/ Phân tích - Nghiên cứu
/ Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh quốc tế ở Việt Nam: Thể chế hóa, hiệu lực thi hành và so sánh với Hoa Kỳ, Singapore

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh quốc tế ở Việt Nam: Thể chế hóa, hiệu lực thi hành và so sánh với Hoa Kỳ, Singapore

20/03/2026 06:46 |

(LSVN) - Tranh chấp thương mại và đầu tư quốc tế thường mang tính đa quốc gia, thể hiện ở chủ thể, luật áp dụng, ngôn ngữ, chứng cứ và đặc biệt là việc tài sản của bên có nghĩa vụ có thể phân tán tại nhiều quốc gia, lãnh thổ khác nhau. Trong bối cảnh đó, hòa giải thương mại nổi lên như một cơ chế quản trị tranh chấp dựa trên sự đồng thuận, giúp các bên duy trì quan hệ kinh doanh và kiểm soát rủi ro về chi phí, thời gian. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ thể chế hóa và hiệu lực thực thi, phân tích khung pháp luật Việt Nam theo cấu trúc đa tầng gồm: hòa giải thương mại; hòa giải trong trọng tài.

Đặt vấn đề

Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế thường phát sinh "chi phí tranh chấp" cao hơn tranh chấp nội địa do sự đan xen và pha trộn của các hệ thống luật áp dụng, xung đột thẩm quyền tài phán, rào cản ngôn ngữ, cũng như một số khác biệt về văn hóa đàm phán và đặc biệt là khó khăn trong thi hành khi bên có nghĩa vụ có tài sản ở nước ngoài hoặc phân tán tại nhiều quốc gia.

Trong bối cảnh đó, hòa giải không chỉ là một phương thức mang tính hợp tác, mà còn là cơ chế quản trị rủi ro giúp các bên duy trì quan hệ kinh doanh, thương mại, kiểm soát chi phí và bảo toàn giá trị giao dịch trong kinh doanh quốc tế.

Tuy nhiên, ưu thế của hòa giải sẽ suy giảm đáng kể nếu thỏa thuận hòa giải không được bảo đảm bởi một cơ chế công nhận và thi hành hiệu quả. Do đó, điều kiện để hòa giải trở thành lựa chọn mang tính thực chất trong tranh chấp kinh doanh quốc tế nằm ở thiết kế thể chế: làm thế nào để chuyển hóa kết quả hòa giải thành công cụ có thể thi hành một cách đáng tin cậy, thông qua: cơ chế công nhận của tòa án; cơ chế ghi nhận hoặc công nhận trong trọng tài nếu phù hợp theo khuôn khổ pháp luật áp dụng; hoặc cơ chế quốc tế về công nhận và thi hành thỏa thuận hòa giải.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi: (i) khung pháp luật hiện hành của Việt Nam đang bảo đảm kết quả hòa giải bằng những cơ chế công nhận và thi hành nào, và mức độ dự đoán của các cơ chế đó ra sao; (ii) trong tranh chấp có yếu tố nước ngoài, những lựa chọn thiết kế thể chế nào có thể giảm thiểu rủi ro “hòa giải thành nhưng không thi hành được"; (iii) Việt Nam có thể tham khảo gì từ kinh nghiệm Hoa Kỳ và Singapore nhằm củng cổ hiệu lực thực thi của thỏa thuận hòa giải.

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích quy phạm, kết hợp so sánh pháp luật và phân tích định hướng chính sách, nhằm làm rõ mối liên hệ giữa thiết kế thủ tục công nhận - thì hành và mức độ hấp dẫn của hòa giải trong thực tiễn giao dịch xuyên biên giới.

Khung pháp luật và thực tiễn Việt Nam về hòa giải

Thông tin cơ sở

Về bản chất, hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự đồng thuận của các bên, trong đó một bên thứ ba trung lập hỗ trợ các bên trao đổi, làm rõ lợi ích và tìm kiếm phương án thỏa thuận, nhưng không có thẩm quyền ban hành quyết định ràng buộc các bên, Do không tạo ra phán quyết, hòa giải có ưu thế về tính linh hoạt và khả năng duy trì quan hệ thương mại giữa các bên. Tuy nhiên, chính đặc điểm không có quyết định ràng buộc này lại đặt ra một câu hỏi về thể chế trọng tâm: đó là liệu kết quả hòa giải được chuyển hóa thành căn cứ thi hành như thế nào, đặc biệt trong tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc xuyên biên giới.

