo - một quốc sách hàng đầu quyết định tương lai dân tộc. Ngày 26/12/2025, với Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), việc lựa chọn bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống” làm bộ sách thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027 đã đánh dấu một mốc son lịch sử mới, cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GD&ĐT, cũng như Nghị quyết 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện nghị quyết ấy [1], [2], [3].

Đây không đơn thuần là sự trở về với nguyên tắc “một chương trình, một bộ sách” từng khẳng định vai trò lãnh đạo thống nhất của Nhà nước trong những giai đoạn trước, mà là bước ngoặt chiến lược sâu sắc, khẳng định trách nhiệm trung tâm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong việc bảo đảm công bằng tri thức, ổn định hệ thống giáo dục, giảm bất bình đẳng vùng miền, tối ưu hóa nguồn lực quốc gia và tạo nền tảng vững chắc cho chuyển đổi số học liệu, hướng tới mục tiêu cung cấp miễn phí SGK cho toàn bộ học sinh vào năm 2030. Quyết định này, xuất phát từ đánh giá thực tiễn sau gần một thập kỷ thực hiện mô hình “một chương trình, nhiều SGK”, đã khẳng định rằng sự thống nhất không phải là sự thoái lui mà là sự tiến bộ có tính biện chứng, phù hợp với yêu cầu quản trị nhà nước hiện đại: tập trung nguồn lực, bảo đảm liên thông kiến thức từ lớp 1 đến lớp 12, giảm gánh nặng chi phí xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý học liệu quốc gia trong bối cảnh ngân sách giáo dục cần ưu tiên tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước [4].

Hành trình này đòi hỏi chúng ta nhìn nhận một cách biện chứng, khoa học, từ góc độ quản trị nhà nước, để thấy rõ rằng chương trình và SGK phổ thông luôn là công cụ chiến lược phục vụ mục tiêu phát triển con người toàn diện, nguồn nhân lực chất lượng cao - nền tảng cho sự hùng cường của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống”.

Bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống”.

Giai đoạn đặt nền móng (1945 - 1975): Xóa bỏ di sản thực dân, xây dựng nền giáo dục cách mạng

Trong bối cảnh lịch sử dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, công cuộc cải cách giáo dục đã được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu như một nhiệm vụ chiến lược, nhằm xóa bỏ tận gốc di sản nô dịch của nền giáo dục thực dân Pháp, đồng thời xây dựng một nền giáo dục mới phục vụ sự nghiệp cách mạng, kháng chiến và kiến quốc [5]. Ngay từ những ngày đầu của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cách mạng đã nhận thức sâu sắc rằng, một dân tộc muốn vững mạnh phải chống “giặc dốt” song song với chống giặc ngoại xâm, vì nạn mù chữ hơn 90% dân số là di sản nặng nề của chế độ thực dân phong kiến, biến giáo dục thành công cụ đồng hóa và nô dịch tinh thần dân tộc [6]. Do đó, cải cách giáo dục không chỉ là biện pháp kỹ thuật mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, khẳng định chủ quyền văn hóa, tư tưởng và định hướng XHCN trong quản trị nhà nước về giáo dục đào tạo.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, dù đất nước đang đối mặt với muôn vàn khó khăn - “thù trong giặc ngoài”, kinh tế kiệt quệ và kháng chiến toàn quốc bùng nổ cuối năm 1946 - Đảng và Chính phủ đã ưu tiên cải cách giáo dục nhằm loại bỏ nền giáo dục thực dân lạc hậu, phản dân tộc, phản khoa học và phản đại chúng [7]. Nguyên tắc cơ bản được xác lập là xây dựng nền giáo dục dân tộc, khoa học, đại chúng, với mục tiêu tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng, dạy và học bằng tiếng Việt từ phổ thông đến đại học, đồng thời chống nạn mù chữ qua phong trào bình dân học vụ [8]. Đến tháng 7 năm 1950, trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, Hội đồng Chính phủ đã chính thức thông qua đề án cải cách giáo dục đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản trị nhà nước về giáo dục [9]. Đề án này nhằm xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân, thực hiện bậc học cơ bản miễn phí, phổ cập giáo dục phổ thông (GDPT) hệ 9 năm (sau đó điều chỉnh thành hệ 10 năm từ năm 1956 tại miền Bắc theo Nghị định 596 ngày 30/8/1956 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên), với cấu trúc ba cấp: cấp 1 (4 năm), cấp 2 (3 năm), cấp 3 (3 năm) [10]. Việc biên soạn SGK mới được tiến hành khẩn trương, tập trung vào nội dung dân tộc, khoa học, đại chúng, nhấn mạnh giáo dục yêu nước, chống giặc dốt gắn liền với chống giặc ngoại xâm, phục vụ trực tiếp kháng chiến và sản xuất [11].

