/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Chủ doanh nghiệp tư nhân 'tham ô tài sản' của chính mình: Nghịch lý và khoảng trống pháp lý

Chủ doanh nghiệp tư nhân 'tham ô tài sản' của chính mình: Nghịch lý và khoảng trống pháp lý

28/03/2026 08:32 |

(LSVN) - Bài viết phân tích các vướng mắc pháp lý cấu trúc khi áp dụng khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 vào khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là vấn đề xác định chủ thể đặc biệt, phân biệt tài sản pháp nhân với tài sản cá nhân và ranh giới giữa tội "Tham ô" với tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Từ thực tiễn vụ án Trương Mỹ Lan, bài viết đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật, bao gồm việc ban hành nghị quyết hướng dẫn, phát triển án lệ và đánh giá tác động của việc bãi bỏ hình phạt tử hình theo BLHS sửa đổi 2025.

1. Đặt vấn đề

Ngày 14/3/2026, trả lời kiến nghị của cử tri gửi sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong khẳng định: đây là lần đầu tiên cơ quan chức năng khởi tố, điều tra, xử lý về tội "Tham ô tài sản" đối với chủ doanh nghiệp tư nhân. Phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh chủ trương phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Từ góc độ pháp lý hình sự, phát biểu này đặt ra một câu hỏi cấu trúc quan trọng: Tại sao khoản 6 Điều 353 BLHS 2015 quy định mở rộng tội "Tham ô tài sản" sang khu vực ngoài nhà nước đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nhưng phải mất 08 năm sau mới lần đầu tiên được áp dụng đối với chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách là người thực hành tội "Tham ô tài sản"?

Sự chậm trễ này không phải do thiếu luật. Nó bắt nguồn từ việc thiếu hướng dẫn cụ thể về cấu thành chủ thể đặc biệt trong khu vực tư nhân và bộc lộ những vướng mắc cấu trúc mà đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Bài viết này phân tích ba vướng mắc cấu trúc cốt lõi: (1) Nghịch lý khi chủ doanh nghiệp tham ô tài sản của chính doanh nghiệp mình; (2) Khoảng trống trong khái niệm “cơ quan, tổ chức” theo Điều 352 BLHS; và (3) Ranh giới mờ nhạt giữa tội "Tham ô" với tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (Điều 175 BLHS). Từ đó đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

2. Bước chuyển lập pháp: Từ khu vực Nhà nước sang khu vực tư nhân

Trong BLHS 1999, tội "Tham ô tài sản" (Điều 278) chỉ áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản do Nhà nước quản lý. Quan điểm lập pháp này phù hợp với bối cảnh kinh tế giai đoạn trước đổi mới, khi khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng ngày càng bộc lộ hạn chế khi kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ.

BLHS 2015 đánh dấu bước ngoặt khi bổ sung khoản 6 Điều 353, mở rộng phạm vi áp dụng sang người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Bước chuyển này nằm trong logic pháp lý chung: Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 cũng mở rộng khái niệm “người có chức vụ, quyền hạn” sang khu vực tư, thể hiện nhận thức rằng tham nhũng không chỉ là vấn đề của bộ máy nhà nước mà còn của mọi tổ chức có cơ cấu quyền lực nội bộ.

Nhưng bước chuyển lập pháp này chỉ dừng ở mức nguyên tắc. Khoản 6 Điều 353 chỉ gồm một câu duy nhất, không định nghĩa cụ thể thế nào là “chức vụ, quyền hạn” trong doanh nghiệp tư nhân, cũng không giải quyết vấn đề phân biệt tài sản của doanh nghiệp và tài sản cá nhân của chủ sở hữu. Đây chính là nguồn gốc của những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng suốt gần 08 năm qua.

3. Nghịch lý mang tên chủ doanh nghiệp tham ô tài sản của chính mình

3.1. Vấn đề chủ thể đặc biệt và khái niệm “chức vụ, quyền hạn”

Khoản 2 Điều 352 BLHS 2015 định nghĩa người có chức vụ là người “do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.

Định nghĩa này được xây dựng chủ yếu cho bộ máy nhà nước, nơi chức vụ phát sinh từ quyết định hành chính (bổ nhiệm, tuyển dụng). Khi áp dụng vào khu vực tư nhân, khái niệm này gặp nhiều vướng mắc. Với chủ doanh nghiệp thì “chức vụ, quyền hạn” không phát sinh từ việc được ai giao, mà phát sinh từ chính quyền sở hữu. Chủ doanh nghiệp không được “bổ nhiệm” hay “tuyển dụng” vào vị trí chủ doanh nghiệp bởi họ tự tạo ra vị trí đó bằng việc thành lập doanh nghiệp.

Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP và Công văn số 196/TANDTC-PC đã cung cấp một số hướng dẫn, theo đó quyền hạn có thể phát sinh từ việc được giao nhiệm vụ cụ thể (dù là tối thiểu) liên quan đến việc quản lý, định đoạt tài sản. Các văn bản này chủ yếu giải quyết trường hợp nhân viên, người lao động chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp chứ không trực tiếp giải quyết trường hợp chủ doanh nghiệp chiếm đoạt tài sản của chính doanh nghiệp mình.