Tại Việt Nam, chính sách khuyến khích hòa giải trong quan hệ dân sự, thương mại được thể hiện xuyên suốt qua các thời kỳ (1). Tuy nhiên, phải tới khoảng gần một thập kỷ trở lại đây, cơ chế hòa giải, đặc biệt là hòa giải thương mại mới được chú trọng. Cụ thể hơn, cơ chế hòa giải đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại hiện nay được thực hiện thông qua hòa giải đối thoại tại tòa án (2) hoặc hòa giải trong khuôn khổ tố tụng trọng tài (3) hoặc hòa giải thông qua hòa giải thương mại (4). Đối với các tranh chấp thương mại quốc tế, các bên thường có thỏa thuận trọng tài và khi đó cơ chế hòa giải, đối thoại tại tòa án sẽ không áp dụng. Trong khuôn khố nội dung giải quyết tranh chấp quốc tế của bài viết này, các tác giả sẽ tập trung phân tích cơ chế hòa giải trong tố tụng trọng tài và hòa giải thương mại, cũng như cơ chế thực thi liên quan.

Hòa giải trong tố tụng trọng tài

Đây là cơ chế cho phép các bên hòa giải dưới sự điều phối của hội đồng trọng tài khi tố tụng trọng tài của một vụ kiện đang tiếp diễn. Trường hợp các bên không hòa giải thành, hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng trọng tài thông thường. Ngược lại, nếu các bên hoà giải thành, nội dung thỏa thuận của các bên có thể được hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận hòa giải thành có giá trị pháp lý như một phán quyết trọng tài (5) và có thể được cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật về thì hành án dân sự thương mại.

Luật Trọng tài thương mại hiện nay không có quy định chi tiết về thủ tục tiến hành hòa giải trong tố tụng cũng như yêu cầu về bảo mật hay yêu cầu về vai trò của các trọng tài viên khi tiến hành hòa giải theo yêu cầu của các bên. Do đó, thủ tục hòa giải trong tố tụng trọng tài thường được tiến hành tùy nghi, theo sự điều phối của hội đồng trọng tài và theo thỏa thuận của các bên, Thực tiễn cho thấy, cơ chế hòa giải kiểu này vẫn được tiến hành trên nguyên tắc trung thực, thiện chỉ hàn mật và không làm phương hại tới các quyền tố tụng khác cũng như quan điểm của các bên trong tố tụng trọng tài (without prejudice).

Có thể thấy ưu điểm lớn nhất của cơ chế này là việc bảo đảm thi hành kết quả hòa giải thành và tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên bởi các bên có thể hòa giải tại bất cứ thời điểm nào sau khi bắt đầu tố tụng và trước khi hội đồng trọng tài ban hành phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, phương thức này cũng đòi hỏi khả năng điều phối và duy trì sự độc lập, vô tư của các trọng tài viên bởi lúc này họ thực hiện song song hai vai trò là quyền tài phán và nhiệm vụ dung hòa lợi ích (double hatting). Đây cũng là điểm gây lo ngại của các bên về sự độc lập của trọng tài viên, đặc biệt là trong trường hợp các bên không hòa giải thành và hội đồng trọng tài tiếp tục xét xử.

Hòa giải thương mại theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 112/2025/NĐ-CP)

Nghị định 22/2017/NĐ-CP xác định hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, trong đó hòa giải viên thương mại đóng vai trò trung gian hỗ trợ các bên thương lượng và đạt được thỏa thuận. Khác với cơ chế hòa giải trong tố tụng trọng tài, hoà giải thương mại được tiến hành bởi một hòa giải viên độc lập, dù tranh chấp có đang được giải quyết trong một thủ tục tố tụng nào khác hay không.

Trên nguyên tắc chung, hòa giải thương mại được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và bảo mật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Thỏa thuận hòa giải không được vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, nhằm lẩn tránh nghĩa vụ hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba.

Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định các tiêu chuẩn cơ bản đồi với hòa giải viên thương mại, bao gồm năng lực hành vi dân sự, tính độc lập và khách quan, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, cùng kỹ năng hòa giải và hiểu biết pháp luật, tập quán thương mại.

