Từ nguồn gốc đất
Trong đơn, ông Dương Văn Hạnh cho biết, gia đình ông hiện đang là người trực tiếp quản lý và sử dụng thửa đất có tổng diện tích khoảng 20.000m thuộc các thửa: 13, 14 của bản đồ 299, đo vẽ năm 1987 (nay là một phần của thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73) và một phần thửa số 10 của bản đồ 299 đo vẽ năm 1987 (nay là một phần của thửa đất số 406, tờ bản đồ số 73), có địa chỉ tại khu 8, phường Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Về nguồn gốc, theo ông Hạnh cho biết, diện tích đất này gia đình ông khai hoang và sử dụng từ những năm 1970 cho đến nay (do ông, bà nội ông Hạnh khai hoang từ những năm 1970 đến nay đã được 4 đời sử dụng liên tục vào mục đích trồng cây, chăn nuôi và ở trên diện tích đất này).

Đơn thư của ông Dương Văn Hạnh gửi đến các cơ quan thông tấn, báo chí.
Trong quá trình sử dụng, gia đình ông còn làm nhà ở từ năm 1970 và hiện nay còn căn nhà gia đình ông xây dựng từ năm 1989 và các công trình phục vụ sinh hoạt để ở cũng như chuồng trại chăn nuôi và trồng cây. Trong suốt quá trình sử dụng, gia đình ông không có tranh chấp với bất kỳ ai, đã sử dụng ổn định và liên tục từ những năm 1970 cho đến nay.
Hiện nay, các hộ dân xung quanh, các ông bà là người cao tuổi và cả các cán bộ đã từng công tác tại UBND xã cũ đều công nhận về quá trình sử dụng đất, cũng như nguồn gốc diện tích đất mà gia đình ông Hạnh đang sử dụng. Ông Dương Tiến Kỳ (sinh năm1952, trú tại khu 7, phường Phú Thọ, nguyên Phó Chủ tịch UBND xã Hà Lộc) cho biết: Thửa đất đang tranh chấp thuộc tờ bản đồ 40B, bản đồ 299, vẽ năm 1987. Trên tờ bản đồ này, thửa đất số 10 (thuộc khu điều hành) và thửa số 15 (khu sản xuất) là của Công ty Thành Trung. Còn thửa 13 và 14 là đất mành cói và cấy lúa là của gia đình ông Hạnh. Tôi làm Phó Chủ tịch bao nhiêu năm ở đây nên tôi biết, giờ ai bảo tôi đi làm chứng ở đâu tôi cũng đi”.

Trong quá trình sử dụng, gia đình ông còn làm nhà ở, hiện nay còn căn nhà xây dựng từ năm 1989.
Cũng theo ông Hạnh, Công ty Cổ phần Thành Trung thành lập ngày 10/02/2004 và ngày 29/3/2023, Công ty Cổ phần Thành Trung được cấp GCNQSDĐ nhưng khi giao đất và cấp GCNQSDĐ cho Công ty Cổ phần Thành Trung thì UBND tỉnh Phú Thọ và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ không thu hồi đất của gia đình ông, không bồi thường tài sản trên đất cho gia đình ông là trái quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Ông Hạnh đề nghị Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Phú Thọ xem xét giải quyết hủy GCNQSDĐ số DD509784, số vào sổ cấp GCN CT09640 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ cấp cho Công ty Cổ phần Thành Trung ngày 29/03/2023.
Góc nhìn Luật sư về nội dung vụ việc
Liên quan đến vấn đề trên, ngày 08/10/2024, Công ty Cổ phần Thành Trung có khởi kiện gia đình ông Hạnh, cho rằng gia đình ông đang lấn chiếm diện tích đất khoảng 24.751,8m2 đất thuộc thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73 (nhưng đến khi Tòa án xét xử vụ án thì lại giải quyết phần diện tích đất 1.874,3m2 theo kết quả thẩm định, trong khi Công ty Cổ phần Thành Trung vẫn yêu cầu khởi kiện là diện tích 24.751,8m2 mà không có văn bản, yêu cầu nào rút một phần yêu cầu khởi kiện) của Công ty Cổ phần Thành Trung tại khu 8, xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ (nay là phường Phú Thọ), tỉnh Phú Thọ, tự ý trồng cây lâu năm, xây dựng chuồng trại trên phần diện tích đất này.

