1. Đặt vấn đề
Ngày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định có hiệu lực từ ngày 18/5/2026, thay thế Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
Trong các quy phạm liên quan đến hoạt động hành nghề luật sư, điểm e khoản 7 Điều 8 quy định phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi “ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Ảnh minh họa. Nguồn: Congly.vn.
Quy phạm này không phải là quy định mới. Nó được giữ nguyên câu chữ từ điểm e khoản 6 Điều 6 Nghị định 82/2020/NĐ-CP đã có hiệu lực từ 01/9/2020. Gần 6 năm tồn tại trong hệ thống pháp luật, quy phạm này chưa một lần được đưa ra phân tích dưới góc độ kỹ thuật lập pháp một cách đầy đủ. Bài viết này tiếp cận quy định từ ba tiêu chí cấu thành của một quy phạm xử phạt vi phạm hành chính hợp lệ, đó là tính xác định của hành vi vi phạm, tính xác định của khách thể bị xâm hại và sự không chồng lấn giữa các ngành luật điều chỉnh.
2. Khung tiêu chí đánh giá tính xác định của quy phạm xử phạt vi phạm hành chính
Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 định nghĩa vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Định nghĩa này đặt ra ba yêu cầu đồng thời. Thứ nhất, phải có hành vi xác định được. Thứ hai, hành vi ấy phải xâm phạm một quan hệ pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Thứ ba, hành vi ấy phải được pháp luật quy định là hành vi bị xử phạt. Điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 xác lập một nguyên tắc nền tảng, đó là chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Nguyên tắc này là hệ quả trực tiếp của nguyên tắc “nullum crimen sine lege” trong khoa học pháp lý, theo đó không ai bị xử phạt khi hành vi không được mô tả rõ ràng trong văn bản pháp luật trước thời điểm thực hiện. Tính xác định của hành vi không phải là yêu cầu hình thức mà là điều kiện để người chịu sự điều chỉnh của pháp luật có thể biết trước ranh giới giữa hợp pháp và bất hợp pháp.
3. Ba khiếm khuyết kỹ thuật của điểm e khoản 7 Điều 8 Nghị định 109/2026
Tác giả cho rằng điểm e khoản 7 Điều 8 Nghị định 109/2026 bộc lộ ba khiếm khuyết kỹ thuật lập pháp nghiêm trọng.
3.1. Khiếm khuyết về tính xác định của hành vi vi phạm
Khiếm khuyết thứ nhất nằm ở tính xác định của chính hành vi. Quy phạm liệt kê ba loại hành vi có thể bị xử phạt, gồm “ứng xử”, “phát ngôn” và “có hành vi”. Cả ba khái niệm đều là phạm trù mở không giới hạn. Tiêu chí “Ứng xử” bao trùm mọi cách thức giao tiếp và hành động trong quan hệ xã hội. Còn “Phát ngôn” bao gồm mọi dạng lời nói và biểu đạt bằng văn bản. Trong khi đó “Có hành vi” lặp lại khái niệm gốc một cách lặp lại và không thu hẹp được gì. Khi ba khái niệm mở như vậy được đặt liền nhau thì chúng không tạo thành một tập hợp có ranh giới rõ ràng và tạo thành một khoảng trống khái niệm mà bất kỳ biểu hiện nào của đời sống nghề nghiệp đều có thể rơi vào. Một luật sư trả lời phỏng vấn báo chí về một vụ án đang điều tra thì được xem là đang “phát ngôn”. Một luật sư viết bài phân tích pháp lý trên mạng xã hội cũng được xem là “phát ngôn”. Một luật sư tranh luận tại Tòa bằng giọng điệu gay gắt là “ứng xử”. Tất cả đều có thể bị đưa vào phạm vi của quy phạm nếu cơ quan áp dụng quyết định làm như vậy và không có căn cứ văn bản nào để người luật sư biết trước hành vi nào sẽ bị xác định là vi phạm.
3.2. Khiếm khuyết về tính xác định của khách thể bị xâm hại
Khiếm khuyết thứ hai nằm ở tính xác định của khách thể bị xâm hại. Một quy phạm xử phạt hành chính phải xác định rõ khách thể được pháp luật bảo vệ. Đây là căn cứ để người áp dụng đánh giá mức độ xâm hại và lượng hóa chế tài. Điểm e khoản 7 Điều 8 xác định hai khách thể song song. Khách thể thứ nhất là “hình ảnh, uy tín của nghề luật sư”. Khách thể thứ hai là “quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Cả hai khách thể này đều có vấn đề nghiêm trọng về mặt pháp lý.
“Hình ảnh, uy tín của nghề luật sư” không phải là khách thể được bảo hộ trong bất kỳ văn bản luật nào của Việt Nam. Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền nhân thân của cá nhân. Điều 592 của cùng Bộ luật quy định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là thiệt hại của cá nhân cụ thể với mức bù đắp tổn thất tinh thần không quá 10 lần mức lương cơ sở. Tổ chức cũng có thể là chủ thể của quyền bảo vệ uy tín theo Điều 584 nếu xét đến cụm từ “quyền, lợi ích hợp pháp khác” áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân.
Nhưng “nghề luật sư” không phải là cá nhân, cũng không phải là pháp nhân. Nó là một khái niệm tập hợp, một phạm trù nghề nghiệp trừu tượng, không có chủ thể đại diện hợp pháp theo nghĩa luật tư. Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp có tư cách pháp nhân và uy tín của Liên đoàn có thể được bảo vệ theo quy định chung về bảo vệ uy tín của pháp nhân. Nhưng uy tín của “nghề luật sư” nói chung không thuộc về Liên đoàn và cũng không thuộc về bất kỳ chủ thể xác định nào khác. Khi một quy phạm xử phạt lấy một khách thể không có chủ thể đại diện làm căn cứ thì nó rơi vào tình trạng không thể xác định ai là người bị thiệt hại, thiệt hại là gì và căn cứ nào để lượng hóa mức phạt từ 20 đến 30 triệu đồng.