Từ góc nhìn quản trị nhà nước về giáo dục đào tạo, giai đoạn này thể hiện sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Nhà nước trong việc độc quyền biên soạn và phát hành SGK, đảm bảo tính đồng bộ, định hướng chính trị rõ ràng và tính thống nhất quốc gia trong tư tưởng giáo dục [12]. Nhà nước đã thành lập các cơ quan chuyên trách như Ban Tu thư Bộ Giáo dục (sau này phát triển thành NXB Giáo dục năm 1957), tổ chức các trung tâm biên soạn SGK với sự tham gia của các nhà giáo dục ưu tú, nhằm thay thế hoàn toàn chương trình và SGK thực dân cũ [13]. Nội dung chương trình nhấn mạnh tinh thần dân tộc (bảo vệ độc lập, bản sắc văn hóa), khoa học (tiếp thu tiến bộ hiện đại, chống mê tín) và đại chúng (phổ cập cho công nông binh, miễn phí giáo dục cơ bản), đồng thời tích hợp giáo dục chính trị, lịch sử cách mạng để bồi dưỡng thế hệ trẻ trung thành với Tổ quốc và lý tưởng XHCN [14]. Đây là nền tảng đầu tiên của hệ thống GDPT thống nhất, dù còn gặp hạn chế lớn về nguồn lực vật chất (thiếu trường lớp, giáo viên, SGK trong điều kiện chiến tranh), nhưng đã khẳng định nguyên tắc quản trị nhà nước tập trung, độc quyền trong biên soạn SGK để bảo đảm định hướng tư tưởng và đồng bộ toàn quốc - một mô hình quản trị phù hợp với bối cảnh cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi kháng chiến chống Pháp (1954) và sau đó là chống Mỹ cứu nước [15].

Giai đoạn đặt nền móng này không chỉ xóa bỏ di sản thực dân mà còn đặt cơ sở cho hành trình dài từ “một chương trình, nhiều SGK” đến thống nhất quốc gia trong kỷ nguyên đột phá sau này, khẳng định vai trò của quản trị nhà nước trong việc sử dụng giáo dục như công cụ xây dựng con người mới, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Giai đoạn thống nhất và ổn định (1976 - 2000): Hợp nhất hai miền, một bộ sách chung

Sau thắng lợi lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975, dẫn đến sự thống nhất đất nước năm 1976, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ chiến lược cấp bách là hợp nhất hai hệ thống giáo dục tồn tại song song ở miền Bắc và miền Nam, nhằm xây dựng một nền giáo dục quốc dân thống nhất, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc [16]. Trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh kéo dài, kinh tế kiệt quệ, cơ sở vật chất giáo dục bị tàn phá nặng nề, việc thống nhất giáo dục không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, khẳng định sự đoàn kết dân tộc, củng cố chế độ XHCN và định hướng tư tưởng thống nhất cho thế hệ trẻ [17]. Từ góc nhìn quản trị nhà nước về giáo dục đào tạo, giai đoạn này thể hiện sự lãnh đạo tập trung cao độ của Đảng và Nhà nước, với nguyên tắc độc quyền biên soạn chương trình và SGK để đảm bảo tính đồng bộ, định hướng chính trị rõ ràng và tính thống nhất quốc gia trong bối cảnh chuyển tiếp từ hai hệ thống giáo dục khác biệt: hệ 10 năm ở miền Bắc (XHCN) và hệ 12 năm ở miền Nam (dưới chế độ cũ).

Ngay sau thống nhất, từ năm 1976 đến 1981, do chưa có chương trình và SGK dùng chung, hai miền tạm thời duy trì hệ thống cũ: miền Bắc tiếp tục chương trình 10 năm, miền Nam tiếp tục 12 năm, đồng thời tiến hành chỉnh lý SGK để loại bỏ nội dung không phù hợp và bổ sung tài liệu sửa đổi nhằm hướng tới thống nhất [18]. Ngày 4/12/1975, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định 219/CP, giao Bộ Giáo dục nhiệm vụ tổ chức biên soạn SGK mới theo Chương trình Cải cách giáo dục cho tất cả các lớp phổ thông, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho việc hợp nhất [19]. Đến năm học 1981 - 1982, chương trình phổ thông thống nhất 12 năm bắt đầu được triển khai cuốn chiếu trên toàn quốc, với cấu trúc tiểu học 5 năm, trung học cơ sở 4 năm và trung học phổ thông 3 năm (ban đầu miền Bắc áp dụng tạm hệ 11 năm trước khi chuyển hẳn sang 12 năm vào năm 1992 - 1993) [20]. Việc thay SGK được thực hiện dần dần: từ lớp 1 năm 1981-1982, hoàn thành tiểu học và trung học cơ sở đến năm 1988, và trung học phổ thông từ năm 1989 với việc thành lập “Trại biên soạn SGK” trực thuộc NXB Giáo dục [21].

