Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự là một dạng trách nhiệm dân sự, theo đó người thực hiện hành vi phạm tội có nghĩa vụ khắc phục những tổn thất về vật chất và tinh thần do mình gây ra.
Khác với các vụ án dân sự thuần túy, BTTH trong vụ án hình sự có những đặc thù riêng biệt:
- Về thủ tục: Được giải quyết cùng lúc với quá trình giải quyết vụ án hình sự theo trình tự tố tụng hình sự.
- Về nghĩa vụ chứng minh: Thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án) thay vì chỉ do các đương sự tự thu thập.
- Về chủ thể: Gắn liền với nhân thân người phạm tội và tính chất nguy hiểm của tội phạm.
Các quy định hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Tại Điều 584 BLDS năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại như sau:
“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 nêu trên”.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều 584 của BLDS như sau:
- Có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác;
- Có thiệt hại xảy ra là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần;
Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm.
Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất đó.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Nguyên tắc và năng lực bồi thường
Pháp luật Việt Nam ưu tiên nguyên tắc “thỏa thuận” và “bồi thường toàn bộ, kịp thời”. Tuy nhiên, mức bồi thường có thể được xem xét giảm nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: (i) Lỗi vô ý và (ii) thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người phạm tội.
Về năng lực bồi thường, Điều 586 BLDS 2015 quy định rõ theo độ tuổi và năng lực hành vi dân sự. Đối với người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi gây thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện quản lý thì các tổ chức này phải chịu trách nhiệm bồi thường trừ khi chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý.
Những bất cập và hạn chế của quy định pháp luật hiện hành
Qua thực tiễn xét xử, tác giả nhận thấy một số nút thắt pháp lý sau:
Bất cập về mức bồi thường tổn thất tinh thần
Hiện nay, mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa khi sức khỏe bị xâm phạm là 50 lần mức lương cơ sở và đối với tính mạng bị xâm phạm là 100 lần mức lương cơ sở.
Quy định về mức bồi thường tối đa này chưa tương xứng với những thiệt hại phi vật chất trong các trường hợp đặc biệt (ví dụ: Bị hại là lao động duy nhất, hoặc bị thương tật trên 81% sống thực vật). Và việc thiếu quy định mức tối thiểu dẫn đến sự tùy nghi trong phán quyết của Hội đồng xét xử.
Sự thiếu thống nhất trong xác định chi phí mai táng và phục hồi sức khỏe
Về chi phí mai táng: Mặc dù thực tiễn thường căn cứ vào “mức trung bình tại địa phương”, nhưng hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa rõ “mức trung bình” là bao nhiêu, bao gồm những đầu mục chi phí cụ thể nào (kèn trống, lễ bái...).
Về chi phí phục hồi sức khỏe: Quy định về mức thuê người chăm sóc, chi phí đi lại cho thân nhân người bị hại còn định tính, thiếu định lượng, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất.
Vướng mắc trong quy định về nghĩa vụ hạn chế thiệt hại
Điều 585 BLDS 2015 quy định bên bị thiệt hại không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn. Quy định này khi áp dụng vào vụ án hình sự (đặc biệt là tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe) khó xác định thế nào là biện pháp “hợp lý” trong tình huống khẩn cấp.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, sửa đổi quy định về mức bồi thường tổn thất tinh thần. Cần xây dựng khung bồi thường linh hoạt hơn. Đối với trường hợp thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng (chết nhiều người, thương tật vĩnh viễn mức độ cao), cần bãi bỏ mức trần hoặc nâng mức trần lên cao hơn. Đồng thời, cần quy định mức bồi thường tối thiểu để bảo vệ quyền lợi người bị hại.
Thứ hai, ban hành hướng dẫn chi tiết về “chi phí hợp lý”. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần ban hành Nghị quyết mới (thay thế hoặc bổ sung Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP) để định nghĩa rõ:
- Danh mục các khoản chi phí mai táng được chấp nhận theo phong tục tập quán nhưng không vượt quá một khung giá cố định.
- Cách tính cụ thể công người chăm sóc dựa trên mức thu nhập trung bình của lao động phổ thông tại địa phương.
Thứ ba, định lượng hóa điều kiện “Thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế”. Cần có tiêu chí rõ ràng (ví dụ: khoản bồi thường gấp bao nhiêu lần thu nhập trung bình 05 năm của người phạm tội) để Tòa án có căn cứ cho hưởng mức giảm bồi thường, tránh việc áp dụng tùy tiện.
Thứ tư, loại trừ nghĩa vụ hạn chế thiệt hại trong một số trường hợp. Cần quy định rõ không áp dụng nguyên tắc “người bị thiệt hại phải có biện pháp ngăn chặn” đối với các tội danh xâm phạm tính mạng, sức khỏe mà người bị hại ở vào tình thế không thể tự vệ hoặc bị tấn công bất ngờ.
ĐỖ VĂN DUY
Toà án quân sự khu vực Quân khu 3,
HOÀNG XUÂN HƯNG
Toà án quân sự Thủ đô Hà Nội.

