Khung hình phạt quá rộng, các tội danh luật quy định phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm; 06 tháng đến 05 năm; 03 năm đến 10 năm hoặc 12 năm đến 20 năm… dẫn đến tình trạng Tòa án tuyên phạt không thống nhất khi xét xử. Cùng một tội danh và tính chất phạm tội như nhau, nhưng nơi này tuyên mức án thấp, nơi khác mức án cao, hoặc ở cùng một Tòa, lúc xử mức án cao lúc lại xử thấp.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Khung hình phạt nêu trên còn mâu thuẫn với nội dung phân loại tội phạm. Tại điểm a khoản 1 Điều 9: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội có mức phạt tù đến 03 năm; điểm b tội phạm nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt tù, quy định từ trên 03 năm đến 07 năm; hoặc theo điểm c, tội phạm rất nghiêm trọng, là tội có mức cao nhất của khung hình phạt tù quy định từ trên 07 năm đến 15 năm. Về lý thuyết, nếu người phạm tội bị áp dụng khung hình phạt có mức từ 06 tháng đến 05 năm tù thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hay tội nghiêm trọng?; hoặc áp dụng khung hình phạt có mức từ 03 năm đến 10 năm tù, là tội nghiêm trọng hay tội rất nghiêm trong?
Về quyết định hình phạt tù dưới mức thấp nhất
Điều 54 quy định người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51, được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phạm tội, hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn. Đối với người phạm tội lần đầu là gười giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.
Về án treo
Theo Điều 65, khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm. Án treo được xem là hình thức miễn chấp hành hình phạt tù, khi người bị xử hội đủ các điều kiện: Về định lượng không quá 03 năm; nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; nhiều tình tiết giảm nhẹ. Việc cho hưởng án treo còn phụ thuộc vào ý chí của người xét xử bởi: “Nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt”.
Hai nội dung quy phạm nêu trên, rất dễ phát sinh tâm lý cảm tính “nhẹ tay” và là điều kiện cho ý chí tùy nghi của những người tiến hành xét xử. Trên thực tế, nhiều vụ người phạm tội bị xử phạt rất nhẹ, không tương xứng với hậu quả tác hại mà họ gây ra.
Tại Điều 32, Bộ luật Hình sự quy định hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt chính: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình (khoản 1). Hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính (khoản 2).
Xét về tính chất trong khái niệm hình phạt tại Điều 30, hình phạt tử hình, phạt tù và phạt tiền, mang đầy đủ ý nghĩa cưỡng chế nghiêm khắc nhất, còn các loại hình phạt khác, chỉ là biện biện pháp răng đe giáo dục, có tác dụng như loại hình xử phạt hành chính. Trong thực tiễn xét xử, phổ biến nhất vẫn là phạt tù và phạt tiền, rất ít khi Tòa án áp dụng hình phạt cảnh cáo, hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc một số loại hình phạt bổ sung khác. Riêng về trục xuất chỉ được xem là hình phạt bổ sung, không thể xếp thành hình phạt chính, bởi nội hàm của trục xuất là cưỡng bức đưa người phạm tội không có quốc tịch Việt Nam, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài ra khỏi lãnh thỗ quốc gia. Trục xuất không phải là biện pháp tước đoạt quyền lợi của người phạm tội như các loại hình phạt nghiêm khắc khác.
Trong đời sống xã hội, tình trạng người này chủ động dùng vũ lực, tác động vào đối phương để giải quyết mâu thuẫn không nhằm mục đích phòng vệ, diễn ra ở nhiều nơi. Luật hình sự hiện hành chỉ xác định hành vi tấn công người khác cấu thành tội phạm khi có thương tích đạt chuẩn quy định, hoặc gián tiếp gây thiệt hại cho những đối tượng khác, nếu không có hậu quả thiệt hại sảy ra, thì không phạm tội. Xét về tính chất, hành động dùng vũ lực, chủ động tấn công người khác là nguy hiểm, cần phải quy định thành tội phạm, bởi hành vi đó xâm hại trực tiếp quyền bất khả xâm phạm về thân thể được quy định tại Điều 20 Hiến pháp. Hành vi dùng vũ lực tấn công người khác (không nhằm mục đính phòng vệ), cần phải đưa vào luật thành một tội danh độc lập, hoặc bổ sung vào tội danh Làm nhục người khác tại Điều 155 với tiêu đề: Tội "Hành hung" hoặc "Làm nhục người khác".