Đây là giai đoạn điển hình của mô hình “một chương trình, một bộ sách” do Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn độc quyền, thông qua Viện Khoa học Giáo dục và NXB Giáo dục, đảm bảo tính thống nhất cao về nội dung, phương pháp và định hướng tư tưởng [22]. Chương trình mới nhằm giảm tải kiến thức nặng lý thuyết từ các mô hình cũ (ảnh hưởng từ Liên Xô và các nước XHCN), tăng cường thực hành, giáo dục lao động sản xuất, gắn học với hành, phù hợp hơn với điều kiện kinh tế bao cấp và nhu cầu xây dựng đất nước [23]. Nội dung SGK nhấn mạnh giáo dục yêu nước, chủ nghĩa xã hội, lịch sử cách mạng, đồng thời tích hợp kiến thức khoa học cơ bản, kỹ năng sống, góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ trung thành với Đảng, với Tổ quốc [24]. Từ quan điểm quản trị nhà nước, mô hình này khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Nhà nước trong giáo dục, bảo vệ định hướng XHCN trong bối cảnh đất nước còn nhiều thách thức về an ninh, biên giới và kinh tế khó khăn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN sau Đại hội VI năm 1986 (khởi xướng công cuộc Đổi Mới), chương trình và SGK dần bộc lộ bất cập: kiến thức quá tải, nặng lý thuyết, ít thực tiễn, phương pháp dạy học truyền thụ một chiều, chưa đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa [25]. Những hạn chế này, cùng với khủng hoảng kinh tế những năm 1980, đã dẫn đến nhu cầu đổi mới sâu sắc hơn về chương trình GDPT, mở đường cho giai đoạn cải cách tiếp theo từ năm 2000 [26]. Dù vậy, giai đoạn 1976 - 2000 đã đạt được thành tựu lớn: hoàn thành phổ cập tiểu học (năm 2000), nâng tỷ lệ biết chữ lên trên 90%, ổn định hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị - xã hội và phục hồi kinh tế sau chiến tranh [27].

Giai đoạn thống nhất và ổn định này không chỉ hoàn tất việc hợp nhất hai miền mà còn củng cố nền tảng cho hành trình từ “một chương trình, một bộ sách” đến “một chương trình, nhiều SGK” trong kỷ nguyên đột phá sau này, khẳng định vai trò quản trị nhà nước tập trung trong việc sử dụng giáo dục như công cụ xây dựng con người mới, phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

Giai đoạn xã hội hóa và đa dạng (2000 - 2025): Thử nghiệm “một chương trình, nhiều SGK”

Trong bối cảnh công cuộc Đổi Mới từ năm 1986 và đặc biệt sau Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương trình GDPT, Việt Nam đã từng bước chuyển mình từ mô hình quản trị nhà nước tập trung độc quyền sang hướng xã hội hóa giáo dục, nhằm huy động nguồn lực toàn xã hội, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước [28]. Đến giai đoạn 2000 - 2025, với Nghị quyết Trung ương 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, cùng Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK GDPT, Nhà nước đã chính thức chuyển sang mô hình “một chương trình, nhiều SGK”, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản trị nhà nước về giáo dục đào tạo [29]. Mô hình này không chỉ phá bỏ độc quyền biên soạn và phát hành SGK mà còn khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn, nhằm đa dạng hóa học liệu, tăng cường sáng tạo, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh theo Chương trình GDPT 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018) [30].

