1. Đặt vấn đề
Tháng 10/2026 tới đây sẽ trở thành một mốc đặc biệt trong tiến trình lập pháp về nghề luật sư tại Việt Nam. Vào ngày 01/10/2026, Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công bắt đầu có hiệu lực sau khi được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất ngày 24/4/2026. Cùng tháng đó, theo Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, Quốc hội sẽ xem xét thông qua dự án Luật Luật sư (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ hai. Hai sự kiện diễn ra gần như đồng thời nhưng nội dung của chúng đứng ở hai phía đối nghịch của một bức tường pháp lý đã tồn tại gần hai thập kỷ.
Câu hỏi đặt ra là liệu có thể để Nghị quyết thí điểm vận hành song song với Luật Luật sư hiện hành mà không tiến hành sửa đổi đồng bộ ngay trong dịp này hay không. Bài viết phân tích yêu cầu đồng bộ này dưới góc độ phương pháp luật học, có tính đến cơ chế ưu tiên áp dụng đã được Nghị quyết thiết lập sẵn và đề xuất các phương án lập pháp cụ thể.

Ảnh minh họa. Nguồn: VnExpress.
2. Cơ chế ưu tiên áp dụng tại Nghị quyết Luật sư công
Cần thừa nhận rằng người làm luật khi soạn thảo Nghị quyết Luật sư công đã lường trước khả năng xung đột với Luật Luật sư hiện hành và đã thiết lập cơ chế giải quyết. Khoản 3 Điều 12 Nghị quyết quy định trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết này với văn bản quy phạm pháp luật khác thì áp dụng quy định của Nghị quyết này. Cơ chế này có cơ sở pháp lý vững chắc tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, theo đó Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực tương đương Luật và được ưu tiên áp dụng trong phạm vi điều chỉnh của mình.
Như vậy, từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, đối với các đối tượng thuộc phạm vi thí điểm tại 8 Bộ và 10 tỉnh, thành phố, các quy định của Nghị quyết được áp dụng thay cho khoản 4 Điều 17 và Điều 18 Luật Luật sư hiện hành. Việc cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư cho cán bộ, công chức, viên chức theo Điều 6 Nghị quyết là hợp pháp, không bị coi là vi phạm Điều 17 Luật Luật sư hiện hành.
Nhìn nhận khách quan đây là một thiết kế lập pháp có tính kỹ thuật cao và giải quyết được phần lớn những lo ngại về xung đột quy phạm trong giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, phạm vi tác dụng của khoản 3 Điều 12 có 03 giới hạn nội tại cần được xem xét nghiêm túc.
Giới hạn thứ nhất là về thời gian, cơ chế ưu tiên áp dụng chỉ tồn tại trong 02 năm thí điểm, sẽ chấm dứt cùng với hiệu lực của Nghị quyết vào ngày 30/9/2028. Giới hạn thứ hai là về phạm vi đối tượng, Nghị quyết chỉ điều chỉnh cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước thuộc 08 Bộ và 10 tỉnh, thành phố thí điểm, không bao trùm các cơ quan ngoài danh sách. Giới hạn thứ ba là về nội dung, khoản 3 Điều 12 chỉ giải quyết xung đột về quy phạm áp dụng, không giải quyết được các mâu thuẫn cấu trúc về quản lý nghề nghiệp kép sẽ được phân tích ở các mục dưới đây. Như vậy cơ chế ưu tiên áp dụng của khoản 3 Điều 12 không phải là lời giải dài hạn cho vấn đề đồng bộ giữa Nghị quyết và Luật Luật sư mà chỉ là phương án bắc cầu cho 02 năm thí điểm.
3. Bản chất nghề luật sư trong truyền thống lập pháp
Để hiểu vì sao cơ chế bắc cầu 02 năm là không đủ, cần quay lại nguyên lý lập pháp đã sản sinh ra khoản 4 Điều 17 và Điều 18 Luật Luật sư hiện hành. Hai điều khoản đó không phải là quy định kỹ thuật quản lý mà là sự thể hiện một lựa chọn nguyên tắc về bản chất nghề luật sư. Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, văn bản đặt nền móng cho nghề luật sư hiện đại tại Việt Nam, đã xác định luật sư là người hành nghề độc lập, cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân và tổ chức theo yêu cầu, không thuộc biên chế nhà nước. Tinh thần này được kế thừa và củng cố qua Pháp lệnh Luật sư năm 2001 và Luật Luật sư năm 2006, đỉnh điểm là quy định cấm tuyệt đối cùng tồn tại tại khoản 4 Điều 17.