Kết quả hòa giải thành có giá trị ràng buộc giữa các bên theo pháp luật dân sự và có thể được Tòa án xem xét công nhận theo pháp luật tố tụng dân sự để làm căn cứ thi hành tại Việt Nam. Khả năng công nhận và thi hành này có ý nghĩa đặc biệt đối với tranh chấp kinh doanh quốc tế, góp phần nâng cao tính hấp dẫn của hòa giải thương mại.

Nghị định 112/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 22/2017/NĐ-CP theo hướng cập nhật thủ tục hành chính và tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động hòa giải thương mại, trong đó có việc bổ sung cơ chế nộp hồ sơ trực tuyến và điều chỉnh một số trình tự, thẩm quyền, thời hạn liên quan.

Công nhận và thực thi kết quả hòa giải thành

Một cơ chế quan trọng trong pháp luật Việt Nam là thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo Chương 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, "kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án" là kết quả hòa giải thành vụ việc phát sinh giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân, được tiến hành bởi cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải (6).

Tòa án có thể ra quyết định công nhận khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên là chủ thể có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận (trường hợp thỏa thuận liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải có sự đồng ý của người thứ ba); một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận, nội dung thỏa thuận được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc người thứ ba. Đồng thời, người yêu cầu phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành (7).

Đối với tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế (bao gồm yếu tố nước ngoài) mà các bên có nhu cầu bảo đảm khả năng thi hành tại Việt Nam, cơ chế này có ý nghĩa như một cầu nối thi hành trong phạm vi Việt Nam: khi đủ điều kiện, thẩm phán ra quyết định công nhận; quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và được tổ chức thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.

Ngoài cơ chế luật định nêu trên, thực tiễn hòa giải tại Việt Nam còn ghi nhận một cơ chế mới, theo xu thế giải quyết tranh chấp thay thế trên thế giới, đó là thực thi thông qua một phán quyết trọng tài ghi nhận kết quả hòa giải thành (consent award). Cụ thể, các bên có thể thực hiện trọng tài hòa giải trọng tài (arb-med-arb), trong đó một bên tiến hành thủ tục khởi kiện trước, sau đó dùng tố tụng trọng tài để tiến hành hòa giải độc lập (không phải hòa giải trong tố tụng bởi hội đồng trọng tài), sau đó có thể yêu cầu hội đồng trọng tài ban hành quyết định phản quyết công nhận thỏa thuận của các bên nếu hòa giải thành. Như vậy, thỏa thuận của các bên có giá trị thi hành như một phán quyết trọng tài và có thể được thi hành trực tiếp (đối với trọng tài trong nước) hoặc thi hành thông qua thủ tục công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài theo Công ước New York (1958).

Tại Việt Nam, tổ chức đầu tiên giới thiệu cơ chế này với một quy trình cụ thể là Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VCM), thực hiện cơ chế "arb-med-arb" phối hợp với Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) (8). Theo đó, các bên khi tham gia thủ tục này không chỉ bảo đảm được kết quả giải quyết tranh chấp mà còn được hưởng lợi từ cơ chế giảm phí hòa giải so với thủ tục hòa giải thông thường.

Kinh nghiệm quốc tế - góc nhìn từ pháp luật Hoa Kỳ và Singapore

Hoa Kỳ hòa giải như công cụ quản trị rủi ro tố tụng và vấn đề “thẩm quyền thì hành". Trong thực tiễn Hoa Kỳ, hòa giải được dùng phổ biến trong tranh chấp thương mại như một cách quản trị rủi ro kiện tụng, giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian và giảm mức độ bất định khi theo đuổi vụ việc tại Tòa án. Khác với Việt Nam, Hoa Kỳ không có một khung pháp luật hòa giải thống nhất áp dụng đồng nhất ở cấp liên bang, hòa giải chủ yếu vận hành thông qua quy tắc tố tụng, cơ chế quản lý vụ việc của Tòa án và thực hành hòa giải tự do các bên lựa chọn. Vì vậy, trọng tâm pháp lý thường không nằm ở việc phân loại các "tầng” hòa giải, mà ở địa vị pháp lý của thỏa thuận dàn xếp và cách thức biến thỏa thuận đó thành công cụ có thể cưỡng chế thi hành.