Từ góc nhìn quản trị nhà nước và giáo dục đào tạo, giai đoạn này thể hiện sự chuyển dịch chiến lược từ quản lý tập trung sang phân quyền, xã hội hóa, với nguyên tắc Nhà nước giữ vai trò định hướng chương trình khung, thẩm định chất lượng, còn việc biên soạn SGK được mở rộng cho xã hội tham gia dưới sự giám sát chặt chẽ [31]. Chương trình GDPT 2018 được xây dựng theo hướng mở, tập trung phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, giảm tải kiến thức lý thuyết, tăng cường thực hành, tích hợp liên môn và phân hóa theo định hướng nghề nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế [32]. Lộ trình triển khai cuốn chiếu được thực hiện nghiêm ngặt: bắt đầu từ lớp 1 năm học 2020 - 2021, lớp 2 và lớp 6 năm 2021 - 2022, lớp 3, 7, 10 năm 2022 - 2023, lớp 4, 8, 11 năm 2023 - 2024, và hoàn tất chu kỳ với lớp 5, 9, 12 năm 2024 - 2025 [33]. Ban đầu, Bộ GD&ĐT phê duyệt 5 bộ SGK cho các lớp đầu cấp, nhưng qua quá trình sử dụng thực tiễn và đánh giá, đến năm 2025, thực tế ổn định với 3 bộ chính được sử dụng rộng rãi nhất: “Cánh Diều” (NXB Đại học Sư phạm và đối tác), “Kết nối tri thức với cuộc sống” (NXB Giáo dục Việt Nam), và “Chân trời sáng tạo” (NXB Giáo dục Việt Nam), với bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất nhờ tính liên thông mạch lạc và phổ biến [34].

Mô hình “một chương trình, nhiều SGK” đã mang lại những thành tựu đáng kể: huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, thúc đẩy cạnh tranh chất lượng giữa các NXB và nhóm tác giả, đa dạng hóa cách tiếp cận nội dung giáo dục, phù hợp hơn với đặc thù vùng miền và đối tượng học sinh; đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên chủ động sáng tạo trong dạy học, phát huy phương pháp tích cực, lấy học sinh làm trung tâm [35]. Việc xã hội hóa đã góp phần giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, tăng cường minh bạch qua quy trình thẩm định công khai và lựa chọn SGK tại địa phương, trường học, đồng thời tiếp cận kinh nghiệm quốc tế (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ) nơi mô hình đa SGK đã chứng minh hiệu quả trong nâng cao chất lượng giáo dục [36]. Từ quan điểm quản trị nhà nước, đây là bước đột phá trong phân cấp, phân quyền, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong định hướng tư tưởng, nhưng trao quyền chủ động cho cơ sở, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện [37].

Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai từ 2020 đến 2025, mô hình này đã bộc lộ một số hạn chế sâu sắc, đòi hỏi đánh giá khoa học và điều chỉnh kịp thời. Trước hết, chênh lệch tiếp cận tri thức giữa vùng miền ngày càng rõ nét: các địa phương khó khăn, miền núi, dân tộc thiểu số gặp bất lợi trong lựa chọn và sử dụng SGK đa dạng, dẫn đến khoảng cách chất lượng giáo dục giữa đô thị và nông thôn, miền xuôi và miền ngược [38]. Thứ hai, gánh nặng lựa chọn SGK đặt lên vai địa phương và trường học gây lúng túng, thiếu thống nhất, đôi khi dẫn đến tình trạng lựa chọn không optimum, ảnh hưởng đến liên thông kiến thức giữa các cấp lớp [39]. Thứ ba, chi phí xã hội cao hơn dự kiến do phụ huynh phải mua nhiều loại SGK khác nhau, cộng với tình trạng in lậu, độc quyền cục bộ ở một số khâu phát hành [40]. Thứ tư, thiếu liên thông mạch lạc kiến thức giữa các bộ SGK dẫn đến đứt gãy khi học sinh chuyển trường, đặc biệt con em lao động di cư; đồng thời khó khăn trong xây dựng ngân hàng đề thi thống nhất, kiểm tra đánh giá công bằng toàn quốc [41]. Cuối cùng, quản lý nhà nước về học liệu gặp thách thức lớn trong giám sát chất lượng, chỉnh sửa kịp thời và đảm bảo định hướng chính trị - tư tưởng thống nhất [42]. Những bất cập này, kết hợp với yêu cầu đột phá theo Nghị quyết 29-NQ/TW (2013) và đặc biệt Kết luận 91-KL/TW (2024) của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới giáo dục đào tạo, đã dẫn đến sự điều chỉnh quyết liệt: từ năm học 2026 - 2027, thống nhất một bộ SGK quốc gia (bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” được chọn làm cơ sở thống nhất), hướng tới miễn phí SGK từ năm 2030, nhằm đảm bảo công bằng, đồng bộ và hiệu quả quản trị nhà nước trong kỷ nguyên mới [43].

