Trong bối cảnh đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đã và đang được áp dụng trong phát triển đô thị thông minh tại Songdo – đô thị thông minh theo quy hoạch mới thuộc Thành phố Incheon, Hàn Quốc – được xem là một trong những mô hình pháp lý và quản trị tiêu biểu của Hàn Quốc nói riêng và Châu Á nói chung. Trên cơ sở phân tích khung pháp lý của Hàn Quốc về đô thị thông minh và thực tiễn triển khai tại Songdo, bài viết làm rõ các giá trị và hiệu quả của mô hình này, từ đó, rút ra một số bài học cho tỉnh Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung trong tiến trình xây dựng các đô thị thông minh trong thời gian tới.

Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai thăm và làm việc tại Đô thị thông minh Songdo (Incheon, Hàn Quốc).
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đã và đang bước vào giai đoạn thúc đẩy chuyển đổi số gắn với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Nghị định 269/2025/NĐ-CP lần đầu tiên thiết lập khuôn khổ pháp lý tổng thể cho việc xây dựng các đô thị thông minh (“ĐTTM”), bao gồm hạ tầng số, hạ tầng kỹ thuật, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và các thành tố quan trọng khác. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhiều công nghệ, mô hình kinh doanh, dịch vụ mới xuất hiện nhanh hơn khả năng điều chỉnh của pháp luật, dẫn đến nguy cơ kìm hãm đổi mới hoặc phát sinh rủi ro pháp lý trong quá trình triển khai. Vì vậy, nhu cầu xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) để thí điểm các công nghệ, mô hình kinh doanh và dịch vụ mới trước khi nhân rộng là vô cùng tất yếu.
Trong khu vực Châu Á, Hàn Quốc được coi là một trong những quốc gia tiên phong về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và phát triển đô thị thông minh, nổi bật là tại Đô thị thông minh Songdo, thuộc Thành phố Incheon. Songdo không chỉ là dự án quy hoạch đô thị mới mà còn là một “phòng thí nghiệm đô thị thông minh” (smart city lab/smart city test bed), nơi nhiều công nghệ và dịch vụ được thử nghiệm dưới cơ chế hợp tác công – tư, miễn trừ hoặc nới lỏng so với quy định hiện hành.
Đồng Nai là địa phương có nhiều điểm tương đồng đáng chú ý với Thành phố Incheon (Hàn Quốc), cụ thể: (i) đều là địa phương công nghiệp – logistics trọng điểm của quốc gia; (ii) là cửa ngõ đi vào các đô thị lớn (Thành phố Hồ Chí Minh – Thủ đô Seoul); (iii) có sân bay quốc tế; và (iv) có định hướng phát triển đô thị thông minh gắn với công nghiệp công nghệ cao. Đáng chú ý, vào ngày 11/03/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã thành lập Tổ soạn thảo đề án thành lập Thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương; trong đó, phát triển đô thị, đặc biệt là đô thị thông minh, được kỳ vọng là một trong những nội dung trọng tâm cần được hoạch định một cách bài bản. Do đó, việc nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Songdo (Incheon) mang ý nghĩa tham chiếu trực tiếp và chiến lược đối với tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh hiện nay.
2. Quy định pháp luật về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong xây dựng và phát triển đô thị thông minh tại Hàn Quốc
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) được định nghĩa là cơ chế cho phép miễn trừ, nới lỏng quy định hiện hành để thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình mới trong phạm vi không gian và thời gian xác định, dưới sự thiết lập, cho phép, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tại Hàn Quốc, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong xây dựng và phát triển đô thị thông minh được quy định chủ yếu tại Đạo luật Xúc tiến Phát triển và Công nghiệp Đô thị Thông minh (Act on the Promotion of Smart City Development and Industry). Đạo luật này được ban hành năm 2017, trên cơ sở sửa đổi toàn diện Đạo luật về Xây dựng và các vấn đề liên quan đến Đô thị Phổ quát 2008, sửa đổi, bổ sung 2009 (Act on the Construction, etc. of Ubiquitous Cities – trong đó, Ubiquitous City, thường được gọi tắt là U-City, là tiền thân của mô hình đô thị thông minh hiện hành tại Hàn Quốc), và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2018, 2019, 2020 và 2021 (sau đây, gọi chung là “Luật ĐTTM”).
Theo Luật ĐTTM, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong đô thị thông minh được áp dụng đối với các dự án có liên quan đến “công nghệ, dịch vụ đổi mới thông minh” (smart innovation technology, service) – là “các công nghệ và dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp đổi mới thông qua việc cải tiến công nghệ đô thị thông minh và dịch vụ đô thị thông minh, đồng thời ứng dụng hoặc kết hợp các công nghệ và dịch vụ mới” (sau đây, gọi chung là “công nghệ, dịch vụ đổi mới thông minh”). Cụ thể, gồm hai (02) loại dự án: (i) các dự án nhằm cung cấp, sử dụng công nghệ, dịch vụ đổi mới thông minh (Dự án Đổi mới Thông minh – Smart Innovation Project) và (ii) các dự án nhằm thử nghiệm, kiểm chứng công nghệ, dịch vụ đổi mới thông minh (Dự án Thử nghiệm Thông minh – Smart Demonstration Project).
2.1. Dự án Đổi mới Thông minh
(a) Quy trình phê duyệt Dự án:
Theo Điều 49 Luật ĐTTM, chính quyền địa phương (local government) và doanh nghiệp tư nhân (private enterprise) có thể đề nghị Bộ trưởng Bộ Đất đai, Hạ tầng và Giao thông (Ministry of Land, Infrastructure and Transport – MOLIT) phê duyệt Kế hoạch thực hiện Dự án Đổi mới Thông minh trong các trường hợp: (i) khung pháp lý hiện hành về việc cấp phép đối với công nghệ/dịch vụ đổi mới liên quan chưa quy định tiêu chuẩn, quy cách, yêu cầu, hoặc các nội dung cần thiết khác để thúc đẩy Dự án; hoặc (ii) việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy cách, yêu cầu hoặc các nội dung cần thiết khác theo khung pháp lý hiện hành về việc cấp phép đối với công nghệ/dịch vụ đổi mới liên quan là không phù hợp.
