/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Cơ chế Tòa án Đầu tư (ICS) trong giải quyết tranh chấp đầu tư năng lượng tái tạo: Đánh giá khung pháp lý và định hướng hoàn thiện cho Việt Nam

Cơ chế Tòa án Đầu tư (ICS) trong giải quyết tranh chấp đầu tư năng lượng tái tạo: Đánh giá khung pháp lý và định hướng hoàn thiện cho Việt Nam

16/02/2026 06:06 |

(LSVN) - Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu gắn với yêu cầu phát triển bền vững, lĩnh vực năng lượng tái tạo ngày càng thu hút mạnh mẽ đầu tư quốc tế, đồng thời làm gia tăng các tranh chấp đầu tư phát sinh từ những thay đổi chính sách và điều chỉnh pháp lý của Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Trước thực trạng này, cơ chế Tòa án Đầu tư (Investment Court System - ICS) được phát triển như một mô hình cải cách nhằm khắc phục những hạn chế của cơ chế ISDS, hướng tới tăng cường tính minh bạch, tính nhất quán và sự cân bằng giữa bảo hộ NĐT với quyền điều chỉnh của Nhà nước. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích và đánh giá khung pháp lý của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị nhằm tiếp cận và vận hành ICS theo hướng thận trọng, phù hợp với mục tiêu phát triển năng lượng bền vững.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển dịch sang mô hình phát triển bền vững, năng lượng tái tạo (NLTT) đang trở thành lĩnh vực trọng tâm thu hút đầu tư quốc tế. Tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, phát triển NLTT gắn chặt với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước như cơ chế giá ưu đãi, quy hoạch ngành và cam kết mua điện dài hạn. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào chính sách công cũng làm gia tăng nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế khi Nhà nước điều chỉnh chính sách để đáp ứng các mục tiêu kinh tế - xã hội và lợi ích công cộng. Thực tiễn cho thấy cơ chế ISDS truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế về tính minh bạch, tính nhất quán và sự cân bằng giữa bảo hộ nhà đầu tư (NĐT) với quyền điều chỉnh của Nhà nước. Trước bối cảnh đó, cơ chế Tòa án Đầu tư (ICS) được phát triển như một mô hình cải cách nhằm nâng cao tính chính danh và khả năng dự đoán của hệ thống giải quyết tranh chấp đầu tư. Đối với Việt Nam, việc tham gia các hiệp định đầu tư thế hệ mới có thiết kế ICS, tiêu biểu là EVIPA, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá mức độ sẵn sàng của khung pháp lý quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực NLTT. Vì vậy, nghiên cứu cơ chế ICS trong giải quyết tranh chấp đầu tư NLTT, gắn với đánh giá pháp luật hiện hành và định hướng hoàn thiện cho Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Khung pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và giải quyết tranh chấp đầu tư năng lượng tái tạo

Các quy định pháp luật trong lĩnh vực năng lượng tái tạo

Văn bản quy phạm pháp luật dưới luật:

Tại Việt Nam, cơ chế giá điện hỗ trợ (FiT) cho NLTT lần đầu được áp dụng năm 2011 đối với điện gió (Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg, đã hết hiệu lực), sau đó mở rộng sang điện mặt trời (Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg, đã hết hiệu lực). Việc khẳng định vai trò của phát triển NLTT thông qua cơ chế FiT với mức giá bảo đảm đã góp phần quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Tiếp đó, Quyết định số 08/2020/QĐ-TTg tiếp tục thiết lập các ưu đãi đối với điện sinh khối, trong đó quy định nghĩa vụ mua toàn bộ sản lượng điện và ưu tiên khai thác toàn bộ công suất phát. Đồng thời, quyết định này xác định mức giá mua điện cụ thể: 1.634 đồng/kWh đối với dự án đồng phát nhiệt - điện và 1.968 đồng/kWh đối với dự án không đồng phát nhiệt - điện. Các cam kết về giá mua điện ổn định và dài hạn này đã trở thành cơ sở quan trọng nhằm tạo dựng kỳ vọng hợp pháp và thu hút NĐT nước ngoài vào lĩnh vực NLTT.