Giai đoạn xã hội hóa và đa dạng này, dù là thử nghiệm cần thiết, đã cung cấp bài học quý báu cho hành trình từ “một chương trình, nhiều SGK” đến thống nhất quốc gia, khẳng định vai trò quản trị nhà nước trong việc cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và đảm bảo thống nhất, công bằng, phục vụ sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu đột phá giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bước ngoặt 2025: Trở về thống nhất, hướng tới miễn phí và chuyển đổi số

Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong hành trình quản trị nhà nước về chương trình và SGK phổ thông Việt Nam, khi Đảng và Nhà nước quyết liệt điều chỉnh mô hình từ “một chương trình, nhiều SGK” trở về thống nhất quốc gia, đồng thời đặt nền móng cho chuyển đổi số học liệu và lộ trình miễn phí SGK [44]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GD&ĐT đã khẳng định rõ ràng giáo dục - đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là động lực then chốt để thực hiện khát vọng phát triển đất nước, đòi hỏi phải có những đột phá thể chế mạnh mẽ, vượt trội nhằm khắc phục bất cập từ giai đoạn xã hội hóa trước đó, đảm bảo công bằng tiếp cận, đồng bộ chất lượng và định hướng tư tưởng thống nhất [45]. Tiếp theo, Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW đã cụ thể hóa các nhiệm vụ, trong đó nhấn mạnh việc thống nhất một bộ SGK phổ thông toàn quốc từ năm học 2026 - 2027 và hoàn thành cung cấp miễn phí SGK cho tất cả học sinh đến năm 2030 [46].

Từ góc nhìn quản trị nhà nước và giáo dục đào tạo, bước ngoặt này thể hiện sự lãnh đạo chiến lược, kịp thời của Đảng, với nhận thức sâu sắc rằng mô hình “một chương trình, nhiều SGK” dù đã mang lại một số thành tựu trong huy động nguồn lực xã hội và đa dạng hóa học liệu, nhưng qua thực tiễn đã bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng về chênh lệch vùng miền, gánh nặng lựa chọn, chi phí xã hội và đứt gãy liên thông kiến thức [47]. Việc trở về thống nhất không phải là quay lùi mà là sự điều chỉnh khoa học, phù hợp với bối cảnh Việt Nam - một quốc gia đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải đảm bảo tính đồng bộ cao, công bằng xã hội và hiệu quả quản lý nhà nước [48]. Ngày 26/12/2025, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT, chính thức lựa chọn bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống” (do NXB Giáo dục Việt Nam chủ biên) làm bộ sách thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027 [49].

Việc chọn bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” dựa trên các nguyên tắc khoa học, sư phạm nghiêm ngặt, được đánh giá toàn diện qua thực tiễn sử dụng từ năm 2020 đến 2025 [50]. Đây là bộ sách phổ biến nhất, được triển khai rộng rãi tại tất cả 34 tỉnh/thành phố, với quy mô học sinh lớn nhất trong các bộ SGK hiện hành, chiếm tỷ lệ sử dụng ổn định cao nhờ tính liên thông mạch lạc, cấu trúc bài học rõ ràng, nội dung gần gũi thực tiễn và phù hợp Chương trình GDPT 2018 [51]. Bộ sách này bảo đảm đầy đủ, đồng bộ tất cả môn học và hoạt động giáo dục ở ba cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), chất lượng khoa học - sư phạm được khẳng định qua phản hồi từ giáo viên, học sinh và chuyên gia; đồng thời có tính kế thừa cao từ các bộ sách trước, giảm thiểu xáo trộn trong chuyển đổi [52]. NXB Giáo dục Việt Nam, với năng lực kỹ thuật, kho vận và phân phối mạnh mẽ, đảm bảo cung ứng kịp thời, chất lượng trên toàn quốc, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước và hạn chế tác động tiêu cực đến đội ngũ giáo viên - học sinh - phụ huynh [53]. Đây là lựa chọn tối ưu, không chỉ về mặt sư phạm mà còn về quản trị nhà nước, khẳng định nguyên tắc Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng học liệu quốc gia, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho chuyển đổi số [54].

Từ quan điểm quản trị nhà nước, việc thống nhất SGK mang ý nghĩa sâu sắc trong việc giảm bất bình đẳng vùng miền, đặc biệt ở khu vực miền núi, biên giới, hải đảo và đồng bào dân tộc thiểu số, nơi trước đây gặp khó khăn trong lựa chọn và tiếp cận học liệu đa dạng [55]. Thống nhất giúp giáo viên tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giảm áp lực lựa chọn tài liệu và đảm bảo chuẩn kiến thức - kỹ năng đồng đều toàn quốc, thuận lợi cho thi cử, đánh giá và chuyển trường [56]. Quan trọng hơn, đây là cơ sở then chốt để đẩy mạnh chuyển đổi số học liệu: xây dựng kho học liệu số quốc gia mở, số hóa toàn bộ SGK, tích hợp trí tuệ nhân tạo cá nhân hóa học tập, phát triển học bạ số và nền tảng dạy học trực tuyến liên thông [57]. Lộ trình miễn phí SGK đến năm 2030 (ưu tiên vùng khó khăn trước) sẽ giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh, thúc đẩy công bằng xã hội, đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục miễn phí, chất lượng cao cho mọi trẻ em Việt Nam [58].

