Thị trường chứng khoán
Đạo luật về chứng khoán đầu tiên được ra đời tại Hợp chủng quốc Hoa kỳ năm 1934. Ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định: “Chứng khoán là tài sản bao gồm: Cổ phiếu, tái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phiếu, chứng chỉ lưu ký, chứng khoán phái sinh và các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định”. Theo đó, thị trường chứng khoán là: a) Một bộ phận cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm hoặc tạm thời nhàn rỗi, nơi giao dịch các công cụ tài chính của thị trường vốn; b) Nơi diễn ra các giao dịch trao đổi, mua bán các loại chứng khoán hay các giấy tờ có giá, được thực hiện theo những quy tắc đã ấn định trước; c) Một loại thị trường vốn trung và dài hạn, nơi diễn ra các hoạt động phát hành, trao đổi, mua bán, chuyển nhượng chứng khoán nhằm mục đích lợi nhuận. Luôn chứa đựng nhiều biến động khó lường mà không ai có thể đoán định được trước, trong sự vận động liên tục của thị trường và sự biến động không ngừng của giá cổ phiếu, các chỉ số đo lường thị trường dường như trở thành một ẩn số rất khó dự đoán.
Thị trường chứng khoán là thị trường vốn đặc biệt hoạt động theo một thiết chế nhất định, dưới sự quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán; nơi diễn ra các hoạt động phát hành, lưu ký, chào bán, niêm yết, trao đổi, mua bán, giao dịch ký quỹ, cầm cố chứng khoán theo quy định của pháp luật. Thị trường chứng khoán là thị trường hàng hoá, một loại tài sản đặc biệt, là kênh huy động và phân bổ nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại, có vị trí chức năng hết sức quan trọng, cung cấp các chỉ số dự báo, do lường sự năng động, quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 và có phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ngày nay, thị trường chứng khoán là một kênh đầu tư sôi động, huy động vốn trung và dài hạn từ các cá nhân, tổ chức trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần cơ cấu hệ thống tài chính theo hướng cân đối và bền vững. Cơ cấu sản phẩm, dịch vụ cho thị trường chứng khoán ngày càng hoàn thiện và phát triển đa dạng các loại sản phẩm, không chỉ các sản phẩm đầu tư truyền thống trước đây là cổ phiếu, trái phiếu mà còn có nhiều cơ cấu sản phẩm mới như chứng chỉ quỹ, sản phẩm đầu tư và phòng ngừa rủi ro như chứng quyền, hợp đồng tương lai chỉ số VN30, hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ 05 năm, 10 năm. Bên cạnh đó, các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường chứng khoán cũng đa dạng như giao dịch ký quỹ, nghiệp vụ vay và cho vay chứng khoán để hỗ trợ thanh toán chứng khoán, giao dịch mua lại…
Bên cạnh các điểm tích cực thị trường chứng khoán, thị trường chứng khoán luôn chứa đựng nhiều mối quan hệ phức tạp, đa chiều, khó kiểm soát. Trong bối cảnh các công cụ chính sách, quy phạm pháp luật hiện hành về thị trường chứng khoán còn chưa theo kịp với sự phát triển, biến động của thị trường chứng khoán, nên chưa đủ để có thể kiểm soát, ngăn chặn các hậu quả. Do đó, phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn, tình trạng vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán cũng diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi, nghiêm trọng, quy mô lớn, gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư, các tổ chức niêm yết, hệ thống tài chính, ảnh hưởng đến hoạt động thị trường, đi ngược lại với lợi ích chung của thị trường, xâm phạm đến quyền và lợi ich hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Một trong những nguy hại tiềm ẩn đe doạ trực tiếp đến sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán đó là hành vi thao túng giá cổ phiếu, khiến giá cổ phiếu biến động theo chủ đích, làm lũng đoạn thị trường, gây ảnh hưởng đến chỉ số của thị trường nhằm mục đích vụ lợi trên thị trường phái sinh lẫn thị trường cơ sở. Dẫn đến các hành vi bán tháo dây truyền theo hiệu ứng domino, lệnh bán giải chấp ký quỹ (margin), thanh lý bắt buộc (foree sell) bị kích hoạt trên diện rộng ở hầu hết các công ty chứng khoán. Tình trạng trắng bên mua xuất hiện trên diện rộng, các cổ phiếu tốt trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của lệnh thanh lý bắt buộc (foree sell), các ngân hàng nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, khắc hoạ nên một bức tranh u ám của thị trường chứng khoán.
Hành vi thao túng thị trường chứng khoán
Pháp luật Việt Nam chưa có khái niệm về hành vi “thao túng giá cổ phiếu” mà chỉ có khái niệm chung về “thao túng thị trường chứng khoán” bằng kỹ thuật lập pháp là liệt kê các hành vi mang tính chất thao túng chứng khoán và thị trường chứng khoán bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 128/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 bao gồm các hành vi sau: a) Sử dụng tài khoản của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng để mua bán chứng khoán để tạo cung cầu giả tạo; b) Đặt lệnh mua bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày hoặc thông đồng giao dịch nhưng không chuyển quyền sở hữu chứng khoán thực sự nhằm tạo giá, tạo cung cầu giả tạo; c) Tạo mức giá mở cửa mới hoặc giá đóng cửa mới bằng cách đặt lệnh liên tục với khối lượng chi phối vào khi mở cửa phiên ATO hoặc đóng cửa phiên ATC ngày giao dịch; d) Câu kết hoặc lôi kéo những người khác liên tục đặt lệnh gây ảnh hưởng cung cầu, giá chứng khoán; đ) Đưa ra ý kiến gián tiếp hoặc trực tiếp trên phương tiện truyền thông đại chúng về một loại chứng khoán, tổ chức phát hành nhằm tạo ảnh hưởng đến giá cổ phiếu sau khi đã giao dịch và nắm giữ vị thế chứng khoán; e) Dùng phương thức hoặc hành vi khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, tin sai lệch ra công chúng để tạo cung cầu giả, thao túng giá chứng khoán.