Trước đây, Chính phủ áp dụng các ưu đãi thông qua nghĩa vụ mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án điện gió, điện mặt trời nối lưới.Đối với điện mặt trời, Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg quy định EVN có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện của các dự án nối lưới trong thời hạn 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại, với mức giá FiT cố định; riêng tỉnh Ninh Thuận, các dự án vận hành trước ngày 01/01/2021 với tổng công suất không quá 2.000 MW được áp dụng mức giá 2.086 đồng/kWh trong cùng thời hạn. Các cam kết dài hạn này đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để thu hút đầu tư và thúc đẩy thị trường NLTT tại Việt Nam thông qua việc ký kết PPA. Tuy nhiên, sau khi hết thời hạn 20 năm vận hành thương mại, các văn bản hiện hành không đưa ra cam kết cụ thể nào về mức giá mua điện tiếp theo. Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg cũng đã hết hiệu lực sau ngày 31/12/2020 mà chưa có văn bản thay thế; các dự án đã vận hành trước thời điểm này vẫn tiếp tục được hưởng ưu đãi FiT cho đến hết thời hạn. Đến năm 2023, Thông tư số 01/2023/TT-BCT chính thức bãi bỏ cơ chế FiT và nghĩa vụ mua điện của EVN đối với các dự án điện gió, điện mặt trời, thay thế bằng định hướng xây dựng cơ chế giá mới theo nguyên tắc thị trường như đấu thầu hoặc đấu giá. Tuy nhiên, cho đến nay, cơ chế mới này vẫn chưa được cụ thể hóa, tạo ra khoảng trống pháp lý đáng kể đối với các dự án NLTT. 

Thông tư số 07/2024/TT-BCT quy định phương pháp tính giá phát điện và mẫu hợp đồng mua bán điện (PPA), có thể áp dụng cho các dự án NLTT trong thị trường điện buôn của Việt Nam. Tuy nhiên, Thông tư chỉ đưa ra cách tính giá điện mang tính khung, chưa thiết lập phương pháp tính giá và mẫu PPA riêng cho từng loại dự án cụ thể như điện gió hay điện mặt trời. Đồng thời, Thông tư cũng không quy định nghĩa vụ cam kết mua điện của EVN đối với sản lượng điện từ các dự án NLTT, làm gia tăng rủi ro cho NĐT trong trường hợp bên mua điện từ chối tiếp nhận sản lượng. Bên cạnh đó, việc thiếu các hệ thống lưu trữ năng lượng và các điều khoản bảo đảm doanh thu, cũng như sự vắng mặt của các quy định về thỏa thuận trực tiếp giữa các bên trong PPA, làm giảm khả năng tiếp cận vốn của các dự án NLTT. Trong khi các dự án này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, các ngân hàng quốc tế vẫn thận trọng do chưa đánh giá cao tính khả thi và mức độ bảo đảm của mẫu PPA hiện hành. Ngoài ra, các điều khoản liên quan đến thay đổi chính sách, chuyển đổi từ cơ chế FiT sang đấu thầu, và việc PPA không mang tính bảo lãnh doanh thu tiếp tục làm gia tăng mức độ bất định cho NĐT. Điều này đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện khung chính sách và sửa đổi mẫu PPA theo hướng rõ ràng, ổn định và có cơ chế giám sát hiệu quả nhằm củng cố niềm tin và thúc đẩy đầu tư, đặc biệt từ các NĐT nước ngoài.