Kế hoạch thực hiện Dự án phải xác định rõ: (i) mục tiêu, khu vực triển khai, các vấn đề về an toàn và nội dung Dự án; (ii) nội dung ngoại lệ pháp lý (regulatory exceptions) cần áp dụng và phương án hoàn thiện pháp luật; (iii) biện pháp phòng ngừa tai nạn và phương án bồi thường thiệt hại; (iv) ý kiến của chính quyền địa phương (trong trường hợp doanh nghiệp tư nhân là chủ thể đề nghị); và (v) các nội dung cần thiết khác theo quy định.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Bộ trưởng MOLIT tiến hành tham vấn các cơ quan hành chính trung ương và chính quyền địa phương có thẩm quyền, trên cơ sở thẩm định của Ủy ban Đô thị Thông minh (Smart City Committee). Theo Điều 51 Luật ĐTTM, việc phê duyệt Kế hoạch được xem xét dựa trên các tiêu chí: (i) sự cần thiết và tính phù hợp của Dự án; (ii) tác động của Dự án đối với sức khỏe, an toàn, môi trường và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong khu vực triển khai; (iii) hiệu quả kinh tế – xã hội của Dự án đối với khu vực triển khai và các vùng lân cận; (iv) các ngoại lệ pháp lý cần được công nhận để triển khai Dự án và tính phù hợp của phương án hoàn thiện quy định pháp luật; (v) tính phù hợp của các biện pháp phòng ngừa tai nạn và phương án bồi thường thiệt hại; và (vi) các vấn đề khác theo quy định.
Quyết định phê duyệt Kế hoạch thực hiện Dự án có thể kèm theo các điều kiện về môi trường, an toàn, y tế, sức khỏe, hoặc các yêu cầu liên quan khác. Sau khi Kế hoạch được phê duyệt, chủ thể thực hiện Dự án có thể nhận được các hỗ trợ hành chính và tài chính từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Để bảo đảm trách nhiệm bồi thường, chủ thể thực hiện Dự án phải (i) mua bảo hiểm trách nhiệm theo quy định, hoặc (ii) xây dựng phương án bồi thường thay thế trên cơ sở tham vấn chính quyền địa phương có thẩm quyền và được Bộ trưởng MOLIT phê duyệt.
(b) Quản lý và giám sát Dự án:
Theo Điều 53 Luật ĐTTM, Dự án Đổi mới Thông minh chịu sự quản lý và giám sát chung của (i) Bộ trưởng MOLIT, (ii) cơ quan hành chính trung ương và (iii) chính quyền địa phương nơi triển khai Dự án. Bộ trưởng MOLIT có thể ủy thác các công việc liên quan đến quản lý Dự án cho tổ chức, cơ quan có nguồn nhân lực và công nghệ chuyên môn phù hợp.
Các cơ quan có thẩm quyền cùng với chủ thể thực hiện Dự án có trách nhiệm chủ động ứng phó với các vấn đề liên quan đến sức khỏe, an toàn cộng đồng, môi trường và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình triển khai.
Chủ thể thực hiện Dự án phải báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền kết quả áp dụng ngoại lệ pháp lý và kết quả triển khai Dự án trong vòng 30 (ba mươi) ngày kể từ khi kết thúc thời hạn triển khai theo quy định; đồng thời, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do việc thực hiện Dự án (nếu có), trừ trường hợp chứng minh được không có lỗi cố ý hoặc lỗi bất cẩn.
Cơ quan hành chính trung ương có liên quan chịu trách nhiệm bắt đầu thủ tục sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp phép đối với Dự án trước khi hết thời hạn triển khai và báo cáo kết quả cho Ủy ban Đô thị Thông minh theo quy định. Khi các quy định này được hoàn thiện, chủ thể thực hiện Dự án phải khẩn trương thực hiện thủ tục xin cấp phép cho Dự án theo quy định mới.
(c) Thời hạn thực hiện và các biện pháp quản lý Dự án:
Theo Điều 51 Luật ĐTTM, thời hạn thực hiện Dự án Đổi mới Thông minh là không quá 04 (bốn) năm và có thể được gia hạn 01 (một) lần, tối đa 02 (hai) năm. Trong trường hợp việc hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan chưa hoàn tất trước khi hết thời hạn (kể cả khi đã được gia hạn), thời hạn thực hiện Dự án được coi là kéo dài cho đến khi thủ tục hoàn thiện pháp luật hoàn tất.
Theo Điều 52 Luật ĐTTM, trong quá trình triển khai Dự án, nếu phát sinh thiệt hại hoặc nguy cơ gây hại đối với sức khỏe, an toàn cộng đồng, môi trường hoặc dữ liệu cá nhân, Bộ trưởng MOLIT có thể xem xét áp dụng một hoặc một số biện pháp sau: (i) đình chỉ/tạm đình chỉ Dự án, (ii) ban hành lệnh khắc phục (corrective order) đối với Dự án, (iii) sửa đổi, bổ sung điều kiện hoặc nội dung của Kế hoạch Dự án, (iv) hạn chế/thay đổi phạm vi Dự án, hoặc (v) các biện pháp khác theo quy định.
Cũng theo Điều này, việc phê duyệt Dự án Đổi mới Thông minh có thể bị thu hồi trong các trường hợp: (i) việc phê duyệt Dự án được thực hiện trên cơ sở gian dối hoặc bằng phương thức bất hợp pháp, (ii) Dự án bị triển khai không phù hợp với Kế hoạch đã được phê duyệt; (iii) khu vực triển khai Dự án không ngăn ngừa, loại bỏ được nguy cơ, mối nguy hại đối với sức khỏe, an toàn cộng đồng, môi trường hoặc dữ liệu cá nhân, dù đã áp dụng biện pháp quản lý; hoặc (iv) chủ thể thực hiện không triển khai Dự án trong vòng 01 (một) năm kể từ khi được phê duyệt mà không có lý do chính đáng. Khi việc phê duyệt bị thu hồi, chủ thể thực hiện phải chấm dứt ngay việc triển khai Dự án cũng như việc cung cấp, sử dụng các công nghệ, dịch vụ đổi mới liên quan.
