/ Kinh nghiệm - Thực tiễn
/ Tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị và khoảng trống trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)

Tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị và khoảng trống trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)

18/04/2026 17:02 |

(LSVN) - Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) mới đây đã có đề xuất bổ sung tiêu chí “có bản lĩnh chính trị vững vàng” vào danh sách tiêu chuẩn điều kiện hành nghề, đồng thời quy định thu hồi chứng chỉ hành nghề nếu luật sư không còn đáp ứng tiêu chuẩn này. Bài viết không phân tích tính hợp lý của chính sách mà tập trung vào câu hỏi kỹ thuật dự thảo chưa trả lời được. Khi tiêu chuẩn này bị áp dụng để thu hồi chứng chỉ hành nghề của một luật sư cụ thể thì ai có thẩm quyền ra quyết định đó, theo thủ tục nào và luật sư bị thu hồi chứng chỉ có thể kháng cáo bằng cơ chế nào? Đây là những câu hỏi về kiểm soát quyền lực trong quản lý nghề nghiệp mà Hiến pháp năm 2013 và chính Nghị quyết 27-NQ/TW đặt ra như những yêu cầu không thể bỏ qua.

Đặt vấn đề

Ngày 06/4/2026, tại phiên họp Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) do đại diện Cục Bổ trợ tư pháp báo cáo rằng luật sư phải có nhận thức đúng đắn về thể chế chính trị và luôn ý thức, trách nhiệm bảo vệ công lý, quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, không lợi dụng hành nghề luật sư để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) không chỉ đặt ra tiêu chuẩn này như điều kiện đầu vào mà còn quy định: luật sư phải tiếp tục tham gia bồi dưỡng bắt buộc về nhận thức tư tưởng chính trị trong quá trình hành nghề và người không đủ tiêu chuẩn này sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề.

Thu hồi chứng chỉ hành nghề là biện pháp hành chính nghiêm khắc nhất có thể áp dụng với một luật sư, bởi nó chấm dứt hoàn toàn quyền hành nghề. Điều 18 Luật Luật sư 2006 hiện hành liệt kê các căn cứ thu hồi chứng chỉ, tất cả đều là những sự kiện khách quan có thể kiểm chứng được bằng hồ sơ như có bản án hình sự có hiệu lực, bị kỷ luật xóa tên khỏi đoàn luật sư hoặc không còn đáp ứng tiêu chuẩn tại Điều 10. Thẩm quyền thu hồi theo Điều 18 thuộc về Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhưng Nghị định số 121/2025/NĐ-CP đã chuyển giao thẩm quyền này cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Đề xuất mới bổ sung căn cứ thu hồi dựa trên việc đánh giá về bản lĩnh chính trị trong quá trình hành nghề. Đây là lần đầu tiên pháp luật về luật sư Việt Nam đặt ra khả năng thu hồi quyền hành nghề dựa trên đánh giá tư tưởng và nhận thức của người hành nghề, không phải dựa trên hành vi vi phạm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Vậy ai sẽ đánh giá một luật sư đang hành nghề có hay không có bản lĩnh chính trị vững vàng? Dự thảo hiện tại không trả lời được câu hỏi này.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

1. Quy định hạn chế hành nghề trong Hiến pháp

Quyền hành nghề luật sư là quyền lao động và quyền tự do kinh doanh dịch vụ pháp lý của một người đã đáp ứng đủ điều kiện theo Luật. Việc thu hồi chứng chỉ hành nghề là biện pháp hạn chế quyền này. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ rằng quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Mục đích quan trọng của quy định này là việc hạn chế quyền chỉ có thể do Quốc hội thực hiện thông qua luật, không phải văn bản dưới luật và phải thực sự cần thiết, tương xứng giữa mục đích và phương tiện.

Áp dụng nguyên tắc đó vào đề xuất nếu bản lĩnh chính trị được dùng làm căn cứ thu hồi chứng chỉ hành nghề thì căn cứ đó phải được Quốc hội xác định trong Luật, không thể giao Chính phủ tự quy định. Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ đã nêu điều này ngay tại phiên họp ngày 06/4/2026. Tuy nhiên vấn đề không chỉ dừng lại ở cấp độ văn bản. Ngay cả khi Luật đã có quy định, quy trình thực thi quyền lực thu hồi đó cũng phải đáp ứng các yêu cầu về kiểm soát quyền lực mà một nhà nước pháp quyền không thể bỏ qua.