Về mặt pháp lý, thỏa thuận dàn xếp đạt được thông qua hòa giải trước hết được xem như một hợp đồng, do đó, việc giải thích và yêu cầu thực hiện thỏa thuận chủ yếu dựa trên các nguyên tắc của luật hợp đồng (thường là luật bang) và thủ tục tố tụng tương ứng. Trong tố tụng liên bang, sau khi vụ án đã bị đình chỉ hoặc bác theo lệnh kết thúc vụ án, Tòa án liên bang không mặc nhiên còn thẩm quyền để buộc thi hành thỏa thuận dàn xếp...

Án lệ Kokkonen v. Guardian Life Insurance Co. of America (1994) khẳng định rằng, sau khi vụ án đã bị đình chỉ hoặc bác, Tòa án liên bang không đương nhiên có thẩm quyền tài phân bổ trợ để giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc vi phạm thỏa thuận dàn xếp, trừ khi nghĩa vụ theo thỏa thuận đã được gắn vào lệnh kết thúc vụ án, chẳng hạn Tòa án tuyên rõ việc giữ thẩm quyền để thi hành hoặc nhập nội dung thỏa thuận vào lệnh hoặc quyết định của Tòa. Nếu không có các bước này, việc cưỡng chế thỏa thuận thường phải thực hiện bằng một vụ kiện mới về vi phạm hợp đồng, trừ khi tồn tại một căn cứ độc lập khác làm phát sinh thẩm quyền liên bang. Từ góc độ thiết kế thể chế cho tranh chấp kinh doanh quốc tế, kinh nghiệm Hoa Kỳ cho thấy điều quan trọng không phải là mở rộng thêm các "tầng" hòa giải, mà là kỹ thuật lập hồ sơ và soạn thảo thỏa thuận, bao gồm cách thức kết thúc vụ kiện để giữ cơ sở thẩm quyền cưỡng chế khi cần thiết nếu thỏa thuận chỉ dừng ở dạng hợp đồng mà không gắn với cơ chế giữ thẩm quyền hoặc một hình thức ghi nhận của Tòa án, việc phải khởi kiện lại để cưỡng chế có thể trở nên tốn kém và khó đoán trước, nhất là trong các giao dịch có yếu tố liên bang hoặc xuyên biên giới.

Singapore (thiết kế hạ tầng thi hành và mô hình lai trọng tải - hòa giải - trọng tài)

Singapore tiếp cận hòa giải từ góc độ thiết kế thể chế nhằm tăng khả năng thi hành trên thực tế. Đạo luật Hòa giải năm 2017 (Mediation Act 2017) cho phép các bên, trong những điều kiện nhất định, nộp đơn đề nghị Tòa án ghi nhận thỏa thuận hòa giải thành dưới dạng án lệnh của tòa (recorded as an order of court). Cơ chế này không áp dụng mặc định cho mọi thỏa thuận hòa giải, mà vận hành như một "kênh chuyển hóa" có điều kiện: thỏa thuận phải phát sinh từ một hoạt động hòa giải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định và việc ghi nhận đòi hỏi sự đồng thuận của các bên, đồng thời, cơ chế này chủ yếu được thiết kế cho bối cảnh tranh chấp chưa được đưa ra Tòa án. Về mặt chính sách, đây là cách Singapore giảm chi phí giao dịch và hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp trở lại sau hòa giải bằng việc gắn kết kết quả hòa giải với một công cụ thi hành mang tính quyền lực nhà nước. Ở bình diện thị trường dịch vụ pháp lý và tranh chấp xuyên biên giới, Singapore phát triển mô hình kết hợp giữa trọng tài và hòa giải, thường được gọi là quy trình trọng tài - hòa giải - trọng tài (arb-med-arb), điển hình là quy trình theo Nghị định thư hợp tác giữa Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore và Trung tâm Hòa giải Quốc tế Singapore (SIAC-SIMC Protocol) (9). Theo mô hình này, vụ việc được khởi xướng bằng trọng tài, sau đó tạm dừng để tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải thành, các bên có thể yêu cầu ghi nhận thỏa thuận dưới dạng phán quyết theo thỏa thuận (consent award). Ưu thế của thiết kế này nằm ở việc pháp lý hóa kết quả hòa giải trong hình thức phán quyết trọng tài, qua đó tận dụng cơ chế coi công nhận và thi hành tương tự phán quyết trọng tài quốc tế, giúp tăng mức độ dự đoán khi tài sản cần thi hành nằm ngoài lãnh thổ.