Bước ngoặt 2025 không chỉ khép lại giai đoạn thử nghiệm xã hội hóa mà còn mở ra kỷ nguyên mới cho GDPT Việt Nam: thống nhất để đồng bộ, số hóa để hiện đại, miễn phí để công bằng [59]. Đây là minh chứng sống động cho định hướng quản trị nhà nước trong kỷ nguyên đột phá, nơi giáo dục được đặt ở vị trí trung tâm, phục vụ khát vọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Định hướng tư vấn chính sách quản trị nhà nước: Từ phản ứng đến dự báo chiến lược

Lịch sử hành trình chương trình và SGK phổ thông Việt Nam từ 1945 đến nay đã minh chứng rõ nét rằng, quản trị giáo dục hiệu quả phải dựa trên nguyên tắc ổn định chính sách, minh bạch quản lý và dự báo chiến lược dài hạn, thay vì các phản ứng ngắn hạn trước những biến động xã hội hoặc áp lực nhất thời [60]. Việc chuyển đổi từ mô hình “một chương trình, nhiều SGK” (2020 - 2025) trở về thống nhất một bộ sách quốc gia từ năm học 2026 - 2027 không phải là sự lùi bước hay phủ nhận xã hội hóa, mà là sự khẳng định vai trò dẫn dắt chủ động của Nhà nước trong việc bảo vệ công bằng xã hội, hiệu quả nguồn lực và định hướng tư tưởng thống nhất trong GDPT - một lĩnh vực mang tính quốc sách hàng đầu [61]. Đây là bước điều chỉnh khoa học, dựa trên đánh giá thực tiễn khách quan, nhằm khắc phục các bất cập đã lộ rõ như chênh lệch vùng miền, gánh nặng lựa chọn và thiếu liên thông kiến thức, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho chuyển đổi số và miễn phí học liệu trong kỷ nguyên đột phá [62].

Từ góc nhìn quản trị nhà nước chuyên ngành giáo dục đào tạo, trong giai đoạn tương lai gần (2026 - 2035), cần tập trung xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, dự báo xa, với các định hướng trọng tâm sau đây nhằm thực hiện thành công Nghị quyết 71-NQ/TW (2025) và Nghị quyết 281/NQ-CP (2025):

Thứ nhất, luật hóa cơ chế thống nhất kết hợp linh hoạt: Giữ vững một bộ SGK quốc gia làm cốt lõi (bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” được chọn làm thống nhất từ 2026 - 2027) để đảm bảo đồng bộ kiến thức, định hướng chính trị - tư tưởng và công bằng tiếp cận tri thức trên toàn quốc [63]. Đồng thời, cho phép địa phương bổ sung nội dung đặc thù (văn hóa dân tộc, lịch sử vùng miền, ngôn ngữ địa phương) dưới dạng tài liệu hướng dẫn hoặc module bổ trợ, được thẩm định bởi Hội đồng quốc gia độc lập. Kết hợp chặt chẽ với học liệu số mở, mở rộng kho tài nguyên điện tử quốc gia để giáo viên và học sinh cá nhân hóa học tập, phù hợp đặc thù từng đối tượng, từng vùng miền, từ đó cân bằng giữa thống nhất quốc gia và đa dạng địa phương [64].

Thứ hai, chuyển đổi số toàn diện và bền vững: Xây dựng hệ sinh thái học liệu số quốc gia thống nhất, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ cá nhân hóa dạy - học, học bạ số, đánh giá trực tuyến và nền tảng học tập suốt đời [65]. Đảm bảo mọi học sinh tiếp cận miễn phí SGK điện tử từ năm 2030, ưu tiên vùng khó khăn trước, kết nối với lộ trình cung cấp sách in miễn phí toàn quốc [66]. Nhà nước cần đầu tư mạnh hạ tầng số (mạng broadband trường học, thiết bị thông minh), đào tạo giáo viên sử dụng AI hiệu quả, đồng thời xây dựng cơ chế bảo mật dữ liệu và an ninh mạng giáo dục, hướng tới mục tiêu 100% cơ sở giáo dục đạt chuẩn chuyển đổi số vào năm 2035 [67].

Thứ ba, tăng đầu tư có trọng điểm và hiệu quả: Phấn đấu duy trì và nâng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo ở mức tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước (theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW), ưu tiên phân bổ cho vùng khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo và đồng bào dân tộc thiểu số [68]. Đồng thời, khuyến khích xã hội hóa ở các khâu bổ trợ như tài liệu tham khảo nâng cao, công nghệ hỗ trợ dạy học (phần mềm AI, thực tế ảo), quỹ học bổng tư nhân và hợp tác công - tư (PPP) trong xây dựng cơ sở vật chất, nhằm giảm gánh nặng ngân sách mà vẫn đảm bảo chất lượng và công bằng [69].