3.2. Tư cách pháp nhân và nghịch lý tham ô tài sản của mình

Đây là vướng mắc cấu trúc nghiêm trọng nhất. Với công ty cổ phần hay công ty TNHH (có tư cách pháp nhân) thì tài sản của doanh nghiệp độc lập với tài sản của chủ sở hữu. Việc chủ tịch HĐQT hay giám đốc chiếm đoạt tài sản của công ty về mặt lý thuyết có thể cấu thành tham ô tài sản bởi tài sản của pháp nhân không phải tài sản của cá nhân họ.

Nhưng với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) theo Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020, tình hình hoàn toàn khác. DNTN không có tư cách pháp nhân. Chủ DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Pháp luật không tách bạch tài sản của DNTN với tài sản cá nhân của chủ DNTN. Vậy khi chủ DNTN rút tiền từ tài khoản doanh nghiệp sang tài khoản cá nhân, hành vi đó có cấu thành chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý hay không? Nếu tài sản doanh nghiệp và tài sản cá nhân không được pháp luật phân biệt thì yếu tố chiếm đoạt khó có thể thỏa mãn.

Vụ án Trương Mỹ Lan cho thấy cách tiếp cận của cơ quan tố tụng trong việc giải quyết vướng mắc này. Bà Lan là Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân), đồng thời nắm giữ từ 85% đến 91,5% cổ phần Ngân hàng SCB thông qua các cá nhân, pháp nhân đứng tên. Mặc dù không giữ chức vụ chính thức trong SCB, bà Lan được VKS và Tòa án xác định là người có quyền lực cổ đông chi phối, thực tế chỉ đạo, điều hành tuyệt đối mọi hoạt động của SCB. Tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của SCB (pháp nhân độc lập) chứ không phải tài sản cá nhân của bà Lan.

Đây là lần đầu tiên Tòa án vận dụng khái niệm “chức vụ, quyền hạn thực tế” thay vì chỉ dựa vào chức danh pháp lý để xác định chủ thể tội "Tham ô tài sản" trong khu vực tư nhân. Nhưng cách tiếp cận này chưa được hệ thống hóa thành hướng dẫn chung. Và quan trọng hơn nó chỉ giải quyết được trường hợp chủ doanh nghiệp là cổ đông chi phối của pháp nhân khác (SCB), chứ chưa giải quyết được trường hợp chủ DNTN chiếm đoạt tài sản của chính DNTN mình.

3.3. Khoảng trống về khái niệm “cơ quan, tổ chức”

Khoản 1 Điều 352 BLHS 2015 xác định các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của “cơ quan, tổ chức”. Nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể “cơ quan, tổ chức” bao gồm những đối tượng nào.

Có hai quan điểm đối lập. Quan điểm thứ nhất cho rằng “cơ quan, tổ chức” chỉ bao gồm cơ quan nhà nước và pháp nhân theo Điều 74 BLDS 2015 tức là chủ thể có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tư cách pháp nhân độc lập. Theo quan điểm này thì hộ kinh doanh cá thể và DNTN (không có tư cách pháp nhân) không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội "Tham ô tài sản".

Quan điểm thứ hai, được ủng hộ bởi Công văn 196/TANDTC-PC, cho rằng chỉ cần có quan hệ lao động và việc giao quản lý tài sản thông qua phân công nhiệm vụ nội bộ là đủ cấu thành yếu tố chủ thể của Tội tham ô, bất kể chủ thể sở hữu tài sản có tư cách pháp nhân hay không.

Sự tồn tại đồng thời của hai quan điểm này dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Cùng một hành vi chiếm đoạt tài sản của DNTN, nơi thì khởi tố về tội "Tham ô tài sản", nơi thì xử lý theo tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" hoặc Tội trộm cắp tài sản.

3.4. Ranh giới mờ nhạt với tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

Về lý thuyết thì tiêu chí phân biệt giữa tội "Tham ô tài sản" (Điều 353) và tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (Điều 175) nằm ở cơ sở pháp lý của việc giao tài sản. Nếu tài sản được giao thông qua phân công nhiệm vụ nội bộ, mang tính chất tổ chức, hành chính thì đó là "Tham ô". Nếu tài sản được giao thông qua giao dịch dân sự (hợp đồng vay, mượn, gửi giữ) thì đó là "Lạm dụng tín nhiệm".

Với chủ doanh nghiệp - người vừa là chủ sở hữu vừa là người quản lý thì ranh giới này bị xóa nhòa. Chủ doanh nghiệp không “được giao” quản lý tài sản bởi ai cả vì họ quản lý tài sản với tư cách chủ sở hữu. Việc họ rút tiền, chuyển tài sản từ doanh nghiệp sang cá nhân có thể là vi phạm nghĩa vụ với chủ nợ (nếu doanh nghiệp đang nợ), vi phạm nghĩa vụ thuế hoặc cấu thành hành vi lừa đảo đối với đối tác. Nhưng có cấu thành tham ô hay không là vấn đề cần tranh luận nghiêm túc.