Thao túng thị trường chứng khoán tập trung là hành vi rất tinh vi, phức tạp, nó không chỉ tồn tại ở các phương thức về mặt khách quan mà nó còn vận động trên cơ sở của dòng tiền thao túng bí ẩn giúp cho chủ thể có hành vi thao túng thực hiện các giao dịch mua bán cổ phiếu trong thời gian nhất định và lưu thông thường xuyên. Là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật về chứng khoán và pháp luật khác liên quan, được thực hiện bởi một hoặc một số cá nhân, tổ chức nhằm làm sai lệch cơ chế hình thành giá cổ phiếu để kiểm soát sự tăng/giảm giá cổ phiếu, tạo lập cung cầu một cách giả tạo, không theo các quy luật của thị trường gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức hoặc ảnh hưởng đến trật tự giao dịch ổn định của thị trường chứng khoán tập trung nhằm mục đích thu không hợp pháp. Như vậy, nếu chỉ có cách thức thao túng thị trường chứng khoán mà không có sự xuất hiện, tồn tại, liên kết và vận động của dòng tiền thao túng hỗ trợ giữa các tài khoản thành viên thì sẽ không thể hình thành hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Như vậy, thao túng thị trường chứng khoán là hành vi lập trình để kiểm soát hoặc làm ảnh hưởng đến thị trường bảo mật đặc biệt của nhà đầu tư, gây trở ngại cho cung cầu cổ phiếu, các hoạt động mô phỏng tạo lập giả giá cổ phiếu, lừa dối các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán, có nghĩa là: a) Các giao dịch hoặc lệnh giao dịch đưa ra hoặc có khả năng đưa ra các tín hiệu sai lệch hoặc gây hiểu nhầm về cung cầu hoặc giá cổ phiếu hoặc được thực hiện bởi một hoặc một số người phối hợp giao dịch làm cho giá cổ phiếu ở mức bất thường hoặc giả tạo, trừ khi họ đưa ra được lý do thực hiện giao dịch như vậy là hợp pháp hoặc phù hợp với thông lệ của thị trường chứng khoán; b) Các giao dịch sử dụng các thiết bị hư cấu hoặc bất kỳ hình thức lừa dối hoặc có liên quan nào khác; c) Phổ biến tin đồn trên phương tiện truyền thông đại chúng, internet hoặc bất kỳ các phương tiện thông tin nào khác mang lại hoặc có khả năng đưa ra những tín hiệu sai lệnh hoặc hiểu nhầm.
Thứ nhất, chủ thể của dòng tiền thao túng: Không chỉ cá nhân có tài sản lớn hoặc giữ các chức vụ quản trị, điều hành cao cấp tại các tổ chức niêm yết mà còn có thể là chính các tổ chức niêm yết (pháp nhân thương mại) nhưng các quyết định đó bị tác động chi phối bởi các chủ thể có thẩm quyền quản trị, điều hành cao cấp tại các tổ chức niêm yết. Suy cho cùng, tài sản của những cá nhân kể trên đa phần là cổ phiếu của chính công ty niêm yết, nên họ lợi dụng để hình thành nên dòng tiền nâng đỡ giá cổ phiếu để thao túng bảo đảm cho tài sản của mình không bị giảm sút giá trị. Hiện nay vẫn còn có những quan điểm khác nhau về cấu trúc của dòng tiền thao túng, cụ thể là: (i) Cấu trúc của dòng tiền thao túng là biểu hiện của quan hệ kinh tế, là yếu tố then chốt nhằm điều tiết sự tồn tại và lưu thông của dòng tiền cũng như việc xử lý những vấn đề liên quan đến cổ phiếu tại tổ chức niêm yết. (ii) Cấu trúc của dòng tiền thao túng chỉ là sản phẩm của kết quả quá trình tư duy của chủ thể thao túng nhằm trục lợi.
Thứ hai, cơ chế hình thành của dòng tiền thao túng: Nguồn của dòng tiền thao túng rất đa dạng, nhưng chủ yếu có được từ hoạt động kinh doanh và trộn lẫn với nguồn huy động vốn, đặc biệt là hoạt động vay hoặc phát hành trái phiếu. Dòng tiền thao túng sẽ phức tạp hơn và có nhiều khả năng xuất hiện từ sự giúp sức của các ngân hàng thương mại tư nhân đối với các cổ phiếu của ngân hàng hoặc các công ty nằm trong tập đoàn tư nhân lớn có ngân hàng thương mại là thành viên. Khi đó, hoạt động cấp tín dụng nhiều khả năng sẽ không còn bảo đảm các điều kiện an toàn và "sức khoẻ" của ngân hàng sẽ bị yếu đi nếu hoạt động cấp tín dụng đơn thuần bị hạn chế do thiếu hụt nguồn tiền.
Thứ ba, mô hình tổ chức (cấu trúc) dòng tiền thao túng: Ngoài các hành vi thao túng trá hình có cấu trúc riêng biệt theo từng hành vi cụ thể, thì các hành vi thao túng còn lại sau khi đã có được nguồn tiền, cấu trúc dòng tiền sẽ được thiết lập để tiền đi đến tài khoản giao dịch chứng khoán của các thành viên thao túng để thực hiện hành vi thao túng thông qua các giao dịch cho vay hoặc hợp tác đầu tư với nhau giữa các pháp nhân thương mại (là các thành viên thao túng). Từ các pháp nhân thương mại này, dòng tiền lại đi đến các cá nhân là những thành viên thao túng (cá nhân liên quan của công ty). Cấu trúc của dòng tiền trên thị trường chứng khoán là nột vấn đề rất khó nhận diện và nhạy cảm, nó thuộc phạm trù điều tiết của cơ chế thị trường và các quan hệ kinh tế. Do đó, không phải cứ dòng tiền nào được hình thành phức tạp, khó nhận diện đều có thể bị coi là có mục đích thao túng thị trường chứng khoán, mà chỉ có những hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán hoặc pháp luật khác liên quan, theo nguyên tắc “không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự”.