(d) Xác nhận nhanh về quy định:
Điều 49-2 Luật ĐTTM thiết lập thủ tục “xác nhận nhanh về quy định” (prompt verification of regulation) đối với các công nghệ, dịch vụ đổi mới thông minh. Theo đó, tổ chức, cá nhân dự kiến kinh doanh bằng công nghệ, dịch vụ đổi mới thông minh có thể đề nghị Bộ trưởng MOLIT xác nhận liệu công nghệ/dịch vụ đó có thuộc đối tượng phải xin phép theo quy định hiện hành hay không.
Trường hợp nội dung thuộc thẩm quyền của cơ quan khác, Bộ trưởng MOLIT chuyển yêu cầu cho cơ quan có thẩm quyền để trả lời trong vòng 30 (ba mươi) ngày; nếu quá thời hạn mà không có ý kiến, thì được coi là không thuộc thẩm quyền hoặc không cần xin phép cơ quan đó, và Bộ trưởng MOLIT có trách nhiệm tiếp tục giải quyết, phản hồi đề nghị của chủ thể kinh doanh.
Cơ chế này cho phép chủ thể kinh doanh kịp thời dự liệu các nghĩa vụ pháp lý trước khi triển khai dự án, qua đó, giảm thiểu đáng kể các rủi ro pháp lý và sự trì hoãn trong hoạt động kinh doanh.
2.2. Dự án Thử nghiệm Thông minh
(a) Quy trình phê duyệt Dự án:
Theo Điều 50 Luật ĐTTM, chính quyền địa phương và doanh nghiệp tư nhân có thể đề nghị Bộ trưởng MOLIT phê duyệt Kế hoạch thực hiện Dự án Thử nghiệm Thông minh tại các Khu vực Đổi mới Quy định Thông minh (Smart Regulation Innovation District), trong các trường hợp: (i) khung pháp lý về cấp phép hiện hành chưa có tiêu chuẩn, quy cách, yêu cầu hoặc các nội dung cần thiết khác phù hợp với công nghệ/dịch vụ đổi mới liên quan; (ii) việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy cách, yêu cầu hoặc các nội dung cần thiết khác theo khung pháp lý hiện hành về việc cấp phép đối với công nghệ/dịch vụ đổi mới liên quan là không phù hợp; hoặc (iii) không thể thực hiện Dự án theo khung pháp lý hiện hành về cấp phép đối với công nghệ/dịch vụ đổi mới liên quan.
Hồ sơ, thẩm quyền, quy trình và điều kiện phê duyệt Kế hoạch thực hiện Dự án Thử nghiệm Thông minh, về cơ bản, áp dụng tương tự (mutatis mutandis) cơ chế đối với Dự án Đổi mới Thông minh theo các Điều 49 và 51 Luật ĐTTM như đã trình bày tại mục 2.1(a).
(b) Quản lý và giám sát Dự án:
Cơ chế quản lý và giám sát Dự án Thử nghiệm Thông minh được quy định tại Điều 53-2 Luật ĐTTM, về cơ bản, tương đồng với cấu trúc quản trị của Dự án Đổi mới Thông minh tại Điều 53 Luật ĐTTM đã nêu tại mục 2.1(b), bao gồm thẩm quyền của (i) Bộ trưởng MOLIT, (ii) cơ quan hành chính trung ương, (iii) chính quyền địa phương nơi triển khai Dự án và (iv) trách nhiệm của chủ thể thực hiện Dự án.
Trong đó, chủ thể thực hiện Dự án phải báo cáo kết quả áp dụng ngoại lệ pháp lý và kết quả thực hiện Dự án trong vòng 30 (ba mươi) ngày kể từ khi kết thúc thời hạn thử nghiệm theo quy định; đồng thời, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do việc thử nghiệm Dự án (nếu có), trừ trường hợp chứng minh được không có lỗi cố ý hoặc lỗi bất cẩn.
Trường hợp kết quả thử nghiệm cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp phép liên quan, cơ quan hành chính trung ương có thẩm quyền phải bắt đầu thủ tục sửa đổi, hoàn thiện pháp luật và báo cáo kết quả cho Ủy ban Đô thị Thông minh theo quy định.
(c) Thời hạn thử nghiệm và các biện pháp quản lý Dự án:
Theo Điều 53-3 Luật ĐTTM, thời hạn thử nghiệm của Dự án Thử nghiệm Thông minh là không quá 04 (bốn) năm và có thể được gia hạn 01 (một) lần, tối đa 02 (hai) năm trong trường hợp việc hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan chưa hoàn tất trước khi hết thời hạn thử nghiệm. Trường hợp chủ thể thực hiện Dự án có đề nghị hoàn thiện quy định pháp luật trước khi kết thúc thời hạn thử nghiệm, thời hạn thử nghiệm được coi là kéo dài trong khoảng thời gian cần thiết để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đề nghị đó.
Khác với Dự án Đổi mới Thông minh, Dự án Thử nghiệm Thông minh gắn với quy trình chủ động đề nghị hoàn thiện pháp luật của chủ thể thực hiện Dự án, cụ thể:
Bước 1: Chủ thể thực hiện Dự án có thể đề nghị Bộ trưởng MOLIT và cơ quan hành chính trung ương có liên quan hoàn thiện quy định pháp luật về việc cấp phép, kèm theo kết quả áp dụng ngoại lệ pháp lý và kết quả thử nghiệm của Dự án, trong vòng 02 (hai) tháng trước khi hết thời hạn thử nghiệm.
Bước 2: Cơ quan trung ương có liên quan chịu trách nhiệm xem xét và báo cáo Ủy ban Đô thị Thông minh về mức độ cần thiết của việc hoàn thiện các quy định.