Lý do của lựa chọn nguyên tắc này nằm ngay trong bản chất nghề. Luật sư phải có khả năng đại diện cho thân chủ trong tranh chấp với cơ quan nhà nước, bào chữa cho bị cáo trước Viện Kiểm sát, đối chất với chính sách hành chính trong vụ án hành chính. Một người vừa ăn lương ngân sách vừa hành nghề luật sư tự do tức khắc rơi vào xung đột lợi ích cấu trúc, không thể giải quyết bằng quy tắc đạo đức nghề nghiệp thông thường.
Chế định Luật sư công không xóa bỏ nguyên lý này mà bổ sung thêm một mô hình hành nghề khác. Theo Điều 2 và Điều 7 Nghị quyết, Luật sư công được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khu vực nhà nước, không cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực này. Mô hình này gần với government attorney của Hoa Kỳ hơn là luật sư theo nghĩa truyền thống. Việc bổ sung mô hình mới không có gì sai về nguyên lý lập pháp nếu được thực hiện thông qua sửa đổi Luật Luật sư để xác lập một chế định lưỡng tính, với nhánh luật sư tư duy trì nguyên tắc độc lập khỏi nhà nước và nhánh luật sư công vận hành theo cơ chế công vụ.
4. Khoảng trống chuyển tiếp đối với Nghị quyết Luật sư công
Lập luận về khoảng trống chuyển tiếp sau khi Nghị quyết hết hiệu lực không phải suy diễn của người ngoài cuộc mà đã được chính người soạn thảo Nghị quyết ghi nhận. Điểm đ khoản 3 Điều 6 Nghị quyết quy định Luật sư công bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư khi hết thời gian thí điểm thực hiện chế định luật sư công theo Nghị quyết này mà Quốc hội quyết định không tiếp tục thực hiện chế định luật sư công, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết. Khoản 2 Điều 12 chỉ cho phép Luật sư công tiếp tục các vụ, việc đang thực hiện chưa kết thúc, không cho phép Luật sư công tiếp tục tồn tại với tư cách thiết chế.
Vào ngày 1/10/2028, có 3 tình huống pháp lý có thể xảy ra. Tình huống thứ nhất, Quốc hội ban hành nghị quyết tiếp tục gia hạn thí điểm. Tình huống này không giải quyết vấn đề mà chỉ đẩy nó về tương lai xa hơn, đồng thời tạo tiền lệ về việc duy trì một thiết chế quan trọng bằng cơ chế thí điểm liên tiếp, điều đi ngược nguyên tắc ổn định pháp luật. Tình huống thứ hai, Quốc hội quyết định không tiếp tục, mọi Luật sư công hiện đang hành nghề tự động bị thu hồi chứng chỉ theo điểm đ khoản 3 Điều 6 tại Nghị quyết. Đây là tình huống gây xáo trộn nghiêm trọng cho đội ngũ đã được đào tạo và bố trí công việc, kèm theo rủi ro mất nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao mà chính Bộ Tư pháp đã nhấn mạnh trong báo cáo giải trình ngày 24/4/2026 là khó thu hút và giữ chân. Tình huống thứ ba, Quốc hội quyết định luật hóa chế định, cách duy nhất phù hợp về mặt pháp lý là sửa đổi Luật Luật sư để có chương riêng về luật sư công, vì Luật Luật sư là văn bản chuyên ngành điều chỉnh nghề luật sư.
Trong 03 tình huống trên thì theo tác giả chỉ tình huống thứ ba bảo đảm tính ổn định và chính danh pháp lý. Nhưng tình huống thứ ba không thể chuẩn bị xong trong vài tháng sau ngày 30/9/2028, vì quá trình từ đề xuất đưa vào Chương trình lập pháp đến khi Quốc hội thông qua một dự án Luật trung bình mất từ 18 đến 24 tháng. Nếu không khởi động ngay tại kỳ họp thứ hai tháng 10/2026, khi dự án Luật Luật sư sửa đổi đang nằm trên bàn nghị sự, cánh cửa lập pháp sẽ khó mở lại đúng lúc.