Thứ tư, hình thái tồn tại và lưu thông của dòng tiền thao túng (biểu hiện khách quan của cấu trúc dòng tiền). (i) Giai đoạn đầu dòng tiền khởi phát và tồn tại dưới hình thức tiền mặt được nằm chờ trong tài khoản giao dịch chứng khoán của các pháp nhân thương mại hoặc được chuyển ra tài khoản chứng khoán của các cá nhân có liên quan của các pháp nhân thương mại này để tăng số lượng tài khoản chứng khoán giao dịch thao túng. (ii) Giai đoạn bắt đầu thực hiện hành vi thao túng thì dòng tiền sẽ chuyển động thông qua giao dịch mua/bán cổ phiếu và chuyển trạng thái tồn tại ở dạng tài sản là cổ phiếu hoặc tiền mặt để thực hiện việc mua/bán không thực sự dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Giai đoạn thao túng tiếp theo (thứ cấp), dòng tiền sẽ chuyển trạng thái và lưu thông liên tục để thao túng. (iii) Kết thúc thao túng, dòng tiền sẽ chuyển sang trạng thái nhanh chóng “tháo chạy”, được tồn tại ở dạng tiền mặt và được rút ra khỏi tài khoản giao dịch chứng khoán để chuẩn bị cho việc hoàn trả dòng tiền thao túng.
Thứ năm, mục tiêu hướng tới của dòng tiền thao túng: Là để các chủ thể thành viên tham gia thao túng có dòng tiền riêng biệt để mua/bán đối với cổ phiếu của mục tiêu thao túng phục vụ cho mục đích của các chủ thể thao túng, có thể là bán ra số lượng cổ phiếu khi giá cổ phiếu tăng hoặc mua vào số lượng cổ phiếu lớn khi giá cổ phiếu giảm hoặc có thể chi phối, gia tăng quyền điều hành, quản trị tại tổ chức niêm yết.
Thứ sáu, phương thức, cách thức thực hiện hành vi thao túng: Để hình thành cấu trúc dòng tiền thao túng thì phải có mục đích hướng tới của dòng tiền và phương thức, cách thức để thực hiện hành vi thao túng. Bởi vì, phương thức, cách thức thực hiện hành vi thao túng sẽ quyết định đến cấu trúc dòng tiền thao túng luân chuyển phù hợp để đạt hiệu quả tối ưu.
Thứ bảy, phân chia lợi nhuận dòng tiền thao túng: a) Phân chia lợi ích cho các chủ thể dòng tiền thao túng (bởi vì nếu có một chủ thể thì không phát sinh sự phân chia); b) Phân chia lợi ích cho các thành viên tham gia cấu trúc dòng tiền thao túng; c) Để vận hành một dòng tiền thao túng phức tạp dưới sự tham gia, sở hữu chéo giữa nhiều pháp nhân thương mại, cá nhân thì tất yếu phải có sự phân chia lợi ích để duy trì sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh doanh. Lợi ích phân chia ở đây không phải là lợi ích cuối cùng, mà thông qua các giao dịch bình thường để dòng tiền được lưu thông, như hợp đồng vay, hợp tác đầu tư kinh doanh… để có những khoản lợi nhuận nhất định là khoản chênh lệch so với giá vốn từ dòng tiền gốc.
Thứ tám, hoàn trả dòng tiền thao túng: Khi đã đạt được mục tiêu thao túng và để xoá đi giấu vết dòng tiền thao túng, thì các chủ thể dòng tiền thao túng sẽ tìm cách để quy trở lại nguồn (nơi khởi phát ban đầu của dòng tiền) và cứ thế dòng tiền sẽ được tăng mạnh theo thời gian. Hoàn trả dòng tiền thao túng chính là cách để dòng tiền có thể bắt đầu một “vòng đời” mới hoặc lợi nhuận có được không hợp pháp từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán lại được đầu tư cho các hoạt động kinh doanh khác nhằm hợp thức hoá dòng tiền thao túng đã được hoàn trả (quay lại).
2.1 Chủ thể thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán luôn hướng tới mục tiêu: a) Thống trị, kiểm soát giá cổ phiếu để có thể mua ở giá thấp hoặc để bán ở giá cao nhằm thu lợi; b) “Đẩy” hoặc “đạp’ giá cổ phiếu trong các rổ chỉ số của thị trường chứng khoán để chốt các hợp đồng/vị thế phái sinh (Long hoặc Short) nhằm thu lợi hoặc tác động lên vị thế các chỉ số phái sinh vào thời điểm đáo hạn thông qua viêc tác động lên giá cổ phiếu trên thị trường cơ sở; c) “Đẩy” giá cổ phiếu để có thể bảo đảm được giải ngân (xuất tiền) một khoản tín dụng lớn hơn từ ngân hàng cho vay nhận thế chấp tài sản là cổ phiếu (tăng giá trị định giá tài sản bảo đảm); d) Để đạt mục tiêu trong kế hoạch huy động vốn thông qua chào bán cổ phiếu; đ) Buộc kích hoạt bán tài sản thế chấp bảo đảm cho hợp đồng vay, giao dịch ký quỹ (margin) để mua lại tài sản thế chấp, ký quỹ giá rẻ.