Bước 3.1: Nếu xét thấy việc hoàn thiện quy định là cần thiết, cơ quan trung ương có trách nhiệm nhanh chóng bắt đầu thủ tục sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp phép đối với Dự án và báo cáo kết quả cho Ủy ban Đô thị Thông minh; hoặc
Bước 3.2: Trường hợp cơ quan trung ương không thấy cần sửa đổi nhưng Bộ trưởng MOLIT thấy cần thiết, Bộ trưởng có thể đề nghị Ủy ban Cải cách Pháp luật (Regulatory Reform Committee) sửa đổi quy định hoặc đưa ý kiến về vấn đề này.
Sau khi các quy định liên quan được sửa đổi, hoàn thiện, Bộ trưởng MOLIT có trách nhiệm xem xét cấp phê duyệt áp dụng Điều 49 Luật ĐTTM đối với các Dự án Đổi mới Thông minh không bị cấm theo luật.
Các biện pháp quản lý và căn cứ thu hồi phê duyệt đối với Dự án Thử nghiệm Thông minh áp dụng tương tự (mutatis mutandis) các quy định tại Điều 52 Luật ĐTTM đối với Dự án Đổi mới Thông minh như đã nêu tại mục 2.1(c).
3. Triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Đô thị thông minh Songdo
Songdo (Incheon) là một trong những đô thị thông minh đầu tiên của Hàn Quốc, được quy hoạch từ đầu những năm 2000, trong giai đoạn triển khai mô hình “U-City”. Trên nền tảng hạ tầng số được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch và cơ chế quản lý đặc thù của Khu kinh tế tự do Incheon (Incheon Free Economic Zone – IFEZ), Songdo dần trở thành địa bàn trọng điểm cho việc thử nghiệm các công nghệ và dịch vụ đô thị thông minh thế hệ mới, thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Việc triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Songdo không chỉ nhằm tháo gỡ rào cản pháp lý đối với công nghệ, dịch vụ mới, mà còn phục vụ mục tiêu rộng hơn là chuyển đổi mô hình phát triển: từ đô thị công nghệ được thiết kế sẵn sang đô thị nền tảng đổi mới liên tục.
Kinh nghiệm từ các dự án “U-City” trước đây cho thấy cách tiếp cận dựa trên đầu tư hạ tầng công nghệ, thông tin, truyền thông (information, communication, technology – ICT) chuyên biệt, thiếu nền tảng kết nối, do nhà phát triển đô thị xây dựng và bàn giao cho chính quyền vận hành, đã bộc lộ những hạn chế đáng kể về tính bền vững và gánh nặng tài chính dài hạn. Trên cơ sở đó, trong giai đoạn “smart city”, Hàn Quốc chuyển sang mô hình “đô thị nền tảng” (city-as-a-platform); trong đó, đổi mới công nghệ được triển khai thông qua thử nghiệm trong môi trường thực tế song song với quá trình hoàn thiện thể chế. Thử nghiệm có kiểm soát, vì vậy, trở thành công cụ chính sách cốt lõi, cho phép thử nghiệm các công nghệ, dịch vụ đô thị mới trong môi trường vận hành thực tế, được kiểm chứng về hiệu quả và tính khả thi trước khi thương mại hóa, đồng thời, tạo điều kiện tích hợp công nghệ vào hệ thống quản trị đô thị một cách chủ động, tích cực.
Trong bối cảnh đó, Songdo được xem như một “phòng thí nghiệm đô thị sống” (urban living lab), nơi các giải pháp thông minh có thể được thử nghiệm trong điều kiện vận hành thực tế của một khu đô thị hoàn chỉnh. Lợi thế đặc thù của Songdo nằm ở việc đây là đô thị được xây dựng mới hoàn toàn trên nền đất xanh (greenfield), cho phép tích hợp đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu và quản lý đô thị ngay từ giai đoạn hình thành. Môi trường thể chế đặc biệt của IFEZ tạo điều kiện cho sự tham gia mạnh mẽ của khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ và nhà phát triển đô thị; đồng thời, cho phép chính quyền địa phương và các cơ quan trung ương phối hợp thử nghiệm chính sách linh hoạt hơn so với các đô thị hiện hữu. Nhờ đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Songdo có thể được triển khai thuận lợi ở quy mô toàn khu đô thị, vượt ra ngoài phạm vi thử nghiệm cục bộ theo dự án hoặc theo ngành, vốn phổ biến ở nhiều địa phương khác, đặc biệt là trong giai đoạn “U-City” trước đây ở Hàn Quốc.
Thực tiễn triển khai tại Songdo cho thấy cơ chế thử nghiệm có kiểm soát được áp dụng sớm đối với các dịch vụ đô thị số mới, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ đô thị vận hành trên cơ sở dữ liệu cảm biến và phân tích thời gian thực. Việc cho phép thử nghiệm mô hình vận tải theo nhu cầu (Demand-responsive Transport) trong môi trường đô thị thực đã minh họa rõ vai trò của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong việc vượt qua các ràng buộc của hệ thống cấp phép vận tải theo tuyến cố định truyền thống. Thử nghiệm này không chỉ cho phép đánh giá hiệu quả dịch vụ và hành vi người dùng, mà còn cung cấp dữ liệu thực nghiệm phục vụ điều chỉnh chính sách giao thông đô thị.
Bên cạnh đó, Songdo còn là địa bàn thử nghiệm tích hợp truyền hình mạch kín (Closed-Circuit Television – CCTV), dữ liệu cảm biến đô thị, quản lý hạ tầng thông minh và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) trong quản lý năng lượng, môi trường và dịch vụ đô thị tự động, qua đó, kiểm chứng khả năng vận hành của các công nghệ đô thị thế hệ mới trong điều kiện thực tế.
Một đặc điểm cốt lõi của hoạt động thử nghiệm có kiểm soát tại Songdo là việc được thực hiện trực tiếp trong môi trường đô thị thực thay vì phòng thí nghiệm kỹ thuật, cho phép đánh giá đồng thời tác động của công nghệ, xã hội, pháp lý và quản trị của các giải pháp mới. Các dịch vụ như robot tự hành, hạ tầng sạc điện tự động, hệ thống giao thông thông minh,… được triển khai trong khu đô thị với các miễn trừ, linh hoạt nhất định so với quy định hiện hành trong thời gian thử nghiệm. Cách tiếp cận này giúp kiểm chứng toàn diện khả năng vận hành và chấp nhận xã hội của công nghệ trước khi đưa vào khuôn khổ pháp lý chính thức.