5. Những vấn đề về quản lý nghề nghiệp kép
Bên cạnh vấn đề chuyển tiếp về thời gian, có những mâu thuẫn cấu trúc mà cơ chế ưu tiên áp dụng tại khoản 3 Điều 12 không thể giải quyết, dù trong phạm vi và thời gian thí điểm. Điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị quyết quy định Luật sư công có nghĩa vụ tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và được cấp thẻ Luật sư theo quy định. Như vậy Luật sư công sẽ là thành viên của Đoàn Luật sư địa phương và Liên đoàn Luật sư Việt Nam như mọi Luật sư khác. Đồng thời khoản 4 Điều 3 Nghị quyết quy định Luật sư công phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức sử dụng Luật sư công về hoạt động nghề nghiệp của mình. Hai quy định này tạo ra cơ chế quản lý kép, vừa thuộc Đoàn Luật sư về mặt nghề nghiệp, vừa thuộc cơ quan công vụ về mặt hành chính.
Khi Luật sư công vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ai có thẩm quyền xử lý kỷ luật. Nếu Đoàn Luật sư xử lý theo Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, hệ thống cơ quan công vụ có chấp nhận quyết định kỷ luật của một tổ chức xã hội nghề nghiệp đối với cán bộ, công chức của mình không. Nếu cơ quan công vụ tự xử lý theo Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức, kỷ luật đó có giá trị thay thế kỷ luật nghề luật sư không? Khoản 3 Điều 12 không thể tự mình giải đáp những câu hỏi này vì đây không phải là xung đột về quy phạm áp dụng mà là khoảng trống về cơ chế quản lý liên thể chế.
Tương tự khi Luật sư công có tranh chấp với cơ quan nhà nước nơi mình công tác, ví dụ về chế độ, chính sách hoặc khi Luật sư công bị thủ trưởng cơ quan ra chỉ đạo trái pháp luật và sử dụng quyền từ chối tại điểm đ khoản 1 Điều 8 Nghị quyết, cơ chế bảo vệ pháp lý nào đứng về phía Luật sư công? Đoàn Luật sư có quyền can thiệp như cách Liên đoàn Luật sư bảo vệ Luật sư tư trong các vụ việc bị cản trở hành nghề không? Hệ thống công vụ có chấp nhận sự can thiệp đó không? Đây là những nội dung cần được luật hóa ở tầm Luật để bảo đảm tính ổn định và ràng buộc cao, không thể chỉ dừng ở mức quy định nguyên tắc tại một Nghị quyết hai năm.
6. Một số đề xuất
Việc bổ sung định hướng đồng bộ với chế định Luật sư công vào dự án Luật Luật sư sửa đổi có thể được thực hiện thông qua ba phương án có mức độ tham vọng khác nhau. Phương án thứ nhất mang tính kỹ thuật thuần túy, đó là sửa đổi khoản 4 Điều 17 và Điều 18 theo hướng quy định ngoại lệ cho Luật sư công, tức là loại trừ trường hợp Luật sư công khỏi phạm vi cấm và phạm vi thu hồi. Phương án này đơn giản nhưng không giải quyết được các vấn đề về quản lý nghề nghiệp kép đã phân tích tại mục 5. Phương án thứ hai mang tính cấu trúc, bổ sung một chương riêng trong Luật Luật sư về Luật sư công, quy định chi tiết tiêu chuẩn, quyền nghĩa vụ, cơ chế quản lý kép giữa Đoàn Luật sư và cơ quan công vụ, cơ chế kỷ luật, đạo đức nghề và cơ chế bảo vệ Luật sư công, đồng thời sửa đổi Điều 2 về định nghĩa luật sư để ghi nhận sự tồn tại của hai nhánh nghề. Phương án này đòi hỏi nhiều công sức hơn nhưng tạo ra nền tảng pháp lý bền vững. Phương án thứ ba mang tính tách biệt, lập thành 2 luật riêng theo mô hình mà một số quốc gia đã áp dụng. Phương án này có ưu điểm là rõ ràng về phạm vi nhưng phá vỡ truyền thống lập pháp Việt Nam và tốn kém về thủ tục.