2. Một số vướng mắc

Trong hệ thống quản lý nghề luật sư hiện hành, Chủ tịch UBND cấp tỉnh là chủ thể có thẩm quyền cấp và thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư theo Nghị định số 121/2025/NĐ-CP. Thẩm quyền can thiệp vào quyền hành nghề đã được mở rộng thêm một bậc kể từ ngày 18/5/2026 khi Nghị định số 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Theo đó Chủ tịch UBND cấp xã và Chủ tịch UBND cấp tỉnh đều có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn từ 01 tháng đến 09 tháng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 8 của Nghị định.

Ngoài ra, theo Điều 89 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã, một số Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Bộ Công an và Công an cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh cùng một số Cục trưởng thuộc Bộ Công an cũng được giao thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn theo thẩm quyền xử phạt của từng chức danh. Tuy nhiên, việc áp dụng đối với hành vi cụ thể còn phải đối chiếu thêm quy định phân định thẩm quyền tại Điều 90 của Nghị định.

Đoàn Luật sư tham gia ở khâu đề nghị cấp Chứng chỉ và trong một số trường hợp kỷ luật, đề nghị thu hồi Chứng chỉ. Sở Tư pháp là cơ quan được thông báo, phối hợp quản lý ở địa phương. Còn Liên đoàn Luật sư Việt Nam thực hiện chức năng tự quản nghề nghiệp và có thẩm quyền đối với Thẻ luật sư.

Nói cách khác ngay trước khi tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị được đặt ra trong dự thảo Luật Luật sư sửa đổi, hệ thống pháp luật hiện hành đã cho thấy một xu hướng mở rộng số lượng chủ thể hành chính có thể can thiệp vào quyền hành nghề luật sư mà không thông qua cơ chế tự quản nghề nghiệp. Nếu tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị được bổ sung vào căn cứ thu hồi chứng chỉ mà không xác lập chủ thể đánh giá độc lập thì quyền lực can thiệp vào nghề luật sư sẽ không chỉ mở rộng về số lượng chủ thể mà còn mở rộng về căn cứ, từ hành vi vi phạm có thể kiểm chứng sang đánh giá nhận thức tư tưởng không có tiêu chí đo lường.

Mỗi chủ thể này đều có xung đột lợi ích tiềm tàng khác nhau khi được trao thẩm quyền đánh giá bản lĩnh chính trị của một luật sư đang tham gia bào chữa trong vụ án nhạy cảm. Cơ quan quản lý nhà nước về luật sư trực tiếp chịu áp lực chính trị. Đoàn Luật sư có thể bị áp lực từ cơ quan quản lý. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có cơ cấu nhân sự lãnh đạo theo Nghị định số 137/2018/NĐ-CP yêu cầu “có bản lĩnh chính trị vững vàng” ngay chính với vị trí lãnh đạo tổ chức. Dự thảo không xác định chủ thể nào trong số này sẽ thực thi quyền thu hồi và theo tiêu chí cụ thể nào.

Nguyên tắc 28 của Basic Principles on the Role of Lawyers năm 1990 nêu rằng các thủ tục kỷ luật đối với luật sư phải được đưa ra trước một ủy ban kỷ luật khách quan do giới luật sư thành lập, hoặc trước một cơ quan pháp định độc lập, hoặc trước tòa án, và phải chịu sự xem xét tư pháp độc lập. Hiện nay trên thế giới không có hệ thống pháp luật nào của các quốc gia có nhà nước pháp quyền lại cho phép thu hồi quyền hành nghề luật sư mà không có thủ tục tố tụng công bằng độc lập với cơ quan quản lý hành chính.

Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 bảo đảm rằng người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Quyền hiến định này không phân biệt tính chất của vụ án. Nó áp dụng cho cả vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, bởi vì ngay chính trong vụ án đó, sự có mặt của luật sư bào chữa mới là điều kiện để bảo đảm tố tụng công bằng và ngăn ngừa oan sai. Nếu tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị được áp dụng theo cách khiến luật sư ngại tiếp nhận các vụ án nhạy cảm vì lo ngại bị đánh giá là thiếu bản lĩnh chính trị thì trên thực tế quyền hiến định tại Điều 31 bị rỗng hoá không phải bằng lệnh cấm trực tiếp mà bằng cơ chế gây tự kiểm duyệt.