Một đặc điểm quan trọng của thử nghiệm có kiểm soát tại Songdo là cơ chế quản trị đa tác nhân (Multi-actor Governance), trong đó, (i) cơ quan trung ương thiết kế khung chính sách và phê duyệt thử nghiệm, (ii) chính quyền địa phương (Incheon) và cơ quan quản lý IFEZ cung cấp địa bàn và điều phối đô thị, (iii) doanh nghiệp công nghệ phát triển và vận hành giải pháp, (iv) nhà phát triển đô thị cung cấp hạ tầng tích hợp, và (v) cư dân đô thị đóng vai trò người sử dụng, phản hồi dịch vụ. Cấu trúc này tạo thành một hệ sinh thái “đổi mới mở đô thị” (urban open innovation), trong đó, thử nghiệm có kiểm soát hoạt động như một cầu nối giữa đổi mới công nghệ, thử nghiệm chính sách và vận hành đô thị thực. Chính sự tương tác liên tục giữa các chủ thể trong môi trường đô thị thực đã cho phép rút ngắn chu trình từ thử nghiệm công nghệ đến điều chỉnh thể chế trong lĩnh vực đô thị thông minh.
Tuy nhiên, kinh nghiệm triển khai tại Songdo cũng cho thấy một số giới hạn nhất định của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong các đô thị thông minh hiện hành. Cụ thể, các công nghệ và dịch vụ sau giai đoạn thử nghiệm vẫn phải tuân thủ đầy đủ khung pháp luật hiện hành trước khi được thương mại hóa chính thức theo khung pháp luật mới. Do đó, hiệu quả dài hạn của hoạt động thử nghiệm phụ thuộc mạnh vào tiến độ sửa đổi, hoàn thiện pháp luật liên quan. Nếu việc hoàn thiện pháp luật không được thực hiện kịp thời, công nghệ, dịch vụ đổi mới có thể sẽ phải dừng lại ngay khi kết thúc giai đoạn thử nghiệm. Bên cạnh đó, giai đoạn đầu triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong các đô thị thông minh tại Hàn Quốc nói chung và Incheon nói riêng chủ yếu được thực hiện theo các chương trình quốc gia và hỗ trợ tài chính từ trung ương, với mức độ tham gia và năng lực triển khai của các địa phương chưa đồng đều. Như vậy, có thể thấy, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Songdo mới chỉ phát huy hiệu quả ở giai đoạn kiểm chứng và xác thực công nghệ, nhưng để chuyển sang triển khai đại trà, vẫn cần có sự đồng bộ sâu hơn về mặt thể chế và thị trường.
Thực tiễn triển khai tại Songdo còn cho thấy điều kiện lý tưởng để cơ chế thử nghiệm có kiểm soát phát huy tối đa hiệu quả một cách rõ rệt là khi được triển khai trên nền tảng một khu đô thị có quy hoạch tích hợp, hạ tầng số được thiết lập đồng bộ ngay từ các giai đoạn đầu và hệ sinh thái đổi mới công - tư tương tác chặt chẽ. Bối cảnh này cho phép các công nghệ, dịch vụ đô thị phức hợp được thử nghiệm trực tiếp trong môi trường vận hành thực, qua đó, rút ngắn thời gian từ đổi mới công nghệ đến điều chỉnh chính sách và quản trị đô thị. Trên cơ sở này, Songdo cung cấp một hình mẫu trực quan về cách thức hoạt động thử nghiệm có thể và nên được triển khai ở quy mô đô thị, thay vì chỉ ở cấp dự án hoặc ngành, trong quá trình phát triển đô thị thông minh.
4. Đánh giá cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Đô thị thông minh Songdo và kinh nghiệm áp dụng cho tỉnh Đồng Nai
Thực tiễn triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Đô thị thông minh Songdo cho thấy đây là một trong số những mô hình thử nghiệm điển hình được vận hành ở quy mô toàn khu đô thị, thay vì chỉ ở cấp dự án hoặc lĩnh vực đơn lẻ. Với đặc điểm là đô thị xây dựng mới trong khuôn khổ Khu kinh tế tự do Incheon, Songdo hội tụ đồng thời 03 (ba) điều kiện nền tảng: (i) hạ tầng số được tích hợp ngay từ giai đoạn quy hoạch, (ii) cơ chế pháp lý linh hoạt gắn với khu kinh tế đặc thù, và (iii) hệ sinh thái đổi mới công – tư có mức độ tham gia cao của các doanh nghiệp công nghệ và nhà phát triển đô thị. Những điều kiện này cho phép cơ chế thử nghiệm có kiểm soát không chỉ đóng vai trò miễn trừ quy định tạm thời, mà còn trở thành công cụ quản trị đô thị, thông qua việc thử nghiệm dịch vụ trong môi trường vận hành thực, thu thập dữ liệu và điều chỉnh chính sách song hành.
Về hiệu quả vận hành, mô hình tại Songdo cho thấy hoạt động thử nghiệm trong các đô thị thông minh đạt giá trị cao nhất khi được triển khai trên nền tảng đô thị tích hợp, trong đó, các hệ thống giao thông, năng lượng, môi trường và dữ liệu,… được kết nối đồng đều, đầy đủ vào một nền tảng chung. Trong bối cảnh này, việc thử nghiệm công nghệ, dịch vụ mới không diễn ra tách biệt mà gắn trực tiếp với hệ thống vận hành đô thị hiện hữu, cho phép đánh giá đồng thời các tác động kỹ thuật, kinh tế và quản trị của đối tượng. Cách tiếp cận này giúp rút ngắn đáng kể thời gian từ thử nghiệm công nghệ đến điều chỉnh thể chế, khi dữ liệu thực nghiệm được tạo ra ngay trong điều kiện sử dụng thực tế của cư dân và hạ tầng đô thị. Đồng thời, việc thử nghiệm ở quy mô đô thị hoàn chỉnh giúp kiểm chứng khả năng tích hợp liên ngành – yếu tố cốt lõi của đô thị thông minh nhưng thường khó đánh giá trong các thử nghiệm theo dự án hoặc ngành riêng lẻ.