Ngoài ra, Chính phủ còn ban hành các chính sách ưu đãi dành cho NĐT trong lĩnh vực NLTT và năng lượng mới trong cả giai đoạn xây dựng và vận hành. Đối với các dự án điện năng lượng mới, như các dự án sử dụng 100% hydrogen xanh, 100% amoniac xanh hoặc hỗn hợp hydrogen xanh - amoniac xanh, các dự án cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia và dự án đầu tiên của từng loại hình, NĐT được hưởng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển. Cụ thể, NĐT được miễn tiền sử dụng khu vực biển, tiền sử dụng đất và tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản không quá 03 năm kể từ ngày khởi công, và tiếp tục được giảm 50% tiền sử dụng khu vực biển trong thời hạn 09 năm tiếp theo. Bên cạnh đó, NĐT nước ngoài còn được hưởng các ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi đầu tư vào lĩnh vực NLTT và năng lượng mới. 

Văn bản quy phạm pháp luật:

Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam ban hành nhiều ưu đãi đặc thù cho NĐT trong lĩnh vực NLTT và năng lượng mới, áp dụng cho cả giai đoạn xây dựng và vận hành. Các dự án điện năng lượng mới (như hydrogen xanh, amoniac xanh), dự án cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia và dự án đầu tiên của từng loại hình được hưởng các chính sách hỗ trợ riêng. Cụ thể, NĐT được miễn tiền sử dụng khu vực biển, tiền sử dụng đất và tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản tối đa 03 năm; sau đó tiếp tục được giảm 50% tiền sử dụng khu vực biển trong 09 năm. NĐT nước ngoài còn được hưởng các ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất và tiền thuê đất theo quy định pháp luật.

Các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp đầu tư năng lượng tái tạo

Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong khuôn khổ pháp luật quốc gia:

Khung pháp lý Việt Nam liên quan đến đầu tư phát triển NLTT hiện vẫn tồn tại nhiều bất cập, làm gia tăng rủi ro phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế. Về cơ bản, hoạt động giải quyết tranh chấp tại Việt Nam vẫn chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và một số văn bản liên quan như Nghị định 63/2011/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2018/NĐ-CP). Trong khi đó, văn bản duy nhất điều chỉnh trực tiếp vấn đề phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cho thấy khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực này còn hạn chế và mới dừng ở cấp quyết định hành chính. Mặc dù Quyết định 14/2020/QĐ-TTg đã thiết lập các nguyên tắc, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, nhưng nội dung vẫn chủ yếu được thiết kế xoay quanh cơ chế ISDS truyền thống. Quyết định yêu cầu các cơ quan phối hợp ngay từ giai đoạn xử lý khiếu nại của NĐT nước ngoài nhằm hạn chế nguy cơ khởi kiện, đồng thời tham gia Tổ công tác liên ngành, thương lượng, hòa giải, xây dựng chiến lược giải quyết tranh chấp và cung cấp hồ sơ, chứng cứ trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, các quy định về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài quốc tế còn thiếu rõ ràng. Cụ thể, Điều 22 Quyết định 14/2020/QĐ-TTg chỉ quy định việc công nhận và thi hành phán quyết “nếu có lợi cho Việt Nam” mà không đưa ra tiêu chí xác định cụ thể. Bên cạnh đó, Nghị quyết 113/2020/QH14 mới chỉ điều chỉnh việc công nhận và thi hành phán quyết chung thẩm đối với các nghĩa vụ tài chính theo Mục B Chương 3 EVIPA, chưa bao quát đầy đủ các phán quyết đầu tư khác. 

Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong khuôn khổ các điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên

Tham vấn, thương lượng giữa NĐT nước ngoài và Việt Nam là phương thức được ưu tiên các bên lựa chọn áp dụng khi xảy ra tranh chấp đầu tư để hòa giải những bất đồng trong quá trình đầu tư, và cùng hướng đến kết quả là thỏa mãn, dung hòa lợi ích khác nhau giữa các bên. Khi này, NĐT nước ngoài và Việt Nam sẽ tự do tiến hành trao đổi và thỏa thuận với nhau thông qua con đường ngoại giao, hữu nghị. Thông thường, hai bên sẽ tiến hành tham vấn, thương lượng trong khoảng 03 đến 06 tháng, kể từ ngày phát sinh mâu thuẫn. Sau thời gian đó, NĐT nước ngoài có thể khiếu kiện Việt Nam và đưa tranh chấp lên giải quyết tại trọng tài quốc tế, hoặc cơ quan tài phán có thẩm quyền được quy định trong các hiệp định đầu tư. Ngoài ra, các bên tranh chấp cũng có thể giải quyết thông qua trung gian, hòa giải. Đây là phương thức hai bên sẽ đàm phán thông qua bên thứ ba đưa ra các đề xuất giải pháp cho mình, và đạt được thỏa thuận cân bằng lợi ích. Các bên có thể tự tiến hành hòa giải, hòa giải qua trung gian, hoặc hòa giải tại cơ quan tài phán. Hình thức này được thực hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết tranh chấp, miễn là tranh chấp chưa được ISDS ra phán quyết cuối cùng. 

