/ Trao đổi - Ý kiến
/ Khi “ông lớn công nghệ” va chạm với trung tâm bản quyền: Ai đang thu tiền từ âm nhạc số?

Khi “ông lớn công nghệ” va chạm với trung tâm bản quyền: Ai đang thu tiền từ âm nhạc số?

20/05/2026 05:54 |

(LSVN) - Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, thị trường âm nhạc số tại Việt Nam đã chứng kiến những bước chuyển mình ngoạn mục, nhanh đến mức các khung khổ pháp lý hiện hành dường như rơi vào trạng thái "hụt hơi" trước thực tiễn. Hãy nhìn lại quá khứ, câu chuyện tranh chấp bản quyền vốn chỉ quanh quẩn nơi những chiếc băng đĩa, sân khấu biểu diễn hay các kênh phát thanh, truyền hình truyền thống. Còn giờ đây, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Mỗi video ngắn ngủi vỏn vẹn vài phút trên YouTube hay TikTok đều có thể biến thành "cỗ máy in tiền" mang về doanh thu hàng trăm triệu, thậm chí là hàng tỷ đồng.

Khi miếng bánh lợi nhuận ngày một lớn hơn, những xung đột nảy sinh là điều tất yếu. Một trong những cuộc đối đầu gay gắt và phức tạp nhất hiện nay chính là sự va chạm trực diện giữa các mạng đa kênh vận hành bằng nền tảng công nghệ (MCN) và các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả truyền thống (CMO). Bản chất của cuộc chiến này không đơn thuần là việc phân chia dòng tiền. Sâu xa hơn, đó là sự giằng co khốc liệt giữa "quyền lực công nghệ" – nơi nắm giữ dữ liệu, thuật toán cùng hệ thống Content ID – và "quyền lực pháp lý" – bên sở hữu cơ chế ủy quyền được pháp luật bảo hộ. Đáng buồn thay, đứng ở thế kẹt giữa làn đạn ấy lại chính là các nghệ sĩ, những người đôi khi chẳng thể biết nổi tác phẩm do mình mang nặng đẻ đau đang đem lại tiền cho ai.

Một bài hát nhưng có… hai người đi thu tiền. Thực trạng trớ trêu này đang diễn ra như một cơm bữa trong làng nhạc Việt:

Một nhạc sĩ đặt bút ký hợp đồng ủy quyền cho trung tâm bảo vệ quyền tác giả để quản lý "đứa con tinh thần" của mình trên mọi phương diện khai thác. Thế nhưng ở một diễn biến khác, ca sĩ thể hiện hoặc nhà sản xuất lại đem bản ghi ấy ký kết với một MCN để vận hành trên các hệ thống quét bản quyền như YouTube CMS hay TikTok Content Management.

Rắc rối bắt đầu từ đây, bởi các nền tảng số vốn không vận hành theo tư duy “chia lớp quyền” rạch ròi giống như luật pháp truyền thống. Khi thuật toán của YouTube quét qua một video, toàn bộ doanh thu quảng cáo sẽ được gom chung thành một dòng tiền tổng hợp duy nhất. Ngay lập tức, ngòi nổ tranh chấp kích hoạt. MCN tự tin khẳng định họ có quyền thu tiền vì đang nắm quyền quản lý bản ghi. Ngược lại, tổ chức đại diện tập thể cũng không vừa khi tuyên bố phần nhạc và lời đã được tác giả ủy quyền cho họ từ trước đó. Hệ quả là trên cùng một tác phẩm âm nhạc, cả hai đơn vị đều đồng thời giơ cao tấm biển khẳng định mình là người có quyền khai thác duy nhất.

Góc nhìn từ hệ thống pháp luật Việt Nam

Đối chiếu với luật thực định, khoản 1 Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) nêu rõ: “Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan chỉ được thực hiện quyền trong phạm vi được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền.”

Quy định trên nghe qua có vẻ rất tường minh, song nó lại chính là "tâm bão" của phần lớn các vụ kéo cày tranh chấp hiện nay. Trong thực tế, không ít nghệ sĩ khi đặt bút ký hợp đồng thường bỏ qua việc đọc kỹ các điều khoản mang tính sống còn như: quyền khai thác trên môi trường số, quyền trên nền tảng Internet, quyền toàn cầu, hay thậm chí là quyền trên các nền tảng công nghệ sẽ phát sinh trong tương lai. Để rồi đến khi dòng tiền đổ về và tranh chấp nổ ra, chính người trong cuộc cũng hoang mang không biết mình đã thực sự giao quyền cho ai.