Từ những mục tiêu trên dẫn đến: (i) Gây thiệt hại trực tiếp cho nhà đầu tư, như đẩy giá (thổi giá) để chốt lãi cổ phiếu đang có hay kìm hãm, đạp giá để mua (thu gom) cổ phiếu. Gây thiệt hại gián tiếp cho các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm, tổ chức niêm yết, tổ chức cho vay margin… Theo đó, nhà dầu tư sử dụng công cụ tài chính là khoản vay tài chính do công ty chứng khoán cung cấp để mua/bán cổ phiếu. (ii) Làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung. Thị trường chứng khoán được tạo lập bởi các nhà đầu tư, do đó niềm tin của nhà đầu tư được xem là nền tảng, động lực để thị trường chứng khoán duy trì ổn định, phát triển bền vững. Cho nên, các quốc gia cần phải thiết kế được một thị trường chứng khoán công khai, minh bạch, công bằng để củng cố được niềm tin, bảo đảm được tài sản của các nhà đầu tư. (iii) Ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường chứng khoán và chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản, một phần không thể thiếu của nền kinh tế thị trường hiện đại, văn minh, là công cụ hữu hiệu đáng tin cậy để giúp Chính phủ ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô, thực thi chính sách tài chính tiền tệ và kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động điều tiết thị trường. Do vậy, nếu không có một cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh để quản lý, bảo vệ các thiết chế giao dịch của thị trường, bảo vệ tài sản của nhà đầu tư trước những hành vi thao túng thị trường chứng khoán thì khả năng các nhà đầu tư sẽ rời bỏ thị trường không an toàn để đi tìm kiếm các thị trường đầu tư khác, các kênh đầu tư khác an toàn và hiệu quả hơn. Vì vậy, việc duy trì ổn định, nâng hạng thị trường để biến thị trường chứng khoán thành kênh đều tư hấp dẫn của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, nâng cao quy mô vốn là nhiệm vụ cần thiết, quan trọng của các cơ quan quản lý và vận hành hoạt động về chứng khoán.
2.2 Yếu tố khách quan: Hành vi thao túng thị trường chứng khoán được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật về chứng khoán và các quy phạm pháp luật khác liên quan, được thực hiện thông qua các hành vi sau:
Một: Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng liên tục mua/bán cổ phiếu nhằm tạo ra cung cầu giả tạo (thao túng số lượng hoặc thao túng thanh khoản). Theo đó, thao túng cung cầu: a) Để cổ phiếu đạt điều kiện về thanh khoản nhằm lọt rổ chỉ số VN30 hoặc các chỉ số khác nhằm hướng tới các khoản giải ngân của các quỹ đầu tư trong và ngoài nước; b) Để tạo yếu tố thanh khoản cho cổ phiếu được cấp giao dịch ký quỹ margin bởi các công ty chứng khoán trên thị trường, vì thanh khoản cổ phiếu là điều kiện tiên quyết hạn chế rủi ro cho các công ty chứng khoán cấp margin; c) Để thế chấp cổ phiếu bảo đảm cho việc giải ngân các khoản vay tại các ngân hàng thương mại; d) Để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trước một đợt chào bán hoặc huy động vốn của tổ chức niêm yết.
Như vậy, thao túng cung cầu luôn có sự tham gia của dòng tiền thao túng từ tổ chức có liên quan mật thiết đến cổ phiếu hoặc tổ chức phát hành, niêm yết. Đây là vấn đề phức tạp liên quan đến sở hữu chéo và mối quan hệ mật thiết của dòng tiền, nên rất khó có thể chứng minh được trong thực tế. Tài khoản sử dụng để tạo cung cầu giả là của chính chủ thể thực hiện hoặc thông qua các tài khoản chứng khoán của người khác (uỷ quyền quản lý tài khoản chứng khoán hoặc nhờ người khác mở tài khoản chứng khoán sau đó nhận mật khẩu để giao dịch trên các nền tảng số). Tài khoản giao dịch bởi các phương tiện điện tử khác nhau từ nhiều địa chỉ IP (Internet Protoco). a) Trường hợp, khi đích danh chủ thể thực hiện thao túng chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung thì chủ thể phải mở nhiều tài khoản ở các công ty chứng khoán (vì mỗi cá nhân, tổ chức chỉ được 01 tài khoản tại một công ty chứng khoán), trường hợp này việc giao dịch cổ phiếu giữa các tài khoản không có sự chuyển dịch thực sự quyền sở hữu; b) Trường hợp sử dụng tài khoản chứng khoán của người khác để thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán, nếu chủ tài khoản khác biết mà vẫn đồng ý (kể cả trường hợp uỷ thác quản lý tài khoản đầu tư) thì là đồng phạm, còn chủ tài khoản khác không biết thì không phải là đồng phạm với chủ thể thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Hai: Đặt lệnh mua/bán liên tục cùng một mã cổ phiếu trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng giao dịch mua/bán cùng loại cổ phiếu mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá cổ phiếu. Trường hợp này chứa đựng hai hành vi độc lập đó là: a) Đặt lệnh mua/bán liên tục cùng một mã cổ phiếu trong cùng ngày giao dịch; b) Thông đồng giao dịch mua/bán nhưng hoàn toàn không thực sự chuyển quyền sở hữu (đây là hành vi rất khó phát hiện);
Ba: Liên tục mua/bán cổ phiếu với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa/đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa/giá mở cửa mới cho loại cổ phiếu đó trên thị trường. Hành vi này chỉ xuất hiện ở thị trường có áp dụng hình thức khớp lệnh tự động ở phiên mở cửa ATO (15 phút đầu phiên) và phiên đóng cửa ATC (15 phút cuối phiên). Giá kết phiên mở cửa ATO là giá bắt đầu giao dịch phiên khớp lệnh liên tục (LO), giá phiên đóng cửa ATC là giá tham chiếu cho phiên giao dịch ngày kế tiếp. Việt Nam, Sở Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) áp dụng phiên ATO và phiên ATC, còn Sở Chứng khoán TP. Hà Nội chỉ áp dụng phiên ATC. Để thực hiện hành vi thao túng giá giá cổ phiếu của phiên ATO và phiên ATC, thông thường lệnh mua/bán sẽ được đẩy dồn dập vào hệ thống một cách bất ngờ vào những phút cuối phiên để đẩy giá lên hoặc dẩy giá xuống. Khi xuất hiện hành vi thao túng giá cổ phiếu ở phiên ATC thì giá biến đổi từ sàn lên trần hoặc từ trần xuống sàn trong vài phút cuối phiên, nhất là vào thời điểm đáo hạn phái sinh hoặc ngày cơ cấu doanh mục của giá quỹ đầu tư.