Ngoài ra, nhằm xử lý trực tiếp bài toán thi hành thỏa thuận hòa giải trong quan hệ xuyên biên giới theo chuẩn mực quốc tế, Singapore còn thiết lập khuôn khổ nội luật hóa cơ chế công nhận và thi hành thỏa thuận hòa giải quốc tế theo Công ước Liên hợp quốc về thỏa thuận hòa giải quốc tế đạt được từ hòa giải (Singapore Convention on Mediation) (10). Nhờ sự kết hợp giữa kênh lệnh của Tòa án (order of court) trong phạm vi nội địa, mô hình trọng tài - hòa giải trọng tài trong thị trường dịch vụ pháp lý và cơ chế theo Công ước Singapore trong quan hệ xuyên biên giới, Singapore hình thành một hạ tầng thi hành đa công cụ, qua đó khắc phục đáng kể điểm yếu thường gặp của hòa giải quốc tế biến một thỏa thuận dựa trên sự đồng thuận thành một công cụ thi hành có độ chắc chắn cao.

Công ước Singapore và UNCITRAL (cơ chế công nhận và thi hành thỏa thuận hòa giải quốc tế)

Ở cấp độ quốc tế, Công ước Singapore về hòa giải (United Nations Convention on International Settlement Agreements Resulting from Mediation) hướng tới thiết lập một khuôn khổ thống nhất cho việc viện dẫn và yêu cầu công nhận, thi hành thỏa thuận hòa giải quốc tế. Về logic thể chế, Công ước thường được đặt trong quan hệ so sánh với Công ước New York năm 1958 đối với phán quyết trọng tài nước ngoài, ở chỗ đều theo đuổi mục tiêu giảm chi phí giao dịch và tăng tính dự đoán của cơ chế thực thi trong thương mại xuyên biên giới. Tuy nhiên, điểm nhấn của Công ước Singapore năm ở việc thiết lập cơ chế thi hành trực tiếp đối với một loại đầu ra vốn chủ yếu mang tính hợp đồng, tức thỏa thuận hòa giải, mà không đòi hỏi phải chuyển hóa thỏa thuận này thành phán quyết trọng tài hoặc bản án của Tòa án.

Song song với Công ước là Luật Mẫu UNCITRAL năm 2018 về hòa giải thương mại quốc tế và thỏa thuận hòa giải quốc tế phát sinh từ hòa giải đóng vai trò như một khung tham chiếu để các quốc gia nội luật hóa thủ tục hòa giải và cơ chế công nhận, thi hành theo hướng tương thích, đồng thời, vẫn cho phép linh hoạt điều chỉnh theo truyền thống pháp lý của từng hệ thống.

Trong bối cảnh Việt Nam chưa tham gia Công ước Singapore, câu hỏi chính sách đặt ra không chỉ là việc có nên tiếp nhận các chuẩn mực quốc tế này, mà là lựa chọn mô hình nội luật hóa nào để tăng tính dự đoán và giảm chi phí thi hành cho doanh nghiệp. Theo đó, các vấn đề cần cân nhắc bao gồm: Phạm vi áp dụng đối với thỏa thuận hòa giải quốc tế; mối quan hệ giữa cơ chế theo Công ước Singapore với các kênh công nhận hiện có của Tòa án và trọng tài, cũng như thiết kế các điều kiện thủ tục và căn cứ từ chối thi hành theo hướng vừa bảo đảm hiệu lực thi hành, vừa phòng ngừa việc lợi dụng hòa giải để né tránh các quy định bắt buộc của pháp luật.

Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý tại Việt Nam

Chuẩn hóa thủ tục công nhận hòa giải thành ngoài Tòa án

Để tăng khả năng dự đoán của thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, cần chuẩn hóa việc áp dụng các điều kiện công nhận, thành phần hồ sơ và thời hạn giải quyết theo hướng rõ ràng, minh bạch. Trọng tâm nên tập trung vào các điểm thường phát sinh cách hiểu khác nhau trong thực tiễn, gồm: phạm vi thỏa thuận được yêu cầu công nhận; tiêu chí đánh giá tính tự nguyện của các bên; cách xử lý trường hợp thỏa thuận liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba; yêu cầu về hình thức, ngôn ngữ, chứng thực hợp pháp hóa đối với tài liệu do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp trong các vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Về công cụ thực hiện, có thể ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất hoặc hướng dẫn nghiệp vụ cho Tòa án các cấp, đồng thời tăng cường tổng kết thực tiễn giải quyết yêu cầu để hạn chế chênh lệch giữa các địa phương. Đối với các vấn đề lặp lại và có ý nghĩa điển hình, việc hình thành cách hiểu và tiêu chí áp dụng thống nhất (thông qua cơ chế hướng dẫn hoặc án lệ theo khuôn khổ hiện hành) sẽ góp phần củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào cơ chế công nhận và thi hành kết quả hòa giải thành tại Việt Nam.

Chuyên nghiệp hóa hoạt động hòa giải và quản trị xung đột lợi ích

Độ tin cậy của các bên đối với hòa giải phụ thuộc lớn vào chất lượng hòa giải viên và cơ chế quản trị xung đột lợi ích. Bên cạnh các tiêu chuẩn tối thiểu về điều kiện hành nghề, cần chuẩn hóa quy tắc đạo đức nghề nghiệp theo hướng phù hợp thông lệ quốc tế, trong đó nhấn mạnh nghĩa vụ độc lập, trung lập, khách quan, nghĩa vụ công bố xung đột lợi ích; nguyên tắc bảo mật. Việc xử lý vi phạm của hòa giải viên thương mại hiện được quy định tại Điều 30 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, bao gồm phạt tiền và một số biện pháp khắc phục. Do đó cần có đề xuất cụ thể hơn, ví dụ bổ sung quy định về chứng chỉ hành nghề và rút chứng chỉ hành nghề nếu vi phạm, hoặc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong dân sự, hình sự...

Việc loại bỏ, thay thế hòa giải viên cần thực hiện theo thỏa thuận của các bên vì hòa giải vốn là cơ chế tự nguyện, cần có sự đồng thuận của các bên tranh chấp. Đồng thời, cần thiết kế cơ chế kiểm soát và xử lý vi phạm đủ hiệu lực, chẳng hạn cơ chế tiếp nhận và giải quyết phản ánh, khiếu nại, quy trình thay đổi hoặc loại bỏ hòa giải viên khi có căn cứ cho thấy tính trung lập bị ảnh hưởng; yêu cầu lưu vết tối thiểu về quy trình (chủ yếu ở mức thủ tục, không ghi nhận nội dung trao đổi) nhằm bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp mà không làm suy giảm tính linh hoạt của hòa giải.

Đối với tranh chấp kinh doanh quốc tế, chương trình đào tạo và bồi dưỡng nên tập trung vào các kỹ năng tác động trực tiếp đến khả năng thi hành, bao gồm: Kỹ thuật thiết kế thỏa thuận hòa giải (xác định nghĩa vụ, thời hạn, điều kiện, chế tài; lựa chọn luật áp dụng và cơ chế xử lý tranh chấp sau hòa giải); quản trị thông tin và bảo mật; kỹ năng xử lý khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ trong đàm phán kinh doanh và hội nhập quốc tế.

Khuyến khích mô hình kết hợp hòa giải - trọng tài để tăng khả năng thi hành xuyên biên giới arb-med-arb

Đối với tranh chấp mà tài sản cần thi hành nằm ở nước ngoài, nên khuyến khích các bên lựa chọn mô hình kết hợp giữa hòa giải và trọng tài để tạo ra “đầu ra" có khả năng thi hành cao hơn trong quan hệ quốc tế. Trọng tâm của mô hình kết hợp này không phải là thêm một bước thủ tục, mà là cơ chế chuyển hóa thỏa thuận hòa giải thành phán quyết trọng tài theo thỏa thuận.