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Bộ luật Hình sự nên biên soạn lại theo hướng thay đổi kết cấu phần chế tài, định lượng luỹ tiến thời gian hình phạt. Bỏ loại hình tù chung thân và những loại hình phạt không có tính nghiêm khắc khác; quy định tỉ lệ thời gian các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo mức phạt đựơc áp dụng. Mỗi khung tội danh chỉ xác định 03 bậc, phân loại tội phạm cũng cần điều chỉnh lại theo hướng bỏ mức tối thiễu và lấy mức tối đa làm chuẩn cho phù hợp với sự thay đổi định lượng thời gian nêu trên.
Về hình phạt chính: Bỏ hình thức phạt cảnh cáo; phạt cải tạo không giam giữ; phạt trục xuất; phạt tù chung thân. Giữ lại hình thức phạt tù có thời hạn, phạt tiền và phạt tử hình; hình phạt tiền cũng quy định 03 bậc như hình phạt tù. Trường hợp vô ý phạm tội (điều 11) và những tội phạm tính chất nguy hiểm không cao, quy định cho người phạm tội được nộp tiền thay thế khi đã chấp hành được một thời gian nhất định. Đối với hình phạt tử hình, quy định áp dụng mức phạt tù cao nhất trong khung hình phạt, khi đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu không áp dụng tử hình. Riêng hình thức phạt tiền, chỉ quy định cho pháp nhân thương mại, không áp dụng cho cá nhân, lý do không áp dụng cho cá nhân là vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của những cá nhân khác có chung lợi ít với người phạm tội.
Về phân loại tội phạm và kết cấu khung bậc hình phạt quy định như sau:
Tội phạm ít nghiêm trọng 02 khung. Khung 1 có mức: 03 tháng, 06 tháng, 09 tháng; khung 2 có mức: 06 tháng, 12 tháng, 18 tháng.
Tội phạm nghiêm trọng 02 khung. Khung 1 có mức: 01 năm, 02 năm, 03 năm; khung 2 có mức: 02 năm, 04 năm, 06 năm.
Tội phạm rất nghiêm trọng 02 khung. Khung 1 có mức: 4 năm, 8 năm, 12 năm; khung 2 có mức: 08 năm, 16 năm, 24 năm.
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng 02 khung. Khung 1 có mức: 16 năm, 32 năm, 48 năm; khung 2 có mức: 32 năm, 64 năm và tử hình.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt. Tùy theo tính chất của mỗi tình tiết, cần quy định một tỉ lệ thời gian cụ thể. Ví dụ: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả được giảm 03 phần 10 thời gian mức phạt được áp dụng; người phạm tội tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, tăng 02 phần 10 thời gian mức phạt được áp dụng.
Khi xử án, tùy theo tính chất hành vi, hậu quả thiệt hại, nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định lấy một trong 03 mức phạt của khung được áp dụng, cộng với lượng thời gian tăng nặng và giảm nhẹ thành tổng thời gian tuyên phạt bị cáo. Ví dụ: Người phạm tội bị áp dụng mức 03 tháng có cả 02 tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trên đây, sau khi khấu trừ, tổng lượng thời gian tù bị cáo phải chịu là 02 tháng 21 ngày.
Chế tài hình sự là những quy phạm pháp lý chính yếu, là trụ cột của pháp luật hình sự. Nội dung đề xuất sửa đổi bổ sung đưa những quy định mới trong bài viết này nhằm hoàn thiện bộ luật, sát đúng với thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án.
Luật sư ĐOÀN CÔNG THIỆN