Xét về mặt nguyên tắc pháp lý, một khi chủ thể đã ký ủy quyền độc quyền cho bên thứ nhất trong một phạm vi nhất định, việc tiếp tục ký chồng lấn cho bên thứ hai là hành vi vi phạm pháp luật, có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Rất nhiều vụ việc lùm xùm hiện tại đang bị mắc kẹt đúng vào cái bẫy "ủy quyền chồng chéo" này.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet. 

MCN mạnh công nghệ nhưng chưa chắc mạnh pháp lý

Không ai có thể phủ nhận những lợi thế tuyệt đối mà các MCN đang sở hữu nhờ vào sức mạnh công nghệ. Họ có trong tay hệ thống CMS, công nghệ nhận diện âm thanh tự động (Audio Fingerprint), khả năng quét vi phạm tự động và một quy trình thu tiền gần như theo thời gian thực. Trong khi đó, ở bên kia chiến tuyến, nhiều tổ chức quản lý quyền truyền thống vẫn đang phải vật lộn với hệ thống dữ liệu phân mảnh hoặc thực hiện đối soát bằng phương pháp bán thủ công. Lợi thế kỹ thuật này hiển nhiên giúp các MCN luôn là bên "nắm đằng chuôi" và chạm tay vào dòng tiền trước.

Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng việc làm chủ công nghệ không đồng nghĩa với việc mặc nhiên có quyền sở hữu toàn bộ giá trị khai thác. Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả bao gồm một chuỗi các quyền tài sản như làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, và truyền đạt tác phẩm đến công chúng… Trong khi đó, Điều 30 của Luật này lại điều chỉnh một phạm vi hoàn toàn khác: quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.

Đây là hai lớp quyền tách biệt hoàn toàn. Hãy lấy một ví dụ đơn giản: Nhạc sĩ là người sáng tác ra giai điệu lời ca; ca sĩ là người thể hiện; công ty sản xuất bỏ chi phí để làm ra bản master; và cuối cùng MCN là đơn vị đưa lên YouTube để khai thác. Nếu thiếu đi một cơ chế phân định và đối soát rõ ràng, việc một bên lợi dụng công nghệ để “ôm trọn” doanh thu là điều không thể tránh khỏi. Đáng ngại hơn, bản thân nhiều nghệ sĩ hiện nay vẫn chưa trang bị cho mình đầy đủ nhận thức về cấu trúc pháp lý của chính những tác phẩm do mình tạo ra.

Xung đột lớn nhất không nằm ở luật, mà nằm ở dữ liệu

Qua quan sát nhiều vụ việc thực tế, tôi nhận thấy rào cản lớn nhất ngăn các bên ngồi lại thương lượng không phải là các điều khoản luật, mà chính là sự thiếu minh bạch. Các tổ chức đại diện tập thể truyền thống hầu như không có công cụ để kiểm chứng tính xác thực của các số liệu: từ doanh thu thực tế, lượt xem thực, tỷ lệ phân chia, cho đến các khoản tiền bị giữ lại hay dòng tiền phát sinh từ thị trường quốc tế. Ở chiều ngược lại, phía các MCN cũng không giấu nổi sự bức xúc khi cho rằng cơ chế thu phí cùng biểu giá truyền thống của các CMO đã trở nên quá lạc hậu, không còn tương thích với các mô hình kinh doanh số hiện đại.

Nói một cách khách quan, pháp lý đang bước những bước chậm chạp sau lưng công nghệ. Đây không phải là câu chuyện của riêng Việt Nam. Ngay cả những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới cũng từng phải mất nhiều năm trời nếm trải những xung đột gay gắt giữa các nền tảng số và hệ thống quản lý quyền truyền thống trước khi tìm ra lối thoát.

Cần thay đổi tư duy quản trị bản quyền âm nhạc số

Theo quan điểm của tôi, giải pháp căn cơ cho thị trường không thể là việc các bên cứ tiếp tục vác "gậy bản quyền" đi khiếu nại và triệt hạ lẫn nhau trên các nền tảng. Cái mà thị trường âm nhạc Việt Nam đang khát khao lúc này là một cơ chế phối hợp minh bạch, dựa trên nền tảng công nghệ cao.

Khoản 2 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã quy định rất rõ:

“Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan có nghĩa vụ trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.”