Bốn: Giao dịch cổ phiếu bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác thông qua hội, nhóm bằng các phương tiện thông tin trên nền tảng số như Zalo, Viber, Facebook, Telegram… liên tục đặt lệnh mua/bán gây ảnh hưởng, tác động đến giá cổ phiếu.
Năm: Đưa ra ý kiến trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện truyền thông đại chúng về một mã chứng khoán, về tổ chức phát hành cổ phiếu nhằm tạo ảnh hưởng, tác động đến giá của mã cổ phiếu đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với mã cổ phiếu nhằm đạt được mục tiêu mà mình mong muốn. Chủ thể thực hiện hành vi thường là các chuyên gia, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán khi họ đang nắm giữ một lượng cổ phiếu nhất định nhằm đẩy giá cổ phiếu lên để bán hoặc đẩy giá cổ phiếu xuống để mua.
Sáu: Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác kết hợp với việc tung tin đồn, cung cấp thông tin sai sự thật để tạo cung cầu giả tạo mang tính dự liệu cho tương lai để thao túng thị trường chứng khoán.
Bẩy: Thao túng trá hình giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là hành vi được thực hiện thông qua một phương diện khác bằng phương thức, cách thức, thủ đoạn giao dịch một cách công khai, bình thường nhưng chưa được ghi nhận cụ thể nhằm mục đích che đậy cho hành vi tác động đến giá cổ phiếu, thu lợi không hợp pháp, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư hoặc ảnh hưởng đến trật tự giao dịch ổn định của thị trường chứng khoán tập trung. Theo đó, thao túng trá hình giá cổ phiếu là hành vi sử dụng phương thức hoặc các cách thức giao dịch một cách công khai, bình thường “đánh tráo khái niệm” nhưng nhằm che đậy cho hành vi thao túng thị trường chứng khoán đang ẩn ở phía sau, đây là hành vi rất khó được phát hiện và nếu có bị phát hiện thì cũng rất khó xử lý, vì ranh giới giữa vi phạm và không vi phạm rất mong manh. Ví dụ như, một số hoạt động phát hành cổ phiếu được pháp luật ghi nhận, cho phép công ty niêm yết thực hiện (thưởng cho người lao động bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu ưu đãi cho người lao động – ESOP) nhưng được thực hiện bằng phương thức, cách thức giao dịch khác mang bản chất là hành vi thao túng, nhưng làm cho thị trường thấy rằng đó chính là những hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật.
2.3 Đặc điểm của hành vi thao túng trá hình: a) Là hành vi tác động lên giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung; được thực hiện thông qua phương diện khác bằng phương thức, cách thức, thủ đoạn giao dịch chưa được ghi nhận cụ thể nhằm mục đích che đậy cho hành vi thao túng giá cổ phiếu; b) Thu lợi không hợp pháp, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư hoặc làm mất ổn định, ảnh hưởng đến trật tự giao dịch chứng khoán trên thị trường. Thao túng trá hình giá cổ phiếu được thực hiện với các hình thức:
(i) Thông qua các tài khoản chứng khoán sân sau: Là sự phái sinh của hành vi đưa ra ý kiến trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện truyền thông đại chúng về một mã cổ phiếu, tổ chức phát hành nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của mã cổ phiếu đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ ưu thế đối với mã cổ phiếu đó. Thao túng trá hình giá cổ phiếu thường là những người có sức ảnh hưởng với công chúng về mặt trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thường gắn với chức vụ, quyền hạn tại công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, nơi nắm giữ phần lớn danh mục tự doanh và phát sinh nhiều giao dịch mua bán cổ phiếu lớn; không trực tiếp hưởng lợi, không mua/bán hay nắm giữ cổ phiếu mà mình tác động lên giá, nhưng lại là điểm đến cuối cùng của dòng tiền thu lợi trái pháp luật từ các tài khoản chứng khoán sân sau. Cách thức thực hiện, cấu trúc về các tài khoản sân sau được tạo lập thông qua các tài khoản có thể chịu sự chi phối hoàn toàn nhưng mang tính “cấu kết” có thoả thuận phân chia lợi nhuận có được. Để có thể đạt được hiệu quả thao túng cao, thì phải có sự giúp sức từ phương tiện truyền thông hoặc các chuyên gia có sức ảnh hưởng đến cộng đồng nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
(ii) Thông qua hành vi lợi dụng hoạt động công bố thông tin: Mục đích bắt buộc công bố thông tin đối với giao dịch mua/bán cổ phiếu của người liên quan đến tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán là để bảo đảm cho sự minh bạch của các giao dịch và sự công bằng cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ, yếu thế. Đăng ký mua/bán số lượng lớn cổ phiếu của người liên quan trong một khoảng thời gian nhất định nhưng không thực hiện hoặc thực hiện số lượng không đáng kể so với đăng ký là dấu hiệu ban đầu để nhận diện đối với hành vi lợi dụng hoạt động công bố thông tin làm mất kiểm soát và sai lệch tâm lý giao dịch mua/bán cổ phiếu. Tâm lý hành vi của nhà đầu tư bị tác động hoặc điều khiển dễ dàng nếu các chủ thể đăng ký mua/bán có chức danh, quyền hạn trong các tổ chức niêm yết hoặc tổ chức nước ngoài. Chủ thể là những người liên quan tại các tổ chức niêm yết và thường xuyên phát sinh giao dịch trên thị trường, thực hiện theo cách thức: a) Đăng ký mua/bán số lượng lớn cổ phiếu tác động lên giá cổ phiếu để các tài khoản sân sau giao dịch mua bán trong giai đoạn đăng ký mua bán này để hưởng lợi; b) Đăng ký mua bán số lượng lớn cổ phiếu tại các thời điểm nhạy cảm của thị trường để tác động lên giá cổ phiếu (đỡ giá khi thị trường giảm hoặc duy trì ưu thế của cổ phiếu đang giao dịch tích cực) nhằm giúp cho tài sản chứng khoán của mình không bị giảm giá trị hoặc tăng thêm giá trị; c) Đăng ký mua bán số lượng lớn cổ phiếu tại các thời điểm nhạy cảm của thị trường để tác động lên giá cổ phiếu rồi sau đó đăng ký mua bán ngược lại vào thời điểm thuận lợi để bán được giá cao mua được giá thấp.