Các công trình phục vụ sinh hoạt, để ở, cũng như chuồng trại chăn nuôi được xây dựng cách đây hàng chục năm.
Qua bản án sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST, ngày 22/01/2025 của TAND thị xã Phú Thọ và Bản án: 229/2025/DS-PT, ngày 25/11/2025 của TAND tỉnh Phú Thọ về việc “tranh chấp QSDĐ” đều tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Thành Trung; buộc ông Dương Văn Hạnh và bà Trần Thị Bích phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho Công ty Cổ phần Thành Trung là 1.874,3m đất tại thửa đất số 407, tờ bản đồ số 73 có địa chỉ khu 8, xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ (nay là phường Phú Thọ), tỉnh Phú Thọ, có chỉ giới 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 43, 42, 41, 40, 24, 21, theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 27/10/2025 do Công ty TNHH Đo đạc bản đồ và dịch vụ TNMT - Hà Nội - Chi nhánh Ba Vì thực hiện; buộc ông Dương Văn Hạnh và bà Trần Thị Bích phải chặt hạ, tháo dỡ và di dời, thu hoạch toàn bộ công trình trên đất; Công ty Cổ phần Thành Trung có trách nhiệm thanh toán cho ông Dương Văn Hạnh và bà Trần Thị Bích số tiền bồi thường tài sản, cây cối và hỗ trợ thêm,...

Trên thửa đất cũng có nhiều loại cây được gia đình ông Hạnh trồng cách đây hàng mấy chục năm về trước.
Qua tìm hiểu và đối chiếu với quy định của pháp luật, Luật sư Nguyễn Thị Thuý, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội cho biết, qua nội dung và hồ sơ vụ việc cho thấy việc cấp GCNQSDĐ cho HTX Thành Trung, Công ty Cổ phần Thành Trung chưa đúng trình tự thủ tục.
Việc UBND tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSDĐ cho HTX Thành Trung năm 2001, theo quy định tại Điều 4, 5, 6, 7 của Thông tư 293/1997/TT-ĐC ngày 14/03/1997 có quy định về trình tự thủ tục khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp, cụ thể: Bước 1: Tổ chức xin giao đất, thuê đất phải lập hồ sơ theo mẫu kèm các tài liệu (trong đó có phương án đề bù thiệt hại) gửi đến Sở Địa chính sở tại; Bước 2: Khi nhận đủ hồ sơ trên thì Sở Địa chính hoàn thành các công việc như thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa, lập tờ trình, dự thảo Quyết định giao đất, cho thuê đất trình Chủ tịch UBND tỉnh; Bước 3: Sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất của cấp có thẩm quyền thì Sở Địa chính tiến hành các công việc: Thông báo cho tổ chức được giao đất, thuê đất tiến hành đền bù thiệt hại về đất, tài sản có trên đất; bàn giao đất ngoài thực địa; ký hợp đồng thuê đất. Cuối cùng là trình UBND cấp tỉnh ký cấp GCNQSDĐ cho tổ chức sử dụng đất.

Theo ông Hạnh cho biết, tại thời điểm sáng ngày 14/5/2026, gia đình ông chưa tự nguyện thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự cũng chưa ra quyết định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhưng xuất hiện nhiều đối tượng xăm trổ, đến chặt phá cây cối (ảnh cắt từ video do bạn đọc cung cấp - PV).
Trên thực tế, hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho HTX Thành Trung vào năm 2001 như sau: Ngày 15/07/2001, HTX Thành Trung mới có đơn xin thuê đất; ngày 17/10/2001, Sở Địa chính có Tờ trình số 967/TT-GĐ; ngày 07/11/2001, UBND tỉnh Phú Thọ có Quyết định số 3887/QĐ-UBND về việc giao hợp thức và cấp GCNQSDĐ cho HTX Thành Trung thuê đất trong thời hạn 30 năm; cùng ngày 07/11/2001, UBND tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSDĐ số S534773 cho Hợp tác xã Thành Trung; nhưng đến ngày 29/03/2002, thì Sở Địa chính Phú Thọ mới ký hợp đồng thuê đất với HTX Thành Trung với mục đích sử dụng đất sản xuất kinh doanh.
Hơn nữa, trên diện tích đất này đã có căn nhà do gia đình ông Hạnh dựng năm 1989 - đây cũng là căn cứ khẳng định gia đình ông Hạnh là người sử dụng trước khi Nhà nước cho HTX Thành Trung thuê đất vào năm 2001 theo QĐ số 3887/QĐ-UB ngày 07/11/2001 của UBND tỉnh Phú Thọ và cấp GCNQSDĐ ngày 07/11/2001.
Toàn bộ quá trình UBND tỉnh Phú Thọ cho HTX Thành Trung thuê là chưa đúng quy định tại Điều 21 Luật Đất đai năm 1993: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”.
Trên thực tế, gia đình ông Hạnh vẫn đang quản lý, trực tiếp sử dụng ổn định từ những năm 1970 cho đến nay mà không thấy bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào ra văn bản hay thông báo thu hồi đất của gia đình ông Hạnh để giao cho cá nhân, tổ chức hay công ty nào cả.