Trong ba phương án, theo tác giả thì phương án thứ hai có cơ sở khả thi nhất và phù hợp với tiến độ lập pháp đã được xác lập. Chương về Luật sư công trong Luật Luật sư sửa đổi cần quy định 4 nhóm nội dung cốt lõi. Nhóm thứ nhất kế thừa các quy định tại Điều 5 Nghị quyết về tiêu chuẩn năm năm kinh nghiệm pháp lý kết hợp với đủ tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư hiện hành, đồng thời quy định cơ chế tập sự và kiểm tra kết quả tập sự đặc thù cho người đã có kinh nghiệm pháp luật, thay vì phải trải qua đầy đủ quy trình 12 tháng đào tạo cộng 12 tháng tập sự như luật sư tư. Nhóm thứ hai kế thừa Điều 7 Nghị quyết về phạm vi công việc và Điều 4 Nghị quyết về các hành vi bị nghiêm cấm, đặc biệt là cấm cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước. Nhóm thứ ba quy định chi tiết cơ chế quản lý kép giữa Đoàn Luật sư và cơ quan công vụ, làm rõ thẩm quyền kỷ luật, cơ chế phối hợp giữa hai hệ thống và cơ chế bảo vệ Luật sư công khi sử dụng quyền bảo lưu ý kiến và từ chối chỉ đạo trái pháp luật theo điểm đ Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết. Nhóm thứ tư xác định cơ chế chuyển đổi giữa hai nhánh nghề, kèm theo giai đoạn kiểm soát xung đột lợi ích phù hợp với khoản 4 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, để tránh hiện tượng Luật sư công vừa bảo vệ một dự án đầu tư công đã chuyển sang tư vấn cho doanh nghiệp đối tác trong cùng dự án.
7. Kết luận
Khoản 3 Điều 12 Nghị quyết về thí điểm chế định luật sư công đã giải quyết khéo léo vấn đề xung đột quy phạm trong giai đoạn thí điểm nhưng không thể là lời giải dài hạn cho ba lý do. Cơ chế ưu tiên áp dụng tự chấm dứt vào ngày 30/9/2028 cùng với hiệu lực của Nghị quyết. Điểm đ khoản 3 Điều 6 đã cài sẵn cơ chế thu hồi Chứng chỉ khi hết thí điểm mà Quốc hội không quyết định tiếp tục, tạo nên bất cập chuyển tiếp đối với chính đội ngũ Luật sư công đã được đào tạo. Các vấn đề về quản lý nghề nghiệp kép giữa Đoàn Luật sư và cơ quan công vụ nằm ngoài phạm vi mà cơ chế ưu tiên áp dụng có thể xử lý.
Việc bổ sung định hướng đồng bộ với chế định Luật sư công vào dự án Luật Luật sư sửa đổi cần được Bộ Tư pháp cân nhắc đưa vào hồ sơ chính sách trong giai đoạn lấy ý kiến tiếp theo và cần được Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đặt thành một trong các nội dung trọng tâm khi thẩm tra dự án Luật. Khoảng trống đáng quan ngại trong hồ sơ chính sách đến tháng 3/2026 cho thấy nguy cơ này không phải lý thuyết mà đã hiện hữu trong tiến trình soạn thảo. Đối với một nghề được pháp luật xác định là chỗ dựa của xã hội trong việc bảo vệ công lý, sự bất định kéo dài là cái giá mà cả người hành nghề lẫn người dân đều khó chấp nhận./.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Luật sư năm 2006 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012;
2. Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987;
3. Pháp lệnh Luật sư năm 2001;
4. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;
5. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số năm 2025;
6. Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026;
7. Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định Luật sư công;
8. Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026;
9. Quyết định số 3665/QĐ-BTP ngày 24/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về thành lập Tổ soạn thảo dự án Luật Luật sư sửa đổi;
10. Bộ Tư pháp, Bản tổng hợp, giải trình và tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan về hồ sơ chính sách Luật Luật sư sửa đổi, ngày 26/3/2026;
11. Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án Nghiên cứu xây dựng chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay;
12. Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ
Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