Trong bối cảnh Việt Nam nếu tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị được đưa vào điều kiện hành nghề nhưng không có nội hàm rõ ràng và không có cơ chế phúc thẩm độc lập, các tác động thực tế dự kiến sẽ không phải là từ chối cấp chứng chỉ cho ai hay thu hồi chứng chỉ của ai theo trình tự công khai. Thay vào đó, tác động sẽ là luật sư cân nhắc kỹ hơn trước khi tiếp nhận vụ án nhạy cảm, bởi vì họ không biết hành vi nào của mình trong quá trình bào chữa sẽ bị diễn giải là biểu hiện của thiếu bản lĩnh chính trị. Nghiên cứu của tổ chức Lawyers for Lawyers và Human Rights in China đã ghi nhận chính xác hiệu ứng này tại Trung Quốc. Sau khi cơ chế kiểm tra giấy phép hành nghề hàng năm được thắt chặt, số lượng luật sư nhận bào chữa trong vụ án an ninh quốc gia giảm không phải vì họ bị cấm mà vì họ không muốn rủi ro.

Việt Nam có nền tảng pháp luật về quyền bào chữa tốt hơn và có Luật Luật sư mạnh hơn nhiều so với Trung Quốc thập niên 2000. Nhưng đây chính là lý do để không để quy định về bản lĩnh chính trị trượt khỏi khuôn khổ kỹ thuật pháp lý chặt chẽ. Nghị quyết 27-NQ/TW là văn kiện gốc của chính sách này, xác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thể tách rời mục tiêu bảo đảm quyền con người và kiểm soát quyền lực nhà nước. Tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị nếu không được thiết kế đúng kỹ thuật sẽ đi ngược lại chính mục tiêu của văn kiện đó.

3. Tiền lệ xử lý tiêu chuẩn chính trị trong quản lý nghề nghiệp tại Việt Nam

Tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng không phải là khái niệm mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam về quản lý nghề luật sư. Nghị định số 137/2018/NĐ-CP đã quy định tiêu chuẩn này cho nhân sự lãnh đạo Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Tuy nhiên ở đó tiêu chuẩn được áp dụng cho chức vụ quản lý tổ chức nghề nghiệp chứ không phải cho quyền hành nghề cá nhân. Khoảng cách giữa tiêu chuẩn bổ nhiệm chức vụ và tiêu chuẩn duy trì quyền hành nghề không phải khoảng cách về mức độ mà là khoảng cách về bản chất pháp lý. Mất chức vụ quản lý thì luật sư vẫn còn quyền hành nghề nhưng mất chứng chỉ hành nghề thì mất luôn tư cách nghề nghiệp. Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã vượt qua ranh giới đó khi đưa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị từ điều kiện giữ chức vụ sang điều kiện duy trì quyền hành nghề.

Cách hệ thống pháp luật hiện hành xử lý tiêu chuẩn chính trị và đạo đức trong các nghề bổ trợ tư pháp khác cho thấy một công thức nhất quán mà ban soạn thảo cần lưu ý. Luật Công chứng 2024 quy định tại Điều 10 rằng người được bổ nhiệm công chứng viên phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt. Đây là tiêu chuẩn mang tính chính trị và đạo đức ở đầu vào. Nhưng khi quy định miễn nhiệm bắt buộc tại khoản 2 Điều 16, Luật Công chứng 2024 chỉ liệt kê các căn cứ khách quan kiểm chứng được, bao gồm không còn đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không hành nghề liên tục từ 12 tháng trở lên, bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc, bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Không có căn cứ miễn nhiệm nào dựa trên đánh giá nhận thức tư tưởng hay bản lĩnh chính trị của công chứng viên trong quá trình hành nghề.

Luật Giám định tư pháp 2025 cũng áp dụng cùng một công thức. Tiêu chuẩn có phẩm chất đạo đức tốt là điều kiện đầu vào tại Điều 10, nhưng miễn nhiệm giám định viên tại Điều 11 lại căn cứ vào hành vi cụ thể. Cả hai hệ thống này đều cho thấy rằng tiêu chuẩn chính trị và đạo đức hoàn toàn có thể tồn tại trong điều kiện hành nghề mà không cần trở thành công cụ đánh giá nhận thức miễn là luật tách biệt rõ ràng giữa tiêu chuẩn đầu vào và căn cứ tước quyền hành nghề.

Nghị định số 109/2026/NĐ-CP là minh chứng mới nhất cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành đã có đầy đủ công cụ để xử lý vi phạm của luật sư dựa trên hành vi kiểm chứng được. Điều 8 Nghị định 109/2026/NĐ-CP liệt kê cụ thể các hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề luật sư, từ cung cấp dịch vụ pháp lý trái quy định, tẩy xóa chứng chỉ, đến cản trở hoạt động tố tụng và móc nối với người tiến hành tố tụng. Mỗi hành vi đều có khung phạt tiền xác định và hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn từ 01 tháng đến 09 tháng. Ngoài ra, nếu một luật sư có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, hệ thống pháp luật hiện hành đã có đủ công cụ xử lý từ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015, kỷ luật xóa tên theo Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đến thu hồi chứng chỉ hành nghề theo Điều 18 Luật Luật sư khi có bản án có hiệu lực.