Vế thứ hai của khách thể, “quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”, dẫn đến khiếm khuyết thứ ba. Đó là sự chồng lấn với các ngành luật khác mà vẫn duy trì sự mơ hồ. Nếu một hành vi của luật sư thực sự gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của một chủ thể xác định thì đây là một quan hệ pháp luật dân sự điển hình thuộc phạm vi điều chỉnh của Chương XX Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Khoản 1 Điều 584 quy định người có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 6/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn chi tiết ba điều kiện phát sinh trách nhiệm này, gồm có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.
3.3. Khiếm khuyết về sự chồng lấn với các ngành luật điều chỉnh
Như vậy khi một luật sư có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của một cá nhân hoặc tổ chức cụ thể thì chủ thể bị xâm phạm đã có sẵn con đường pháp lý là khởi kiện dân sự để yêu cầu bồi thường. Nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì Bộ luật Hình sự sẽ áp dụng với các tội danh tương ứng như Vu khống, Làm nhục người khác, Lợi dụng các quyền tự do dân chủ. Tác giả cho rằng đặt thêm một chế tài xử phạt hành chính giữa hai ngành luật này không giải quyết thêm bất kỳ nhu cầu điều chỉnh nào mà chỉ tạo ra sự chồng lấn.
Nghiêm trọng hơn là sự chồng lấn này cho phép một cơ quan hành chính can thiệp vào một vùng quan hệ pháp luật vốn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thông qua thủ tục tố tụng dân sự. Một chủ thể tự cho rằng mình bị luật sư xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp không cần phải khởi kiện, không cần phải chứng minh thiệt hại thực tế, không cần phải chứng minh mối quan hệ nhân quả. Họ chỉ cần gửi đơn đề nghị cơ quan hành chính xử phạt và cơ quan hành chính có quyền quyết định mà không phải tuân thủ các nguyên tắc tố tụng dân sự về tranh tụng và chứng cứ. Đây là sự dịch chuyển quyền tài phán từ tư pháp sang hành pháp một cách âm thầm thông qua một điều khoản Nghị định.
4. Hệ quả thực tiễn của các khiếm khuyết kỹ thuật
Ba khiếm khuyết kỹ thuật trên không phải là vấn đề về ý định lập pháp mà là vấn đề về kỹ thuật lập pháp. Tác giả không nghi ngờ mục đích của nhà soạn thảo khi đưa điểm e vào Nghị định. Có lẽ họ muốn xử lý những trường hợp luật sư ứng xử thiếu chừng mực làm ảnh hưởng đến uy tín của giới hành nghề. Nhưng mục đích đúng không thể biện minh cho công cụ sai. Một quy phạm xử phạt thiếu tính xác định sẽ tất yếu tạo ra sự tùy nghi trong áp dụng và sự tùy nghi trong áp dụng sẽ tất yếu dẫn đến bất bình đẳng giữa các trường hợp tương tự.
Một luật sư ở địa phương này có thể bị phạt 30 triệu đồng vì một phát ngôn trên Facebook, trong khi một luật sư ở địa phương khác có thể không bị xử lý với phát ngôn tương tự. Sự bất bình đẳng này không phải do cơ quan áp dụng thiếu thiện chí mà do chính bản thân quy phạm không cung cấp tiêu chí khách quan để áp dụng thống nhất.
5. Kiến nghị sửa đổi
Thứ nhất, bỏ toàn bộ vế “ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư” khỏi điều khoản, vì vế này vi phạm yêu cầu về tính xác định của hành vi và không có khách thể pháp lý hợp lệ. Việc xử lý các hành vi thiếu chừng mực của luật sư nên được giao cho cơ chế kỷ luật của Đoàn luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam theo Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
Thứ hai, loại bỏ vế “gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” vì vế này chồng lấn với Chương XX Bộ luật Dân sự 2015 và có thể dịch chuyển tranh chấp dân sự sang xử phạt hành chính một cách không phù hợp.
Thứ ba, nếu vẫn muốn giữ một quy phạm xử phạt riêng cho một số hành vi cụ thể, cần liệt kê rõ ràng từng loại hành vi. Chẳng hạn hành vi xúc phạm cá nhân người khác qua phương tiện thông tin đại chúng khi chưa đến mức hình sự, hành vi cung cấp thông tin sai sự thật về vụ án đang điều tra, hành vi lợi dụng tư cách luật sư để quảng cáo trái quy định. Khi hành vi được xác định cụ thể, quy phạm mới đáp ứng được nguyên tắc chỉ xử phạt khi có hành vi vi phạm do pháp luật quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
6. Kết luận
Tính chính đáng của một quy phạm pháp luật không chỉ nằm ở mục đích mà nhà làm luật theo đuổi mà còn nằm ở chất lượng kỹ thuật của chính quy phạm đó. Một quy phạm xử phạt không xác định được hành vi, không xác định được khách thể và chồng lấn với các ngành luật khác là quy phạm không đáp ứng yêu cầu tối thiểu của pháp chế. Điểm e khoản 7 Điều 8 Nghị định 109/2026 cần được sửa đổi theo hướng làm rõ từng yếu tố cấu thành hoặc được bãi bỏ để trả lại không gian điều chỉnh cho các thiết chế phù hợp hơn. Đó là cơ chế tự quản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam đối với hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp và hệ thống Tòa án đối với tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức cụ thể.
Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ
Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