Nhiều cây lớn bị các đối tượng lạ mặt đốn hạ.
Thứ hai, ngày 07/01/2004, UBND thị xã Phú Thọ đã ra Quyết định số 37/QĐ-UB về việc giải thể HTX công nghiệp Thành Trung để thành lập Công ty Cổ phần. Ngày 10/02/2004, Công ty Cổ phần Thành Trung được thành lập. Theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì không có quy định về việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp giữa Hợp tác xã sang Công ty cổ phần.
Cũng tại Quyết định cũng đã nêu rất rõ, HTX Thành Trung giải thể là tự nguyện để thành lập Công ty cổ phần. Mà theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì việc thành lập pháp nhân mới dựa trên sự tự nguyện của các cá nhân - ở đây là 4 cá nhân cổ đông sáng lập là: ông Sử Mạnh Phi, ông Trần Minh Thanh, ông Triệu Việt Hùng và bà Bùi Thị Tỵ.
Việc giải thể HTX theo quy định tại thời điểm năm 2004: Điều 41 - Xử lý tài sản và vốn của hợp tác xã khi giải thể. Theo đó, khi giải thể, hợp tác xã phải chuyển giao cho chính quyền địa phương các tài sản không được chia theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này để quản lý và sử dụng chung cho cộng động dân cư.
Đất đai do Nhà nước giao quyền sử dụng cho hợp tác xã được xử lý theo quy định của pháp luật về đất đai.
Sau khi thanh toán hết các khoản nợ của hợp tác xã và các chi phí cho việc giải thể, hợp tác xã được chia cho xã viên các tài sản, vốn, quỹ khác còn lại.
Như vậy, khi HTX Thành Trung giải thể thì mọi tài sản để phải được thanh lý và sau khi trừ các nghĩa vụ sẽ được chia cho các xã viên. Riêng đối với đất đai phải được trả về cho cơ quan có thẩm quyền quản lý.
Nhưng trên thực tế, sau khi Công ty Cổ phần Thành Trung được thành lập thì ngày 22/6/2005 lại được cơ quan nhà nước có thẩm xác nhận đăng ký biến động: “HTX Thành Trung được đổi tên là Công ty Cổ phần Thành Trung theo Quyết định số 37/QĐ-UB ngày 07/01/2004 của UBND thị xã Phú Thọ” chưa đúng quy định pháp luật. Trong khi HTX Thành Trung đã giải thể theo Quyết định số 37 của UBND thị xã Phú Thọ, mà Quyết định này chỉ đơn thuần quyết định HTX Thành Trung giải thể theo quy định của pháp luật chứ không công nhận cho Công ty Cổ phần Thành Trung kế thừa, thừa hưởng toàn bộ quyền và nghĩa vụ của HTX Thành Trung. Sau đó, ngày 29/3/2023, Công ty Cổ phần Thành Trung lại được UBND tỉnh Phú Thọ thực hiện thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ do giảm diện tích.
Như vậy, toàn bộ quá trình UBND tỉnh Phú Thọ cho HTX Thành Trung thuê đất, cấp GCNQSDĐ cũng như xác nhận, rồi cấp GCNQSDĐ sau này cho Công ty Cổ phần Thành Trung chưa đúng quy định pháp luật.
Căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 106 Luật Đất đai 2013 có quy định: “Đính chính, thu hồi GCN đã cấp: Nhà nước thu hồi GCN đã cấp trong các trường hợp sau đây: a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên GCN đã cấp; (b) Cấp đổi GCN đã cấp; (c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (d) GCN đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp GCN đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Tại điểm d, khoản 2, Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 cũng có việc thu hồi, hủy GCN đã cấp: “GCN đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp GCN.”
Do đó, GCNQSDĐ số S534773 do UBND tỉnh Phú Thọ cấp ngày 07/11/2001 và GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD509784 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ cấp ngày 29/3/2023 mang tên Công ty Cổ phần Thành Trung cần phải được thu hồi và hủy bỏ do cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp.
Ông Hạnh cho biết, hiện vụ việc đang được gia đình ông có đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 229/DS-PT ngày 25/11/2025 của TAND tỉnh Phú Thọ và Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của TAND thị xã Phú Thọ (nay là TAND khu vực 2 - Phú Thọ). Bản án phúc thẩm của gia đình ông cũng chưa bị cơ quan chức năng tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, vào sáng ngày 14/5/2026, xuất hiện nhiều đối tượng xăm trổ, đến chặt phá cây cối trên phần diện tích đất khoảng hơn 18.000m2 mà gia đình ông đang quản lý và sử dụng. Hậu quả, rất nhiều cây cối như: Xoài, bạch đàn, xà cừ, sấu, keo,... bị đốn hạ trước sự can ngăn của gia đình. Hiện vụ việc đã được gia đình trình báo đến UBND và Công an phường Phú Thọ để giải quyết.