Theo đó, có thể áp dụng (i) hòa giải trong khuôn khổ tố tụng trọng tài, hoặc (ii) quy trình trọng tài - hòa giải trọng tài, trong đó vụ việc được đưa vào trọng tài, tạm dừng để hòa giải, và nếu hòa giải thành thì được ghi nhận bằng phán quyết trọng tài (consent award). Cách thiết kế này giúp các bên tận dụng cơ chế công nhận và thi hành phán quyết trọng tài tại quốc gia nơi có tài sản, qua đó giảm nguy cơ hòa giải thành nhưng khó cưỡng chế thi hành.

Để khuyến khích một cách thực chất, cần gắn định hướng chính sách với các công cụ cụ thể, chẳng hạn: xây dựng mẫu điều khoản giải quyết tranh chấp khuyến nghị cho hợp đồng kinh doanh quốc tế; ban hành hướng dẫn cho doanh nghiệp về lựa chọn thiết chế và thiết kế điều khoản; thúc đẩy vai trò của các trung tâm trọng tài, trung tâm hòa giải trong việc cung cấp các quy trình kết hợp phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Đánh giá lộ trình hội nhập chuẩn mực quốc tế về thi hành thỏa thuận hòa giải

Ở cấp độ chính sách, Việt Nam cần đánh giá một cách hệ thống khả năng tham gia Công ước Singapore và nội luật hóa theo Luật mẫu UNCITRAL theo lộ trình sớm hơn. Việc đánh giá này nên dựa trên sự cân bằng giữa yêu cầu tăng hiệu lực thi hành thỏa thuận hòa giải quốc tế và yêu cầu bảo vệ trật tự công cộng. Trọng tâm cần làm rõ gồm: Phạm vi áp dụng đối với thỏa thuận hòa giải quốc tế, thủ tục yêu cầu công nhận và thi hành; các căn cứ từ chối theo hướng rõ ràng, dễ dự đoán; cơ chế phối hợp với các kênh hiện hành của Tòa án và trọng tài nhằm tránh chồng chéo trong áp dụng và hạn chế xung đột về thẩm quyền.

Về kỹ thuật lập pháp, cần lựa chọn mô hình nội luật hóa phù hợp với hệ thống tố tụng Việt Nam, đồng thời thiết kế thủ tục theo hướng đơn giản, thống nhất và thuận tiện cho doanh nghiệp trong các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Song song với đó, cần chuẩn bị điều kiện triển khai, bao gồm hướng dẫn áp dụng, đào tạo chuyên môn cho thẩm phán và đội ngũ chấp hành viên, cán bộ thi hành án dân sự, cũng như cơ chế thu thập và công bố thông tin thực tiễn nhằm củng cố khả năng dự đoán của hệ thống.

Kết luận

Trong tranh chấp đầu tư, thương mại, hòa giải thương mại chỉ trở thành một lựa chọn thực chất khi các điều kiện nền tảng như tính tự nguyện, tính bảo mật và quyền tự chủ về thủ tục được bảo đảm; quan trọng hơn, kết quả hòa giải phải gắn với một cơ chế thực hiện đủ tin cậy và có thể dự đoán trước. Theo nghĩa đó, hiệu quả của hòa giải thương mại không chỉ nằm ở việc các bên đạt được thỏa thuận, mà còn ở khả năng biến thỏa thuận ấy thành một cơ sở có thể cưỡng chế thực hiện trên thực tế khi phát sinh vi phạm. Trên cơ sở phân tích, bài viết cho thấy pháp luật Việt Nam tổng thể đã hình thành cấu trúc đa tầng về hòa giải, bao gồm hòa giải trong tố tụng, hòa giải, đối thoại tại Tòa án, hòa giải thương mại và hòa giải trong tố tụng trọng tài. Trong cấu trúc này, cơ chế Tòa án công nhận kết quả hòa giải và cơ chế ghi nhận thỏa thuận trong khuôn khổ trọng tài giữ vai trò then chốt trong việc tăng khả năng thi hành đối với thỏa thuận hòa giải. Tuy nhiên, so sánh cho thấy việc có nhiều cơ chế vẫn chưa đủ; vấn đề cốt lõi nằm ở mức độ chuẩn hóa, khả năng dự đoán và sự thống nhất trong áp dụng các cơ chế đó, nhất là khi tranh chấp có yếu tố nước ngoài.