Tuy nhiên, thực tiễn từ Songdo cũng bộc lộ một số giới hạn của hoạt động thử nghiệm trong đô thị hiện hành:
Thứ nhất, hiệu quả dài hạn của thử nghiệm phụ thuộc chặt chẽ vào tiến độ điều chỉnh pháp luật trong thời gian thực hiện dự án. Nếu khung pháp lý không được sửa đổi, hoàn thiện kịp thời, dịch vụ, công nghệ thử nghiệm khó được chuyển sang triển khai thương mại, phổ biến chính thức.
Thứ hai, việc vận hành hoạt động thử nghiệm ở quy mô đô thị đòi hỏi năng lực phối hợp cao giữa các cơ quan trung ương, chính quyền địa phương và những chủ thể tư nhân. Tuy nhiên, trên thực tế, đây lại là điều kiện, năng lực không phải địa phương nào cũng có khả năng đáp ứng.
Thứ ba, để phát huy tối đa hiệu quả, cơ chế này nên được đặt vào bối cảnh đô thị xây dựng mới, có hạ tầng số đồng bộ. Việc áp dụng mô hình thử nghiệm trong đô thị như Songdo vào các đô thị đã hình thành chỉ khả thi khi đô thị đó có khả năng thiết lập và duy trì nền tảng dữ liệu số và cơ chế phối hợp quản lý liên ngành phù hợp.
Về mặt nguyên lý, Songdo cho thấy cơ chế thử nghiệm có kiểm soát có thể hoạt động như một trung gian giữa đổi mới công nghệ và hoàn thiện pháp luật, trong đó: (i) công nghệ được thử nghiệm trong môi trường đô thị thực; (ii) dữ liệu thử nghiệm cung cấp bằng chứng cho hoạt động hoàn thiện chính sách; và (iii) kết quả thử nghiệm định hướng sửa đổi, bổ sung quy định. Cơ chế này khác với thử nghiệm theo ngành/dự án truyền thống ở chỗ đối tượng thử nghiệm không chỉ là sản phẩm hoặc dịch vụ riêng lẻ mà còn là cấu phần của hệ thống quản trị đô thị phức hợp.
Đặt vào bối cảnh tương quan với tỉnh Đồng Nai, kinh nghiệm từ Đô thị thông minh Songdo gợi mở một số định hướng cho công tác xây dựng đô thị thông minh nói chung và áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nói riêng, cụ thể:
Thứ nhất, hiệu quả của hoạt động thử nghiệm phụ thuộc chặt chẽ vào nền tảng hạ tầng số và dữ liệu đô thị. Do đó, việc áp dụng cơ chế này tại Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung cần gắn chặt với việc tạo lập, phát triển hạ tầng số, nền tảng dữ liệu và hệ thống quản lý đô thị tích hợp ngay từ giai đoạn quy hoạch. Hoạt động thử nghiệm chỉ phát huy giá trị khi được đặt trong một khung chiến lược tổng thể về đô thị thông minh và quản trị dữ liệu. Vì vậy, Đồng Nai cần xem xét lồng ghép chặt chẽ cơ chế thử nghiệm vào chiến lược phát triển đô thị thông minh và chuyển đổi số của địa phương, bảo đảm tính liên thông giữa thử nghiệm công nghệ, quản trị dữ liệu và hoàn thiện chính sách.
Thứ hai, điều kiện vận hành cốt lõi của thử nghiệm có kiểm soát là cơ chế phối hợp đa tác nhân (multi-actor) và đa cấp (multi-level) giữa trung ương – địa phương – nhà phát triển khu vực thử nghiệm, nhằm bảo đảm thẩm quyền thử nghiệm và khả năng điều chỉnh chính sách trong phạm vi xác định. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý trung ương, chính quyền địa phương, và doanh nghiệp trong xét duyệt và giám sát dự án thử nghiệm, bảo đảm an toàn và trách nhiệm pháp lý.
Thứ ba, trong điều kiện hiện tại của tỉnh Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nên được triển khai đồng thời theo 02 (hai) định hướng song song: (i) phát triển đô thị mới tích hợp hạ tầng số, hạ tầng kỹ thuật ngay từ đầu và (ii) cải tạo, số hóa đô thị hiện hữu. Cụ thể, cần ưu tiên thử nghiệm các công nghệ, mô hình kinh doanh, dịch vụ mới tại các khu đô thị đang trong giai đoạn hình thành, có tiềm năng quy hoạch đồng bộ và nhu cầu tích hợp cao, như Đô thị dịch vụ tổng hợp Sân bay quốc tế Long Thành, theo hướng phát triển đô thị thông minh tích hợp tương tự mô hình tại Songdo. Song song đó, hoạt động thử nghiệm có kiểm soát cũng nên được xem xét áp dụng trong các đô thị hiện hữu, thông qua thử nghiệm tích hợp hạ tầng số, nền tảng dữ liệu đô thị dùng chung và dịch vụ đô thị liên thông trên nền tảng cải tạo hạ tầng sẵn có. Cách tiếp cận này vừa hình thành mô hình đô thị thông minh mới, vừa nâng cấp hiệu quả quản trị và dịch vụ đô thị hiện hữu, đồng thời, tạo hệ sinh thái dữ liệu phục vụ hoàn thiện chính sách.
Bên cạnh các lưu ý ở cấp địa phương, kinh nghiệm từ Đô thị thông minh Songdo (Incheon) nói riêng và Hàn Quốc nói chung còn cho thấy hiệu quả của thử nghiệm có kiểm soát trong phát triển đô thị thông minh phụ thuộc đáng kể vào mức độ hoàn thiện và cụ thể hóa của khung pháp lý quốc gia về thử nghiệm có kiểm soát.