Nhiều IIAs Việt Nam tham gia lựa chọn phương thức ISDS theo Quy tắc Trọng tài UNCITRAL - trọng tài theo vụ việc (ad hoc) để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra, phán quyết được công nhận và cho thi hành theo Công ước New York 1958. Kể cả khi hiệp định đầu tư không quy định hoặc không áp dụng, ISDS vẫn có thể được áp dụng nếu các bên thỏa thuận bằng văn bản việc áp dụng quy tắc trọng tài UNCITRAL hoặc quy tắc trọng tài ICSID trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp. Trước khi tiến hành tố tụng trọng tài, hai bên sẽ tiến hành tham vấn trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện công nghệ để nỗ lực đạt được giải pháp thỏa đáng về vấn đề bất đồng. Tham vấn không giải quyết được vấn đề tranh chấp, NĐT nước ngoài có thể gửi thông báo việc thành lập một HĐTT cho Việt Nam trong vòng 60 ngày hoặc 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn về vấn đề liên quan hàng hóa dễ hỏng, hoặc bất kỳ thời hạn nào các bên thỏa thuận khác. Sau đó, một HĐTT sẽ được thành lập và tiến hành giải quyết tranh chấp, và sẽ tự giải tán khi tranh chấp được giải quyết hoặc HĐTT từ chối thẩm quyền. Khi HĐTT ra phán quyết đối với tranh chấp, phán quyết này có giá trị ràng buộc và chung thẩm đối với các bên trong tranh chấp. Quy định về phương thức giải quyết bằng cơ chế ISDS cũng được quy định tương tự tại EVIPA và các IIAs khác.

Trên thực tiễn, Việt nam đã ký kết EVIPA nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý. chung vững chắc, bảo vệ các NĐT và khoản đầu tư vào nước sở tại được đối xử công bằng và sẽ không bị phân biệt đối xử và thu hút đầu tư từ EU, thông qua cơ chế ICS thường trực. Với phương thức này, các bên sẽ tiến hành thực hiện các phương thức ngoại giao. Nếu tranh chấp không được giải quyết trong thời gian 90 ngày kể từ ngày gửi yêu cầu tham vấn, NĐT có thể tiến hành khiếu kiện bên kia. Chủ tịch cấp Sơ thẩm sẽ tiến hành chỉ định thành viên Hội đồng cấp Sơ thẩm tiến hành xét xử vụ việc trong vòng 90 ngày kể từ ngày đệ trình khiếu kiện. Tranh chấp được đưa vào xét xử, sau khi có phán quyết của Hội đồng cấp Sơ thẩm, hai bên có quyền kháng cáo lên cấp Phúc thẩm để tiến hành xem xét lại. Khi này, phán quyết sẽ có giá trị ràng buộc với các bên và buộc phải thi hành.

Tuy nhiên, Việt Nam chưa đưa ra được dự liệu chính xác trong cải cách khung pháp lý phù hợp chuẩn bị cho việc áp dụng khi EVIPA chính thức có hiệu lực. Việt Nam cũng chưa dự liệu đầy đủ khả năng phát sinh tranh chấp theo cơ chế ICS với hai cấp xét xử. Việc thiếu quy định về phối hợp giữa các cơ quan nhà nước khi có kháng cáo lên Tòa án ICS cấp phúc thẩm làm gia tăng nguy cơ Chính phủ Việt Nam rơi vào trạng thái bị động trong quá trình bảo vệ lợi ích quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có hướng dẫn rõ ràng, quy định các tiêu chí cụ thể, minh bạch để một quyết định, phán quyết được công nhận và thi hành tại Việt Nam.