(iii) Thông qua hành vi lợi dụng hình thức thưởng cho người lao động: Ví dụ, ngân hàng A. thưởng cuối năm cho nhân viên bằng một khoản tiền và khoản tiền này sẽ được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán B. (thường công ty chứng khoán B. là công ty con hoặc công ty thành viên của ngân hàng A.) để mua cổ phiếu của ngân hàng A. Theo đó, khi thực hiện giao dịch, nhân viên sẽ ủy thác cho công ty chứng khoán B. thực hiện giao dịch, công ty chứng khoán B. sẽ thực hiện giao dịch theo cách thức đặt mua cùng một giá vào cùng một hoặc nhiều thời điểm khác nhau; đặt mua theo các giá khác nhau cùng một thời điểm hoặc khác thời điểm.
(iv) Thông qua hành vi lợi dụng hoạt động phát hành cổ phiếu ưu đãi, lựa chọn cho người lao động (ESOP - Employee Stock Ownership Plan). Bởi vì: a) Khi thực hiện kế hoạch ESOP thì giá ưu đãi được bán cho người lao động là 10.000 đồng/01 cổ phiếu (bằng với mệnh giá và giá này thường sẽ thấp hơn so với giá giao dịch trên thị trường, nhưng cổ phiếu ESOP thường sẽ bị hạn chế chuyển nhượng từ 01 đến 03 năm tuỳ định hướng kế hoạch của tổ chức phát hành; b) Sau khi phát hành ESOP vốn điều lệ của tổ chức phát hành sẽ tăng lên tương ứng với giá trị số lượng cổ phiếu ESOP; c) Một số tổ chức phát hành, những người có chức vụ, quyền hạn sẽ thường được mua một số lượng lớn cổ phiếu ESOP (xét theo chức vụ, vị trí công việc, công sức đóng góp….); d) Thị trường thường phản ứng không tích cực với ESOP, biểu hiện thông qua hiện tượng giá cổ phiếu giảm hoặc giao dịch kém sôi động hoặc lượng cung tăng cao; đ) Nhiều tập đoàn lớn có giá cổ phiếu trên thị trường rất cao nhưng thường triển khai ESOP hàng năm.
(v) Thông qua hành vi thông đồng hoặc cấu kết trong các giao dịch: Pháp luật chứng khoán Việt Nam cho phép các các nhà đầu tư được quyền thoả thuận, lựa chọn các hình thức giao dịch, định đoạt về giá và số lượng cổ phiếu mua/bán. Theo quy định của HOSE thì giá thoả thuận mua/bán phải nằm trong biên độ giá dao động tại ngày giao dịch (tức từ giá sàn đến giá trần), số lượng thoả thuận phải từ 20.000 cổ phiếu trở lên và giá giao dịch thoả thuận không làm thay đổi giá khớp lệnh tập trung đang giao dịch trên thị trường thể hiện trên bảng điện tử. Tuy nhiên nhìn ở khía cạnh khác, việc thoả thuận giao dịch một số lượng lớn cổ phiếu hoặc tần suất giao dịch liên tục với mức giá biến động quá lớn (so với giá tham chiếu) và đi ngược lại với xu hướng của thị trường sẽ tác động lớn đến tâm lý giao dịch của nhà đầu tư. Như vậy, nếu giao dịch thoả thuận được khởi tạo bởi sự thông đồng hoặc cấu kết với nhau vì mục đích lợi ích thì nó có thể trở thành một công cụ thao túng, gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường.
2.4 Yếu tố khách thể: Hành vi thao túng thị trường chứng khoán xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, tài chính, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch chứng khoán. Bởi vì, thông qua các thủ thuật giao dịch chuyên sâu cao, làm cho giá cổ phiếu bị giả tạo, không phản ánh đúng bản chất, ảnh hưởng đến tính công bằng, công khai, minh bạch của thị trường, gây thiệt hại, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư, đe doạ đến khả năng huy động vốn của tổ chức niêm yết cổ phiếu, ảnh hưởng đến quy mô vốn của thị trường và sự ổn định kinh tế xã hội của quốc gia.