Thứ tư, đánh giá độc lập và điều chỉnh định kỳ: Thành lập Hội đồng quốc gia thẩm định SGK và chương trình độc lập (với sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học, giáo viên thực tiễn và đại diện xã hội), thực hiện chỉnh lý SGK định kỳ 5 - 10 năm/lần dựa trên dữ liệu thực tiễn sử dụng, phản hồi từ cơ sở và xu hướng giáo dục toàn cầu (như STEM, kỹ năng thế kỷ 21, giáo dục bền vững) [70]. Xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá độc lập hàng năm về chất lượng GDPT, công khai minh bạch kết quả để điều chỉnh chính sách kịp thời, tránh tình trạng phản ứng thụ động trước các vấn đề phát sinh [71].

Chỉ khi Nhà nước quản trị giáo dục với tầm nhìn chiến lược dài hạn, dự báo khoa học và trách nhiệm cao trước dân tộc, chúng ta mới thực sự biến giáo dục thành động lực then chốt cho sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng [72]. Sự thống nhất SGK từ năm 2026 không chỉ là một chính sách kỹ thuật mà là lời cam kết sâu sắc của Đảng và Nhà nước: Mọi trẻ em Việt Nam, dù sinh ra ở bất kỳ vùng miền nào, đều xứng đáng tiếp cận tri thức đồng đều, chất lượng cao và nhân văn - nền tảng vững chắc cho một Việt Nam công bằng, hiện đại và hội nhập vào năm 2045 [73].

Tài liệu tham khảo, trích dẫn

[1], [49], [62] Bộ GD&ĐT (2025). Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT ngày 26/12/2025 về bộ SGK GDPT sử dụng thống nhất toàn quốc.

[2], [44], [45], [60] Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển GD&ĐT.

[3], [46], [57], [61] Chính phủ (2025). Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW.

[4] Bộ Chính trị (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

[5], [17] Bộ GD&ĐT (2023). “Tóm lược Lịch sử phát triển GD&ĐT Việt Nam”. Cổng thông tin điện tử Bộ GD&ĐT.

[6], [14] Nguyễn Thị Thế (2023). “Thực hiện các nguyên tắc “dân tộc, khoa học, đại chúng” trong phát triển văn hóa Việt Nam”. Tạp chí Lý luận chính trị.

[7] Vũ Ngọc Phương (2021). “Lược sử Giáo dục và Cải cách giáo dục ở Việt Nam”. Nghiên cứu Lịch sử.

[8], [16] NXB Giáo dục Việt Nam (2023). “SGK Việt Nam qua các thời kì”.

[9] Bộ GD&ĐT (2023). “Tóm lược Lịch sử phát triển GD&ĐT Việt Nam” (phần cải cách 1950).

[10] Chi tiết những lần đổi mới chương trình, SGK của Việt Nam (2022). Giáo dục Việt Nam.

[11] SGK qua các thời kỳ đổi mới (2022). Báo Giáo dục và Thời đại Online.

[12] Cải cách giáo dục ở Việt Nam - Wikipedia tiếng Việt (cập nhật 2025).

[13] NXB Giáo dục Việt Nam (2023). Lịch sử phát triển.

[15] [24] Báo Dân trí (2025). “Hành trình 80 năm ngành Giáo dục: Những cuộc cải cách chấn hưng giáo dục”.

[18] Báo Giáo dục và Thời đại Online (2022). “SGK qua các thời kỳ đổi mới”.

[19] Giáo dục Việt Nam (2022). “Chi tiết những lần đổi mới chương trình, SGK của Việt Nam”.

[20] Wikipedia tiếng Việt (cập nhật 2025). “Cải cách giáo dục ở Việt Nam”.

[21] VnExpress (2022). “Bốn lần Việt Nam thay SGK”.

[22] Báo Thái Nguyên điện tử (2022). “Nhìn lại những lần thay SGK của giáo dục Việt Nam”.

[23] NXB Giáo dục Việt Nam (2023). Lịch sử SGK qua các thời kỳ.

[25] Tạp chí Cộng sản (2018). “Những thành tựu cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ khi Đổi mới đến nay”.

[26] Báo Nhân Dân điện tử (2005). “Đổi mới giáo dục - đào tạo, thành tựu và thách thức”.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). “80 năm giáo dục phát triển đất nước - Bài 4: Đổi mới và phát triển”.