Khuyến nghị cho Việt Nam

NLTT, với vai trò là nguồn năng lượng sạch, dồi dào và phù hợp với định hướng phát triển bền vững, đang được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, ưu tiên thúc đẩy phát triển. Ước tính Việt Nam cần khoảng 10 tỉ USD đầu tư cho các dự án NLTT nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng đến năm 2030. Để thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và xây dựng Chiến lược phát triển NLTT đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu nâng sản lượng điện từ NLTT lên khoảng 186 tỉ kWh vào năm 2030 và 452 tỉ kWh vào năm 2050. Nhờ đó, vốn FDI vào lĩnh vực NLTT tăng mạnh, từ 100,27 tỉ USD năm 2013 lên 447,45 tỉ USD năm 2021, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia thu hút đầu tư NLTT lớn trên thế giới. 

Ngày 07/11/2025, Việt Nam chính thức gia nhập IRENA, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hội nhập quốc tế lĩnh vực năng lượng, tạo điều kiện tiếp cận chính sách, dữ liệu và thúc đẩy phát triển NLTT. Tuy nhiên, việc tham gia sâu hơn vào mạng lưới hợp tác và dòng vốn đầu tư quốc tế cũng làm gia tăng các dự án có yếu tố nước ngoài, kéo theo nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý, khắc phục các bất cập hiện hành nhằm phòng ngừa và quản lý hiệu quả tranh chấp trong lĩnh vực NLTT. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, Thứ nhất, nhóm tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung Quyết định 14/2020/QĐ-TTg theo hướng mở rộng và cụ thể hóa cơ chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư theo mô hình Tòa án Đầu tư (ICS). Mặc dù Quyết định có đề cập đến “cơ chế tài phán khác không phải của Việt Nam”, nội dung hiện hành vẫn chủ yếu được thiết kế cho cơ chế trọng tài quốc tế ISDS, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù thể chế và yêu cầu vận hành của ICS. Do đó, trong bối cảnh EVIPA dự kiến có hiệu lực, Việt Nam cần chủ động dự liệu khả năng áp dụng và tổ chức phối hợp giải quyết tranh chấp theo cơ chế này. Việc bổ sung một chương riêng về phối hợp trong giải quyết tranh chấp tại ICS là cần thiết nhằm xác định rõ cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm điều phối và đại diện Nhà nước Việt Nam xuyên suốt các giai đoạn tố tụng, từ tham vấn đến xét xử sơ thẩm và phúc thẩm; đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành với trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành liên quan, đặc biệt trong lĩnh vực NLTT, cùng với cơ chế chia sẻ thông tin kịp thời và thống nhất. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định về công nhận và thi hành phán quyết của ICS, cũng như thiết lập cơ chế rà soát, đánh giá tác động chính sách sau mỗi vụ tranh chấp nhằm điều chỉnh kịp thời pháp luật nội địa và hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp lặp lại.

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực và các văn bản hướng dẫn nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, quy hoạch và điều hành giá điện, qua đó tháo gỡ các vướng mắc hiện hữu và thúc đẩy phát triển nguồn điện từ NLTT. Trọng tâm là quy định rõ ràng phương thức xác định giá điện đối với các dự án NLTT, đồng thời sớm thiết lập cơ chế mới thay thế FiT theo hướng minh bạch, ổn định và phù hợp với nguyên tắc thị trường, chẳng hạn thông qua đấu thầu cạnh tranh hoặc đấu giá. Bên cạnh đó, cần ban hành các mẫu PPA riêng cho từng loại hình NLTT nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả năng áp dụng trên thực tế. Các rủi ro liên quan đến nghĩa vụ mua điện cũng cần được xử lý thông qua việc khôi phục và duy trì nghĩa vụ “mua hoặc nhận điện” của EVN trong PPA, đồng thời phát triển các cơ chế mua điện thay thế như DPPA hoặc cho phép NĐT NLTT bán điện ra nước ngoài. 