Ở Việt Nam, Điều 27 Nghị định 269/2025/NĐ-CP bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho cơ chế này khi quy định: “Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát được áp dụng để thử nghiệm các công nghệ, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới liên quan đến đô thị thông minh mà pháp luật chưa có quy định, trên cơ sở các quy định theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số, pháp luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.” Quy định này đồng thời khuyến khích các dự án đô thị thông minh thử nghiệm 03 (ba) nhóm nội dung trọng tâm gồm: (i) công nghệ đột phá (như: trí tuệ nhân tạo, phương tiện không người lái,…) trong môi trường kiểm soát; (ii) mô hình kinh doanh mới (như: kinh tế chia sẻ, dịch vụ dựa trên dữ liệu, nền tảng thương mại hóa dữ liệu,…); và (iii) dịch vụ đô thị mới (bao gồm: dịch vụ công chủ động dựa trên phân tích dữ liệu, các ứng dụng tích hợp đa lĩnh vực). Bên cạnh đó, Điều 27 của Nghị định còn đặt ra các yêu cầu bảo đảm an toàn và trách nhiệm khi quy định tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm phải có bảo hiểm trách nhiệm dân sự phù hợp với quy mô và mức độ rủi ro, đồng thời, xác định việc triển khai thử nghiệm phải tuân thủ pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghiệp công nghệ số.
Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả và có khả năng nhân rộng trong lĩnh vực đô thị thông minh, các quy định pháp luật cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng hướng dẫn chuyên biệt và đồng bộ ở cấp quốc gia. Theo đó, Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý chi tiết về “thử nghiệm có kiểm soát trong phát triển đô thị thông minh”, theo hướng quy định rõ (i) tiêu chí lựa chọn khu vực và lĩnh vực thử nghiệm; (ii) thẩm quyền, trình tự phê duyệt và cơ chế phối hợp giữa các cấp có thẩm quyền; (iii) phạm vi, cơ chế miễn trừ, linh hoạt áp dụng quy định hiện hành trong thời gian thử nghiệm; (iv) thời hạn thử nghiệm gắn với nghĩa vụ đánh giá, báo cáo và lộ trình điều chỉnh quy định pháp luật, bao gồm thời hạn, quy trình để cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành quy định chính thức trước hoặc sau giai đoạn thử nghiệm; và (v) trách nhiệm pháp lý, cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan trong toàn bộ vòng đời thử nghiệm (cơ quan trung ương, chính quyền địa phương, doanh nghiệp công nghệ, đơn vị phát triển & vận hành hạ tầng đô thị, nhà đầu tư,...).
Khung pháp lý này nên cho phép thiết lập các khu vực thử nghiệm trong đô thị thông minh có phạm vi xác định, với cơ chế quản trị và thẩm quyền thử nghiệm rõ ràng, tương tự cách tiếp cận của các khu chức năng hoặc khu kinh tế/khu kinh tế tự do, nhằm tạo điều kiện cho địa phương chủ động triển khai thử nghiệm công nghệ, mô hình kinh doanh, dịch vụ đô thị mới trong môi trường thực nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro và giám sát liên tục. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế chuyển tiếp từ giai đoạn thử nghiệm sang triển khai chính thức, kèm thời hạn bắt buộc đối với hoạt động hoàn thiện pháp luật liên quan, nhằm hạn chế tình trạng kết quả thử nghiệm không được thể chế hóa kịp thời. Việc thể chế hóa đầy đủ về “thử nghiệm có kiểm soát trong phát triển đô thị thông minh” trong các văn bản quy phạm pháp luật (luật, nghị định, thông tư) sẽ tạo nền tảng pháp lý ổn định để các địa phương như Đồng Nai triển khai thử nghiệm mô hình, công nghệ đô thị một cách có hệ thống, thay vì phụ thuộc vào các cơ chế thí điểm rời rạc theo từng chương trình hoặc dự án.
5. Kết luận
Phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong phát triển đô thị thông minh, qua thực tiễn tại Đô thị thông minh Songdo (Hàn Quốc), có thể thấy, thử nghiệm có kiểm soát có thể vận hành hiệu quả khi được đặt trong một không gian đô thị tích hợp, có hạ tầng số đồng bộ, cơ chế quản trị linh hoạt và khung pháp lý cho phép thử nghiệm trong môi trường thực. Trong bối cảnh đó, cơ chế này không chỉ đóng vai trò là công cụ miễn trừ quy định tạm thời mà còn trở thành cơ chế trung gian giữa đổi mới công nghệ và hoàn thiện thể chế: công nghệ, dịch vụ đô thị mới được thử nghiệm trong điều kiện vận hành thực; dữ liệu thử nghiệm cung cấp bằng chứng chính sách; và kết quả thử nghiệm định hướng điều chỉnh quy định. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với đô thị thông minh, nơi các giải pháp thường mang tính liên ngành và phụ thuộc mạnh vào khả năng tích hợp có hệ thống.
Đối với Việt Nam, khung pháp lý về thử nghiệm có kiểm soát trong đô thị thông minh đã bước đầu được xác lập tại Điều 27 Nghị định 269/2025/NĐ-CP, khi cho phép thử nghiệm công nghệ, mô hình kinh doanh và dịch vụ đô thị mới trong trường hợp pháp luật chưa có quy định, đồng thời, đặt ra các yêu cầu về kiểm soát rủi ro và trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, để cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” thực sự trở thành công cụ chính sách trong phát triển đô thị thông minh, cần tiếp tục cụ thể hóa khung pháp lý theo hướng quy định rõ: (i) tiêu chí lựa chọn khu vực và lĩnh vực thử nghiệm; (ii) thẩm quyền, trình tự phê duyệt và cơ chế phối hợp giữa các cấp có thẩm quyền; (iii) phạm vi, cơ chế miễn trừ, linh hoạt áp dụng quy định hiện hành trong thời gian thử nghiệm; (iv) thời hạn thử nghiệm gắn với nghĩa vụ đánh giá, báo cáo và lộ trình điều chỉnh quy định pháp luật; và (v) trách nhiệm pháp lý, cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan trong toàn bộ vòng đời thử nghiệm. Trong đó, việc bảo đảm thời hạn hoàn thiện pháp luật tương ứng với thời hạn thử nghiệm là điều kiện then chốt để hạn chế khoảng trống pháp lý và đảm bảo giá trị lâu dài của kết quả hoạt động thí điểm.