Kinh nghiệm Hoa Kỳ xem thỏa thuận dàn xếp trước hết là một hợp đồng dân sự giữa các bên, theo đó Tòa án không đương nhiên có thẩm quyền cưỡng chế thi hành, trừ khi các bên thực hiện các bước tố tụng cần thiết để bảo lưu hoặc xác lập thẩm quyền của Tòa án trong từng vụ việc cụ thể. Trong khi đó, Singapore phát triển một hạ tầng thi hành theo hướng đa công cụ, kết hợp cơ chế ghi nhận thỏa thuận bằng lệnh của Tòa án, mô hình kết hợp hòa giải - trọng tài và khuôn khổ thi hành dựa trên các chuẩn mực của UNCITRAL và Công ước Singapore. Từ các tham chiếu này, có thể thấy để hòa giải phát huy hiệu quả trong giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế, Việt Nam cần ưu tiên nâng cao khả năng dự đoán của thủ tục công nhận, thi hành hòa giải thành, chuyên nghiệp hóa hoạt động hòa giải và quản trị xung đột lợi ích, đồng thời khuyến khích các mô hình kết hợp cơ chế giải quyết tranh chấp giữa trọng tài và hòa giải (arb-med-arb), để tăng khả năng công nhận và thực thi trong trường hợp tài sản, đối tượng tranh chấp nằm ngoài lãnh thổ. Việt Nam cần có lộ trình sớm phê chuẩn tư cách thành viên Công ước Singapore, theo đó, sớm đánh giá mức độ phù hợp với Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và các quy định về công nhận, thi hành quyết định dân sự nước ngoài tại Việt Nam.

Ở cấp độ chính sách, việc đánh giá lộ trình hội nhập và nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về thi hành thỏa thuận hòa giải cần được đặt trong một thiết kế phối hợp thống nhất với các cơ chế hiện hành của Tòa án và trọng tài, nhằm tránh chồng chéo và tăng tính nhất quán. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm chi phí giao dịch và rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp, mà còn củng cố vai trò của hòa giải như một phương thức quản trị tranh chấp phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

1. Ví dụ, quy định tại Điều 12 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 7 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Theo Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án năm 2020.

3. Theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và quy tắc tố tụng trọng tài của các tổ chức trọng tài.

4. Theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại.

5. Điều 58 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

6. Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

7. Điều 417, 418 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

8. Xem thêm Quy trình liên thông trọng tài - hòa giải - trọng tài tại https://www.viac.vn/quy-trinh-lien-thong-trong-tai-hoa-giai-trong-tai.

9. Singapore International Arbitration Centre and Singapore International Mediation Centre, SIAC-SIMC Arb-Med-Arb Protocol (2014) available at: https://www.siac.org.sg.

10. Công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/12/2018, mở ký ngày 07/8/2019 và có hiệu lực từ 12/9/2020. Tính đến ngày 03/01/2026, số lượng quốc gia tham gia Công ước tiếp tục gia tăng, với 58 quốc gia ký và 20 quốc gia là thành viên. Mặc dù vậy, Việt Nam hiện chưa ký và chưa là thành viên của Công ước Singapore.

 

Tài liệu tham khảo

1. United Nations Commission on International Trade Law (UNCITRAL). United Nations Convention on International Settlement Agreements Resulting from Mediation (Singapore Convention on Mediation), adopted 20 December 2018, in force 12 September 2020.

2. UNCITRAL. Model Law on International Commercial Mediation and International Settlement Agreements Resulting from Mediation (2018).

3. United Nations. Convention on the Recognition and Enforcement of Foreign Arbitral Awards (New York, 1958).

4. Supreme Court of the United States. Kokkonen v. Guardian Life Insurance Co. of America, 511 U.S. 375 (1994).

5. Attorney-General's Chambers (Singapore). Mediation Act 2017 (Singapore Statutes Online).

6. Ministry of Law (Singapore). Mediation Act to Commence from 1 November 2017 (Press Release).

7. Singapore International Mediation Centre (SIMC). SIAC-SIMC Arb-Med-Arb Protocol.

8. Arb-Med-Arb Protocol by Vietnam International Arbitration Centre and Vietnam Mediation Centre.

TS.LS CHÂU HUY QUANG

Luật sư điều hành Công ty luật Rajah & Tann LCT Lawyers;

TS LÊ HỒNG PHÚC

Đại học Phenikaa.

Các tin khác