Bên cạnh đó, các mẫu PPA hiện hành cần được bổ sung điều khoản về thỏa thuận trực tiếp giữa EVN và bên cho vay, cũng như quyền can thiệp của các bên cho vay. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế chia sẻ rủi ro khi thay đổi chính sách nhằm tăng niềm tin của NĐT nước ngoài và giảm gánh nặng tài chính phát sinh từ điều chỉnh chính sách của Nhà nước. Theo đó, mẫu PPA có thể quy định một ngưỡng thiệt hại bằng tiền trong một khoảng thời gian nhất định; khi thiệt hại vượt ngưỡng này, cơ chế bảo lãnh chính phủ sẽ được kích hoạt để bù đắp tổn thất cho NĐT. Bảo lãnh có thể được thực hiện thông qua thanh toán một khoản tiền, kéo dài thời hạn dự án, điều chỉnh tăng biểu giá hoặc kết hợp các biện pháp, qua đó tăng đáng kể mức độ bảo đảm cho NĐT và bên cho vay trước những thay đổi về chính sách và pháp luật. 

Thứ ba, nhóm tác giả kiến nghị Nhà nước cần tiến hành nghiên cứu và cho ban hành Luật về NLTT riêng biệt, đáp ứng tiến trình phát triển của ngành, loại bỏ tình trạng các quy phạm pháp luật về phát triển NLTT được quy định ở nhiều văn bản khác nhau, đảm bảo thống nhất trong đầu tư, khai thác, sử dụng hiệu quả NLTT và phục vụ việc tiếp cận, nghiên cứu hiệu quả, thuận tiện. 

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nhóm kiến nghị đưa vào Luật về NLTT các nội dung sau: (i) Định hướng phát triển, mục tiêu dài hạn, các nguyên tắc chỉ đạo, và quy hoạch tổng thể đối với NLTT; (ii) Chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ hoạt động đầu tư, khai thác và sử dụng nguồn NLTT; (iii) Chính sách giá điện đối với từng loại hình NLTT; (iv) Tiêu chí của NĐT và quy trình lựa chọn NĐT trong đầu tư vào các dự án NLTT; (v) Hợp đồng mua bán điện mẫu, cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, đơn vị mua điện, và NĐT trong dự án NLTT; (vi) Phát triển hạ tầng lưới điện, đầu nối, lưu trữ năng lượng và trách nhiệm bảo đảm truyền tải điện; (vii) Ứng dụng công nghệ thông tin, A.I trong phát triển NLTT, phát triển điện thông minh (smart power); (viii) Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong phát triển NLTT; (ix) Trách nhiệm của NĐT khi tham gia đầu tư vào dự án NLTT; (x) Trách nhiệm của đơn vị mua điện.

Thứ tư, nhóm tác giả kiến nghị việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về khung quản trị rủi ro tranh chấp đầu tư quốc tế là cần thiết và có khả năng giảm thiểu nguy cơ khởi kiện này. Cơ chế quản trị rủi ro cần được áp dụng ngay từ khi Nhà nước chuẩn bị ban hành một chính sách cụ thể, trong giai đoạn đàm phán, ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế, hợp đồng dự án NLTT với NĐT nước ngoài. Việt Nam cần nâng cao chất lượng rà soát, thẩm định, thẩm tra các nội dung của chính sách, điều ước quốc tế và thỏa thuận với NĐT nước ngoài để đảm bảo sự tương thích, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, tính ảnh hưởng đến NĐT, các thiệt hại phải chịu. Đặc biệt, cơ chế quản trị rủi ro có khả năng đánh giá và dự trù nguy cơ bị khởi kiện cho Chính phủ, từ đó, hạn chế tối đa các khiếu kiện không cần thiết. Ngoài ra, Nhà nước cần tiến hành tham vấn NĐT nước ngoài và phân tích các nghĩa vụ bảo hộ đầu tư quốc tế trước khi chính thức ban hành một quy định, chính sách pháp luật. 