2.5 Mối quan hệ giữa hành vi thao túng thị trường chứng khoán với một số hành vi bị cấm khác: (i) Mối quan hệ giữa hành vi thao túng thị trường chứng khoán với hành vi “gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, tạo dựng thông tin sai sự thật (thông tin không chính xác so với thông tin thực tế, có thật hoặc so với thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, chứng thực) hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu lầm nghiêm trọng”. Theo đó, thông tin là một trong những yếu tố quan trọng, là quyền lực có sự ảnh hưởng đến tâm lý giao dịch, quyết định của nhà đầu tư, cho nên thông tin trở thành công cụ phổ biến được các chủ thể thao túng thị trường chứng khoán lợi dụng nhằm gây ảnh hưởng lên giá cổ phiếu đang giao dịch để thu lợi không hợp pháp. (ii) Mối quan hệ giữa hành vi thao túng thị trường chứng khoán với hành vi “cho người khác mượn tài khoản để giao dịch chứng khoán, đứng tên sở hữu chứng khoán hộ người khác”. Cụ thể là: a) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng liên tục mua bán cổ phiếu nhằm tạo ra cung cầu giả tạo; b) Đặt lệnh mua/bán cùng loại cổ phiếu trong cùng một ngày giao dịch hoặc thông đồng giao dịch mua/bán cổ phiếu mà thực chất không phải là chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá cổ phiếu không có thực; c) Liên tục mua/bán cổ phiếu với số lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc mức giá mở cửa mới cho loại cổ phiếu đó trên thị trường. (iii) Mối quan hệ giữa hành vi thao túng thị trường chứng khoán với hành vi “sử dụng thông tin nội bộ để mua/bán cổ phiếu của chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua/bán cổ phiếu trên cơ sở thông tin nội bộ”. Như vậy, những hành vi nêu trên có thể được hiểu là “giao dịch nội gián” là các hành vi “vệ tinh” có mối quan hệ nhất định nhằm hỗ trợ cho hành vi “hạt nhân, trung tâm” thao túng thị trường chứng khoán.
Như vậy, hành vi thao túng thị trường chứng khoán là một “cá thể sống” rất đa dạng, phức tạp và rất khó nhận diện trên thị trường chứng khoán tập trung. Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy khớp lệnh và số lượng giao dịch của cổ phiếu hiển thị trên bảng điện tử, còn cơ chế hình thành nên giá của cổ phiếu đó có khách quan, đúng thực tế hay bị bóp méo bởi hành vi thao túng thị trường chứng khoán thì cần phải có kiến thức, nghiệp vụ chuyên sâu, thời gian nhất định để nghiên cứu, thu thập chứng cứ, dánh giá, chứng minh.
Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán là một loại quan hệ pháp luật giữa nhà nước với chủ thể có hành vi thao túng giá cổ phiếu, trong đó, Nhà nước thực hiện quyền lực thông qua hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc chủ thể vi phạm phải chịu hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật chứng khoán và pháp luật khác liên quan tương ứng với mức độ, tính chất vi phạm.
3.1 Đặc điểm: (i) Là hành vi bị cấm, nó có thể xâm phạm đến một hoặc nhiều khách thể khác nhau, như thiết chế vận hành của thị trường chứng khoán được pháp luật bảo vệ; các quan hệ pháp luật, những nguyên tắc, trật tự giao dịch trên thị trường chứng khoán; các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, của các chủ thể khác liên quan tham gia thị trường chứng khoán. Tùy theo mức độ, tính chất của hành vi thao túng thị trường chứng khoán và sự phản ứng của nhà nước mà chủ thể vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau, như xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kết hợp các hình thức đó. (ii) Nhà nước thực hiện quyền lực thông qua thái độ thể hiện, phản ứng chủ động, hoạt động xây dựng, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm ngăn chặn, kiểm soát, xử lý chủ thể vi phạm nhằm hạn chế tối đa những tác động tiêu cực, tiềm ẩn rủi ro gây nguy hại có thể xảy ra cho việc điều tiết kinh tế vĩ mô của quốc gia. (iii) Chủ thể thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán phải chịu hậu quả (nghĩa vụ) bất lợi về vật chất hoặc tinh thần như một sự nhắc nhở, răn đe, thể hiện bằng các hình thức chế tài, như xử lý vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại dân sự, quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp, quyền kinh doanh, quyền giao dịch cổ phiếu, quyền chào mua cổ phiếu, hình phạt… nhằm ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán.
3.2 Vị trí, vai trò: (i) Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán là tiền đề quan trọng để hình thành cơ chế giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền vận dụng, thực thi, kiểm soát, thanh tra, giám sát, xử lý và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những hành vi thao túng thị trường chứng khoán. (ii) Là quy định cần thiết và quan trọng trong hệ thống pháp luật về chứng khoán và pháp luật khác liên quan. Quy định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán vừa là một phần của thiết chế thị trường vừa là nhân tố không thể thiếu trong việc bảo vệ các thiết chế của thị trường chứng khoán trước những hành vi tiêu cực nhằm mục đích thu lợi không hợp pháp đã và đang diễn ra trên thị trường chứng khoán. (iii) Cấu trúc trách nhiệm pháp lý được xây dựng hiệu quả sẽ thúc đẩy quá trình ngăn ngừa, kiểm soát, xử lý kịp thời hành vi thao túng thị trường chứng khoán được xem như là giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, thiết chế vận hành thị trường, giúp cho thị trường chứng khoán được công bằng, công khai, minh bạch, ổn định, phát triển bền vững theo định hướng điều hành kinh tế vĩ mô của quốc gia.
3.3 Các hình thức: Khoản 1 Điều 132 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
(i) Trách nhiệm hình sự: Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 lần đầu tiên quy định tội "Thao túng giá chứng khoán" tại Điều 181c. Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 kế thừa nhưng mở rộng phạm vi điều chỉnh thành tội "Thao túng thị trường chứng khoán”, tăng mức hình phạt tiền, bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, mở rộng chủ thể phạm tội là pháp nhân thương mại. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán là hình thức chế tài nghiêm khắc, phản ánh thái độ trừng phạt đối với chủ thể vi phạm của Nhà nước thông qua quyết định hoặc bản án của Toà án. Tùy vào mức độ vi phạm mà chủ thể vi phạm có thể bị áp dụng các chế tài khác nhau, ví dụ như hình phạt tù, phạt tiền, dình chỉ hoạt động, cấm kinh doanh, huy động vốn… Theo đó, những dấu hiệu (yếu tố) cơ bản của tội “Thao túng thị trường chứng khoán” đó là: a) Xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; b) Trong các hành vi thao túng thị trường chứng khoán quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP, ngoài hành vi (tung tin đồn sai sự thật, công bố thông tin sai lệch ra công chứng để tạo cung cầu giả, thao túng giá chứng khoán) không ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 thì các hành vi khách quan còn lại được hình sự hoá tương ứng tại khoản 1 Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 vè tội "Thao túng thị trường chứng khoán”. Định lượng cấu thành tội "Thao túng thị trường chứng khoán” là khi số tiền thu lợi không hợp pháp từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 01 tỉ đồng trở lên; c) Hành vi thực hiện tội "Thao túng thị trường chứng khoán” là lỗi cố ý; d) Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại và có thể phải chịu hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.