Đặt trong bối cảnh hiện nay của tỉnh Đồng Nai, kinh nghiệm từ Songdo (Incheon, Hàn Quốc) cho thấy hướng tiếp cận phù hợp không phải là sao chép nguyên bản mô hình đô thị mới toàn diện như Songdo, mà là triển khai đồng thời hoạt động thử nghiệm có kiểm soát theo 02 (hai) định hướng song song: (i) phát triển đô thị mới tích hợp hạ tầng số, hạ tầng kỹ thuật ngay từ đầu tại các không gian chiến lược mới, có điều kiện quy hoạch đồng bộ, như Đô thị dịch vụ tổng hợp Sân bay quốc tế Long Thành; và (ii) cải tạo, số hóa các đô thị hiện hữu thông qua tích hợp hạ tầng số, nền tảng dữ liệu đô thị dùng chung và dịch vụ đô thị liên thông trên hạ tầng sẵn có.
Cách tiếp cận này cho phép tỉnh Đồng Nai vừa (i) hình thành các mô hình đô thị thông minh tích hợp mới gắn với các động lực phát triển chủ đạo (như: logistics, kết nối khu công nghiệp – đô thị – sân bay, quản lý năng lượng và môi trường,…), vừa (ii) nâng cấp hiệu quả quản trị và dịch vụ đô thị hiện hữu, đồng thời, (iii) tạo dữ liệu thực nghiệm phục vụ công tác hoàn thiện chính sách ở cả cấp địa phương và quốc gia. Qua đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát có thể trở thành công cụ xây dựng năng lực thể chế cho quản trị đô thị thông minh tại địa phương, thay vì chỉ là cơ chế thí điểm công nghệ đơn lẻ.
Tóm lại, kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ pháp lý hiện hành của Việt Nam cho thấy cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong đô thị thông minh có tiềm năng trở thành nền tảng cho công tác đổi mới chính sách dựa trên bằng chứng thực tế trong quản trị đô thị. Việc hoàn thiện pháp luật về thử nghiệm có kiểm soát trong phát triển đô thị thông minh theo hướng không gian hóa, tích hợp hệ thống và gắn với chu trình điều chỉnh chính sách sẽ tạo điều kiện để tỉnh Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung chủ động thử nghiệm và thể chế hóa các mô hình đô thị thông minh phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương, qua đó, rút ngắn khoảng cách giữa đổi mới công nghệ và quản trị đô thị trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Tài liệu tham khảo
Tài liệu tiếng Việt:
[1] Chính phủ (2025), Nghị định số 269/2025/NĐ-CP về phát triển đô thị thông minh.
[2] Quốc hội (2025), Nghị quyết số 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[3] Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 950/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030.
[4] Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (2025), Nghị quyết số 01-NQ/ĐH của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
[5] Tăng Thu Minh Nguyệt; Lê Nguyễn Công Thành; Nguyễn Bảo Nhi (2026), Pháp luật Hàn Quốc về quy hoạch đô thị thông minh và kinh nghiệm đối với Việt Nam, https://tapchitoaan.vn/phap-luat-han-quoc-ve-quy-hoach-do-thi-thong-minh-va-kinh-nghiem-doi-voi-viet-nam14914.html, truy cập ngày 19/03/2026.
[6] Vũ Hội (2026), Đồng Nai lập Tổ soạn thảo đề án thành lập thành phố trực thuộc Trung ương, https://plo.vn/dong-nai-lap-to-soan-thao-de-an-thanh-lap-thanh-pho-truc-thuoc-trung-uong-post898996.html, truy cập ngày 19/03/2026.
Tài liệu tiếng Anh:
[7] Han, D.; Kim, J. H. (2022), “Multiple smart cities: The case of the Eco Delta City in South Korea”, Sustainability, 14(10), 6243. https://doi.org/10.3390/su14106243
[8] Jeník, I.; Schan Duff, J. (2020), How to build a regulatory sandbox: A practical guide for policy makers, CGAP, Washington, D.C.
https://documents1.worldbank.org/curated/en/126281625136122935/pdf/How-to-Build-a-Regulatory-Sandbox-A-Practical-Guide-for-Policy-Makers.pdf, truy cập ngày 19/03/2026.
[9] Ministry of Land, Infrastructure and Transport (2021), “The new smart city law will come into effect on the 17th”, Smart City Korea,
https://smartcity.go.kr/en/2021/06/16/17%EC%9D%BC%EB%B6%80%ED%84%B0-%EC%83%88%EB%A1%9C%EC%9A%B4-%EC%8A%A4%EB%A7%88%ED%8A%B8%EB%8F%84%EC%8B%9C%EB%B2%95%EC%9D%B4-%EC%8B%9C%ED%96%89%EB%90%A9%EB%8B%88%EB%8B%A4/, truy cập ngày 19/03/2026.
[10] Ministry of Land, Infrastructure and Transport (n.d.), “Korean smart city”, https://smartcity.go.kr/wp-content/uploads/2019/08/Smart-city-broschureENGLISH.pdf, Smart City Korea, truy cập ngày 19/03/2026.
[11] National Assembly of the Republic of Korea (2008), Act on the Construction, etc. of Ubiquitous Cities.
[12] National Assembly of the Republic of Korea (2017), Act on the Promotion of Smart City Development and Industry.
[13] Organisation for Economic Co-operation and Development (2020), Smart cities and Inclusive growth: Building on the outcomes of the 1st OECD Roundtable on Smart Cities and Inclusive Growth, OECD Publishing, Paris. https://doi.org/10.1787/8a4ce475-en
[14] World Bank Group (2022), Smart cities in the Republic of Korea: A Journey toward Institutionalization and Innovation, World Bank, Washington, D.C.
https://documents1.worldbank.org/curated/en/099501509212220541/pdf/IDU09bc4586900d9a047080a9de0afa91af324a9.pdf, truy cập ngày 19/03/2026.
LÊ QUANG Y
TRẦN THỊ MAI HỒNG
Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai.