Trong quá trình đàm phán, tham gia, ký kết vào điều ước quốc tế, hợp đồng dự án đầu tư nước ngoài cần thu hút sự tham gia của các chuyên gia pháp lý, luật sư giỏi về thương mại đầu tư quốc tế để tư vấn cho các cơ quan Nhà nước, đặc biệt cần thiết đối với nhu cầu phát triển mới, tăng cao trong đầu tư NLTT. 

Thứ năm, nhóm tác giả kiến nghị Việt Nam nên đưa ra quy định về nghĩa vụ thẩm định của NĐT nước ngoài trước khi tiến hành đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực NLTT. Nghĩa vụ thẩm định của NĐT nước ngoài tập trung vào việc NĐT phải tiến hành đánh giá tư cách pháp lý, năng lực tài chính, mức độ hiểu biết và cam kết tuân thủ pháp luật Việt Nam, bao gồm: pháp luật về đầu tư, đất đai, môi trường, điện lực, quy hoạch, và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan. Đánh giá về sự phù hợp của dự án NLTT đối với quy hoạch và chính sách năng lượng quốc gia. Từ đó, nâng cao trách nhiệm của NĐT nước ngoài, định rõ giới hạn kỳ vọng chính đáng của NĐT và ngăn ngừa rủi ro về tranh chấp từ ban đầu.

Thứ sáu, Việt Nam cần thận trọng khi quy định và áp dụng điều khoản bao trùm trong các hiệp định đầu tư quốc tế, đặc biệt đối với các dự án NLTT có quy mô lớn và thời hạn dài. Điều khoản này có thể chuyển hóa vi phạm hợp đồng hoặc pháp luật nội địa thành vi phạm hiệp định đầu tư, làm gia tăng nguy cơ tranh chấp đầu tư quốc tế. Do đó, trước khi ký kết các hợp đồng liên quan đến dự án NLTT, Việt Nam cần rà soát kỹ nội dung cam kết, bảo đảm phù hợp với pháp luật và năng lực thực thi của cơ quan Nhà nước, đồng thời tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình thực hiện. Việt Nam nên chủ động đàm phán bổ sung các điều khoản loại trừ hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp riêng đối với tranh chấp hợp đồng, nhằm hạn chế việc NĐT viện dẫn điều khoản bao trùm để đưa các tranh chấp thuần túy hợp đồng ra giải quyết theo các cơ chế tài phán đầu tư quốc tế như ICS.

Thứ bảy, Việt Nam cần tiếp tục tham gia vào các diễn đàn quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư theo cơ chế Tòa án ICS, bao gồm các diễn đàn học thuật, đối ngoại chính sách do Liên minh châu Âu và các tổ chức quốc tế liên quan tổ chức nhằm tiếp cận kịp thời xu hướng, kinh nghiệm xét xử và tiêu chuẩn pháp lý mới. Việt Nam có thể xem xét tham gia đầy đủ hơn vào các diễn đàn và sáng kiến quốc tế quan trọng về cải cách giải quyết tranh chấp đầu tư như: sáng kiến Tòa án Đầu tư Đa phương (MIC), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OECD),... Việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong xử lý tranh chấp NLTT là cơ hội giúp Việt Nam chủ động xây dựng giải pháp phòng ngừa và ứng phó hiệu quả. Bên cạnh việc tham gia vào các diễn đàn giải quyết tranh chấp đầu tư, Việt Nam nên hướng tới tham gia vào các diễn đàn hợp tác quốc tế về năng lượng như Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) để thúc đẩy hợp tác toàn diện về chuyển đổi năng lượng bền vững.