4. BLHS sửa đổi 2025: Thay đổi lớn đối với tội "Tham ô tài sản"

Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã thực hiện một thay đổi quan trọng đối với Điều 353. Cụ thể khoản 4 Điều 353 được sửa đổi theo hướng bãi bỏ hình phạt tử hình, mức hình phạt cao nhất còn lại là tù 20 năm hoặc tù chung thân. Đồng thời, mức phạt tiền bổ sung tăng từ 30–100 triệu đồng lên 60–200 triệu đồng.

Thay đổi này đặt ra hai vấn đề đáng chú ý. Thứ nhất về tính răn đe, việc bãi bỏ hình phạt tử hình là xu hướng tiến bộ phù hợp với luật nhân quyền quốc tế nhưng diễn ra ngay trong giai đoạn công cuộc phòng, chống tham nhũng đang được đẩy mạnh mẽ nhất. Câu hỏi đặt ra là liệu việc giảm mức hình phạt có làm giảm tính răn đe đối với nhóm chủ thể là chủ doanh nghiệp tư nhân, tức là những người có khả năng chiếm đoạt tài sản với giá trị rất lớn?

Thứ hai về nguyên tắc có lợi cho bị cáo trên tinh thần của Điều 7 BLHS. Trong vụ án Trương Mỹ Lan bị tuyên tử hình về tội "Tham ô tài sản" ở cấp sơ thẩm. Nếu BLHS sửa đổi 2025 có hiệu lực trước khi bản án có hiệu lực pháp luật thì theo nguyên tắc có lợi, mức hình phạt tối đa chỉ còn là tù chung thân. Đây là vấn đề cần được phân tích kỹ về mặt áp dụng luật theo thời gian.

5. Kiến nghị hoàn thiện

Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất ba hướng hoàn thiện.

Thứ nhất, TANDTC cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng Điều 353 BLHS trong khu vực tư nhân. Nghị quyết này cần làm rõ ít nhất ba vấn đề: (1) phạm vi khái niệm “cơ quan, tổ chức” theo Điều 352, có bao gồm DNTN (không có tư cách pháp nhân) hay không; (2) tiêu chí xác định “chức vụ, quyền hạn” của chủ doanh nghiệp, phân biệt với quyền sở hữu; và (3) cách xác định ranh giới tài sản doanh nghiệp và tài sản cá nhân đối với loại hình DNTN.

Thứ hai, cần đẩy mạnh phát triển án lệ từ vụ án Trương Mỹ Lan. Cách Tòa án xác định “chức vụ, quyền hạn thực tế” dựa trên quyền chi phối cổ đông (thay vì chức danh pháp lý chính thức) là một bước tiến quan trọng về mặt lý luận. Nhưng nếu không được hệ thống hóa thành án lệ chính thức thì các Tòa án địa phương sẽ không có cơ sở để áp dụng thống nhất.

Thứ ba, cần hướng dẫn rõ ranh giới giữa tội "Tham ô tài sản" và tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" khi chủ thể là chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với các trường hợp chủ doanh nghiệp chuyển tài sản doanh nghiệp vào mục đích cá nhân trong khi doanh nghiệp đang có nghĩa vụ nợ với bên thứ ba, cần xác định rõ đây là tham ô, lạm dụng tín nhiệm hay chỉ là vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Kết luận

Phát biểu của Tổng Thanh tra Chính phủ về việc “lần đầu tiên khởi tố, xử lý tội "Tham ô tài sản" với chủ doanh nghiệp tư nhân” vừa khẳng định quyết tâm chính trị, vừa bộc lộ một thực tế pháp lý đó là khoản 6 Điều 353 BLHS 2015 đã tồn tại gần 08 năm trước khi được áp dụng đầy đủ vào nhóm chủ thể mà nó hướng đến.

Sự chậm trễ đó không phải ngẫu nhiên. Nó phản ánh những vướng mắc cấu trúc thực sự về khoảng trống trong khái niệm “cơ quan, tổ chức”, nghịch lý về tư cách pháp nhân của DNTN và ranh giới mờ nhạt giữa tham ô và lạm dụng tín nhiệm. Nếu không giải quyết dứt điểm các vướng mắc này bằng văn bản hướng dẫn chính thức thì việc mở rộng phạm vi áp dụng tội "Tham ô tài sản" sang khu vực tư nhân sẽ tiếp tục mang tính chất tình huống, phụ thuộc vào đặc thù từng vụ án thay vì trở thành chính sách pháp luật nhất quán.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14);

2. Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS;

3. Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14;

4. Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14;

5. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13;

6. Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC;

7. Công văn số 196/TANDTC-PC của TANDTC.

Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ

Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý

Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Các tin khác