(ii) Trách nhiệm hành chính: Được đặt ra đối với chủ thể khi có hành vi vi phạm pháp luật hành chính, mà không đủ những dấu hiệu (yếu tố) cơ bản cấu thành tội "Thao túng thị trường chứng khoán”, không phải là tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm pháp luật hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2022, 2024, 2025 và khoản 1, 2 Điều 132 Luật Chứng khoán năm 2019. Trách nhiệm hành chính có ưu điểm là thủ tục áp dụng, xử lý nhanh chóng hơn so với trình tự, thủ tục xử lý trách nhiệm hình sự.
Chủ thỉ bị áp dụng là tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hành chính; thời hiệu xử lý là 02 năm khởi từ thời điểm hành vi thao túng thị trường chứng khoán bị phát hiện (vi phạm đang diễn ra) hoặc chấm dứt (vi phạm đã kết thúc). Lưu ý, thời gian cơ quan có thẩm quyền thụ lý, xem xét, giải quyết được tính vào thời hiệu xử lý. Trường hợp chủ thể vi phạm trốn tránh, cản trở việc xử lý thì thời hiệu xử lý sẽ được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm pháp luật hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2022, 2024, 2025.
Hình thức xử phạt hành vi thao túng thị trường chứng khoán theo quy định tại Điều 5, Điều 36, khoản 2 Điều 51 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP bao gồm: Phạt tiền, xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.
Điều 47 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP quy định, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chánh thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra liên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có quyền xử phạt 100 triệu đồng đối với tổ chức, 50 triệu đồng đối với cá nhân và xử phạt bổ sung, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với chủ thể có hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Khoản 3, 4 Điều 3 Thông tư số 117/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 quy định phương pháp tính khoản thu trái pháp luật, số lợi bất hợp pháp có dược do thực hiện hành vi vi pháp pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Khoản thu trái pháp luật là số lợi mà cá nhân, tổ chức có được do thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán tính từ thời điểm bắt đầu thực hiện cho đến khi chấm dứt hành vi, sau khi trừ đi các khoản thuế, phí đã nộp do công ty chứng khoán xác nhận. Theo đó, phạt tiền tối đa 10 lần khoản thu trái pháp luật đối với tổ chức, 05 lần khoản thu trái pháp luật đối với cá nhân. Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn 03 tỉ đồng đối với tổ chức, 1,5 tỉ đồng đối với cá nhân.
Khoản 2 Điều 36 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP quy định hành vi thao túng thị trường chứng khoán thì chủ thể vi phạm có thể bị đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán có thời hạn từ 01 đến 03 tháng đối với tổ chức hoặc bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 18 đến 24 tháng đối với cá nhân.
Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP quy định hành vi thao túng thị trường chứng khoán thì chủ thể vi phạm phải nộp lại khoản thu trái pháp luật trong thời hạn tối đa là 60 ngày kể từ ngày quyết định biện pháp khắc phục hậu quả có hiệu lực thi hành.
(iii) Trách nhiệm dân sự: Là những hậu quả pháp luật mang tính chất bất lợi được thể hiện trong phần chế tài của quy phạm pháp luật dân sự mà chủ thể có hành vi thao túng thị trường chứng khoán gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật dân sự và quy định khác của pháp luật liên quan. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung là thông qua trung gian môi giới và hệ thống giao dịch điện tử, là giao dịch phái sinh của sở giao dịch chứng khoán thông qua khớp lện tự động trên cơ sở hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán là thành viên. Theo đó, bên mua và bên bán hoàn toàn không biết và gặp nhau, cho nên việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi thao túng giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thường thông qua các yêu cầu độc lập về bồi thường dân sự trong các vụ việc xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước hoặc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự trong vụ án hình sự.
Hành vi thao túng thị trường chứng khoán đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường có liên quan, nên quan hệ pháp luật dân sự phát sinh ở đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Căn cứ Điều 360, 361 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thiệt hại do hành vi thao túng thị trường chứng khoán gây ra là tổn thất về vật chất hoặc tinh thần thông qua sự giảm sút của giá trị cổ phiếu trên tài khoản chứng khoán, tiền lãi phải trả cho công ty chứng khoán thông qua dịch vụ margin.
Đối với các khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút không thể xác định được trong trường hợp này dù bên bị thiệt hại có thể là những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp có thu nhập chính từ hoat động đầu tư chứng khoán. Bởi lẽ, ở một thị trường biến động như thị trường chứng khoán thì giá cổ phiếu sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau không thể lường trước được, nên không ai có thể đưa ra khẳng định chắc chắn rằng việc mình đầu tư sẽ thu được lợi nhuận hoặc giá cổ phiếu mà mình đã đầu tư và sở hữu sẽ tăng trong tương lai, nếu như không có hành vi thao túng thị trường chứng khoán tác động. Do đó, những khoản thu nhập bị mất đi không thể nào thuộc phạm vi bồi thường thiệt hại trong trường hợp này.
(Còn tiếp)
Tiến sĩ, Luật sư NGUYỄN QUANG HIỀN