Điều này đồng nghĩa với việc: Nếu doanh thu thu về bao gồm cả quyền tác giả và quyền liên quan, không một chủ thể nào được phép tự ý “nuốt trọn” dòng tiền tổng hợp đó.

Nhìn ra thế giới, mô hình Revenue Sharing (chia sẻ doanh thu tự động) đã và đang được áp dụng cực kỳ thành công. Theo cơ chế này, ngay khi một video phát sinh doanh thu trên nền tảng: phần tiền của chủ sở hữu bản ghi sẽ lập tức tự động chảy về đơn vị quản lý master; phần tiền thuộc quyền tác giả được tách riêng để chuyển thẳng tới tổ chức quản lý tác quyền; và nền tảng sẽ giữ lại phần trăm chi phí vận hành của mình. Đây chính là hướng đi văn minh mà Việt Nam cần phải nghiêm túc nghiên cứu và áp dụng trong giai đoạn tới.

Đã đến lúc cần một “bản đồ số” về quyền âm nhạc

Hiện tại, một thực trạng bất cập là các MCN đang quản lý dữ liệu bằng mã nhận diện âm thanh số (Audio Fingerprint, ISRC), trong khi các tổ chức đại diện tập thể lại sử dụng hệ thống mã dữ liệu tác phẩm riêng biệt (ISWC). Hai hệ thống này hoạt động như hai ốc đảo, hoàn toàn không có sự liên thông.

Hệ quả nhãn tiền là: trên cùng một bài hát nhưng có quá nhiều bên nhảy vào nhận quyền, không thể xác định ai là chủ sở hữu thực sự, bế tắc trong việc phân chia tỷ lệ doanh thu và rất dễ bùng nổ các tranh chấp xuyên biên giới.

Do đó, tôi cho rằng Việt Nam cần sớm bắt tay vào xây dựng một cơ sở dữ liệu bản quyền âm nhạc quốc gia mang tính liên thông đồng bộ. Khi tất cả các thông tin từ mã ISRC, mã ISWC, dữ liệu chủ sở hữu, thông tin ủy quyền cho đến tỷ lệ sở hữu được chuẩn hóa trên cùng một hệ thống, bức tranh toàn cảnh về quyền tác giả sẽ trở nên minh bạch hơn bao giờ hết. Lúc ấy, bất kỳ nền tảng số nào cũng chỉ cần một cú nhấp chuột là có thể tra cứu chính xác: Ai nắm giữ phần nhạc? Ai sở hữu bản ghi? Đơn vị nào được ủy quyền thu tiền và tỷ lệ phân chia cụ thể ra sao? Đó mới chính là nền móng vững chắc cho một thị trường âm nhạc số chuyên nghiệp và bền vững.

Nhìn nhận một cách tích cực, những va chạm nảy lửa giữa các MCN và tổ chức quản lý quyền truyền thống hôm nay không hẳn là điều xấu. Thực chất, nó đang tạo ra một áp lực tiến hóa mạnh mẽ, buộc toàn bộ ngành công nghiệp giải trí Việt Nam phải bước vào cuộc đại dịch chuyển số.

Thời thế đã thay đổi. Tranh chấp giờ đây không còn bó hẹp trong phạm vi đĩa hát hay sóng truyền hình, mà một video ngắn vài phút cũng có thể khơi mào cho một cuộc chiến pháp lý xuyên biên giới với dòng tiền lên đến hàng tỷ đồng. Nếu chúng ta không chịu thay đổi tư duy quản trị dữ liệu, quản trị hợp đồng và cơ chế phân chia lợi nhuận, những vòng xoáy tranh chấp mệt mỏi này sẽ còn kéo dài vô tận. Điều mà thị trường cần vào lúc này không phải là thêm những cuộc thanh trừng bằng “gậy bản quyền”, mà là một hệ sinh thái nhân văn – nơi công nghệ và pháp luật bắt tay đồng hành, cùng nhau thúc đẩy sự phát triển thay vì triệt tiêu lẫn nhau.

CĂN CỨ PHÁP LÝ TRÍCH DẪN

1.      Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 và 2022.

2.      Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ: Quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

3.      Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ: Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.

4.      Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ: Hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.

5.      Khoản 2 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.

6.      Bộ luật Dân sự năm 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Luật sư NGUYỄN THẾ TRUYỀN

Công ty Luật hợp danh Thiên Thanh.