4. Đề xuất hoàn thiện

Tác giả đề xuất ba yêu cầu kỹ thuật tối thiểu mà Luật Luật sư (sửa đổi) phải đáp ứng trước khi quy định về bản lĩnh chính trị có thể được đưa vào điều kiện thu hồi chứng chỉ hành nghề.

Yêu cầu thứ nhất là xác lập chủ thể đánh giá độc lập với cơ quan tố tụng. Cơ quan hoặc hội đồng có thẩm quyền kết luận một luật sư không còn đáp ứng tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị phải được tổ chức theo nguyên tắc không có thành phần nào từ cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan Công an. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đã trao cho Trưởng Công an cấp xã, Trưởng phòng thuộc Công an cấp tỉnh và Giám đốc Công an cấp tỉnh thẩm quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn, cho thấy xu hướng mở rộng quyền lực hành chính lên nghề luật sư không chỉ dừng ở cấp chính quyền mà đã lan sang cả cơ quan tố tụng hình sự. Yêu cầu này không phải xuất phát từ sự nghi ngờ các cơ quan tố tụng mà từ nguyên tắc cơ bản rằng không ai được là thẩm phán trong chính vụ việc của mình. Luật sư bào chữa trong một vụ án có mặt cơ quan tố tụng là phản tố nhân và do đó cơ quan tố tụng không thể đồng thời là người đánh giá bản lĩnh chính trị của luật sư trong chính vụ án đó.

Yêu cầu thứ hai là xác lập thủ tục với tiêu chí kiểm chứng được. Quyết định thu hồi chứng chỉ dựa trên tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị phải căn cứ vào hành vi cụ thể đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý bằng quyết định hành chính hoặc bản án có hiệu lực, không phải căn cứ vào đánh giá nhận thức hay thái độ của luật sư. Mô hình này Việt Nam đã thực hiện thành công với tiêu chuẩn tuân thủ Hiến pháp và pháp luật thông qua Điều 2a Nghị định số 137/2018/NĐ-CP, liệt kê danh mục hành vi cụ thể dẫn đến kết luận không đáp ứng tiêu chuẩn. Cách tiếp cận tương tự cần được áp dụng cho bản lĩnh chính trị.

Yêu cầu thứ ba là bảo đảm quyền kháng cáo tư pháp. Quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư phải có thể bị khởi kiện tại tòa án hành chính theo thủ tục thông thường, không bị loại trừ khỏi thẩm quyền tòa án với lý do liên quan đến an ninh quốc gia. Quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư dù căn cứ vào lý do nào vẫn là quyết định hành chính ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và phải thuộc phạm vi kiểm tra tư pháp.

Kết luận

Đề xuất bổ sung tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng vào điều kiện hành nghề luật sư có nguồn gốc chính sách rõ ràng từ Nghị quyết 27-NQ/TW. Tuy nhiên một đề xuất chính sách tốt vẫn có thể trở thành công cụ kiểm soát không được giám sát nếu không đáp ứng được ba câu hỏi cốt lõi về quản trị quyền lực: Ai đánh giá, theo thủ tục nào và có thể kháng cáo không? Nhà nước pháp quyền, theo tinh thần của chính Nghị quyết 27-NQ/TW, không chỉ là nhà nước có luật mà là nhà nước trong đó mọi quyền lực đều được kiểm soát bởi quy phạm và bởi quy trình. Tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị với tất cả sức mạnh tước bỏ quyền hành nghề của nó là một loại quyền lực lớn và quyền lực lớn cần được kiểm soát tương xứng.

Tài liệu tham khảo

1. Luật Luật sư số 65/2006/QH11 sửa đổi bổ sung bởi Luật số 20/2012/QH13;

2. Hiến pháp 2013;

3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

4. Nghị định số 137/2018/NĐ-CP;

5. Nghị định số 121/2025/NĐ-CP;

6. Nghị định số 109/2026/NĐ-CP;

7. Luật Công chứng 2024;

8. Luật Giám định tư pháp 2025;

9. OHCHR (1990). Basic Principles on the Role of Lawyers, https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/basic-principles-role-lawyers

Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ

Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý

Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Các tin khác