[28] Quốc hội (2000). “Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về đổi mới chương trình GDPT”.

[29] Quốc hội (2014). “Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, SGK GDPT”.

[30] Bộ GD&ĐT (2018). “Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình GDPT”.

[31] Bộ GD&ĐT (2023). “Báo cáo thực hiện Nghị quyết 88/2014/QH13”.

[32] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). “Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”.

[33] Bộ GD&ĐT (2025). “Hội nghị tổng kết triển khai chương trình, SGK giai đoạn 2020 - 2025”.

[34] NXB Giáo dục Việt Nam (2025). “Các bộ SGK phổ thông 2018”.

[35] Giáo dục Việt Nam (2022). “Đánh giá mô hình một chương trình nhiều SGK”.

[36] Báo Giáo dục và Thời đại (2023). “Kinh nghiệm quốc tế về đa dạng SGK”.

[37] Tạp chí Cộng sản (2024). “Đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29”.

[38] Báo Dân trí (2025). “Bất cập SGK đa dạng ở vùng khó khăn”.

[39] VnExpress (2024). “Khó khăn lựa chọn SGK địa phương”.

[40] VietnamNet (2025). “Chi phí SGK và xã hội hóa”.

[41] Thanh Niên (2025). “Đứt gãy kiến thức khi chuyển trường”.

[42] Bộ Chính trị (2024). “Kết luận 91-KL/TW về tiếp tục đổi mới giáo dục”.

[43] Bộ GD&ĐT (2025). “Quyết định thống nhất bộ SGK từ 2026 - 2027”.

[47] Bộ GD&ĐT (2025). “Báo cáo đánh giá thực tiễn mô hình một chương trình nhiều SGK giai đoạn 2020 - 2025”.

[48] Báo Chính phủ (2025). “Kết nối tri thức với cuộc sống là SGK thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027”.

[50] VietnamPlus (2025). “Bộ GD&ĐT chính thức công bố bộ SGK thống nhất toàn quốc”.

[51] Giáo dục Việt Nam (2025). “Từ năm học 2026 - 2027: Cả nước sử dụng thống nhất bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống””.

[52] VnExpress (2025). “Kết nối tri thức với cuộc sống được Bộ GD&ĐT chọn là bộ SGK thống nhất cả nước”.

[53] Báo Dân trí (2025). “Bộ Giáo dục chốt bộ SGK thống nhất toàn quốc”.

[54] NXB Giáo dục Việt Nam (2025). “Thông tin về bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống”.

[55] Báo Nhân Dân (2025). “Tạo đột phá phát triển giáo dục, đào tạo”.

[56] Thanh Niên (2025). “Bộ GD&ĐT đã chọn một bộ SGK thống nhất toàn quốc”.

[58] Luật Việt Nam (2025). “Từ năm học 2026 - 2027 thống nhất toàn quốc một bộ SGK; đến năm 2030 cung cấp miễn phí”.

[59] Tạp chí Giáo dục (2025). “Nghị quyết 71 mở đường cho giai đoạn mới - đột phá phát triển GD&ĐT”.

[63] Báo Chính phủ (2025). “Kết nối tri thức với cuộc sống là SGK thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027”.

[64] Bộ GD&ĐT (2025). Báo cáo đánh giá thực tiễn mô hình một chương trình nhiều SGK.

[65] Bộ GD&ĐT (2024). “Kế hoạch tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số năm 2025”.

[66] Quốc hội (2025). Nghị quyết về cơ chế đặc thù phát triển giáo dục đào tạo (liên quan miễn phí SGK đến 2030).

[67] Thủ tướng Chính phủ (2022, cập nhật 2025). Đề án chuyển đổi số giáo dục giai đoạn 2022 - 2025, định hướng 2030.

[68] Nghị quyết 71-NQ/TW (2025). Mục tiêu chi tối thiểu 20% ngân sách cho giáo dục.

[69] Báo Dân trí (2025). Các chính sách ưu tiên vùng khó khăn trong giáo dục.

[70] Bộ GD&ĐT (2025). Kế hoạch thẩm định và chỉnh lý SGK định kỳ.

[71] Tạp chí Giáo dục (2025). “Đánh giá độc lập và điều chỉnh chương trình giáo dục”.

[72] Tổng Bí thư Tô Lâm (2025). Phát biểu tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết 71-NQ/TW.

[73] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Tầm nhìn giáo dục đến năm 2045 theo Nghị quyết Đại hội XIV (dự thảo).

LÊ HÙNG

Học viện Chính trị khu vực I

NGUYỄN ANH TUẤN

Trường THPT Lê Quảng Chí, tỉnh Hà Tĩnh