Cuối cùng, nâng cao năng lực thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài cho đội ngũ cán bộ, công chức, và cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt các cơ quan trực tiếp quản lý các dự án NLTT. Để phòng ngừa tranh chấp đầu tư nước ngoài, cần có chương trình đào tạo chuyên sâu về pháp luật đầu tư quốc tế, cơ chế ICS, quản trị rủi ro tranh chấp đầu tư.

Kết luận

NLTT đang trở thành lĩnh vực thu hút mạnh mẽ đầu tư quốc tế vào Việt Nam trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và phát triển bền vững, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ tranh chấp đầu tư do sự phụ thuộc lớn vào chính sách và điều chỉnh pháp lý của Nhà nước. Thực tiễn áp dụng các cơ chế hỗ trợ như FiT và PPA cho thấy khung pháp lý hiện hành còn thiếu ổn định và khả năng dự đoán, tiềm ẩn rủi ro cho NĐT. Trên cơ sở đó, bài viết khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp tại ICS, đồng thời hoàn thiện chính sách giá điện và hợp đồng đầu tư nhằm cân bằng giữa quyền điều chỉnh của Nhà nước và bảo hộ NĐT, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của NLTT tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

  1. Bắc, C. V. (2023). Dispute resolution in energy projects in Vietnamese context – Observation from VIAC. Tham luận tại Hội thảo Quản lý rủi ro pháp lý và tranh chấp trong các dự án năng lượng trọng điểm - Hướng tới mục tiêu năng lượng bền vững tại Việt Nam, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
  2. Bộ Công Thương. (2019). Thông tư số 02/2019/TT-BCT quy định thực hiện phát triển dự án điện gió và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các dự án điện gió. Hà Nội, Việt Nam.
  3. Chính phủ. (2015). Quyết định số 2068/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội, Việt Nam.
  4. Chính phủ. (2020). Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Hà Nội, Việt Nam.
  5. Chính phủ. (2025). Nghị định số 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Hà Nội, Việt Nam.
  6. Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP). (2018). 
  7. Đào, K. A., & Trịnh, T. T. T. (2025). Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học Pháp lý, 05(189), 32–44.
  8. EU-Viet Nam Investment Protection Agreement (EVIPA). (2019)
  9. Kim, L. (2020). Khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, https://tuphap.hatinh.gov.vn/chi-tiet-tin-tuc/kho-khan-vuong-mac-trong-qua-trinh-thuc-hien-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-giai-quyet-tranh-chap-dau-tu-quoc-te, truy cập ngày 09/01/2026.
  10. Lê, T. P. (2024). Khung chính sách, pháp luật về năng lượng tái tạo của Cộng hòa Liên bang Đức và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Môi trường, (7), 45–52.
  11. Mazur, E., & Nguyễn, H. G. (2024). Making a model PPA bankable: Revisions to Vietnam’s PPA for onshore and offshore wind required, https://ykvn-law.com/vi/de-mau-hop-dong-mua-ban-dien-ppa-kha-thi-ve-viec-cap-von-can-sua-doi-ppa-cua-viet-nam-doi-voi-dien-gio-tren-bo-va-ngoai-khoi/, truy cập ngày 12/01/2026.
  12. Nam, T. (2020). Sau 31/12/2020 EVN dừng tiếp nhận yêu cầu đấu nối điện mặt trời mái nhà, https://congan.com.vn/tin-chinh/sau-31122020-evn-dung-tiep-nhan-yeu-cau-dau-noi-dien-mat-troi-mai-nha_105065.html, truy cập ngày 12/01/2026.
  13. Quốc hội. (2020). Nghị quyết số 113/2020/QH14 về việc phê chuẩn Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA). Hà Nội, Việt Nam.
  14. UNCITRAL. (2023). UNCITRAL Guidelines on Mediation for International Investment Disputes, https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/guidelines_e_1.pdf, truy cập ngày 10/01/2026.

ThS. NGUYỄN MINH HUYỀN

PHẠM PHƯƠNG ANH - LÊ THỊ VÂN ANH - NGUYỄN LÊ BẢO NGỌC

Trường Đại học Luật Hà Nội

Các tin khác