Đặt vấn đề
Trong tố tụng dân sự, nếu nguyên đơn là người chủ động khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ việc thì bị đơn thường tham gia với vị thế bị động. Để bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, pháp luật tố tụng đã ghi nhận quyền phản tố của bị đơn, cho phép họ chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu của nguyên đơn.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quyền phản tố cho thấy còn tồn tại nhiều vướng mắc, như về phạm vi, thời điểm và thủ tục thực hiện, khiến việc bảo vệ quyền của bị đơn chưa đạt hiệu quả mong muốn. Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm tác giả tập trung phân tích nội dung pháp lý của quyền phản tố, đánh giá thực tiễn áp dụng, đồng thời chỉ ra những bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Khái niệm, ý nghĩa của quyền phản tố trong tố tụng dân sự
Khái niệm
Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành không đưa ra định nghĩa thế nào là quyền phản tố là gì. Thuật ngữ “phản tố” lần đầu được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và được kế thừa, ghi nhận ở các văn bản thay thế sau này. Tuy nhiên, vẫn chưa có bất kì một định nghĩa thống nhất khái niệm này. Theo Từ điển Hán Việt, “Phản” là trái ngược, “tố” là nói chống lại, “phản tố” là người bị kiện cáo trở lại (1). Như vậy, quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền đưa yêu cầu trái ngược, chống lại yêu cầu bị kiện.
Hiện nay trong các công trình nghiên cứu các tác giả đã đưa ra một số quan điểm về “phản tố” như sau: Tác giả Chu Xuân Minh cho rằng: “phản tố là khởi kiện thêm một vụ án khác... Yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, là yêu cầu độc lập của bị đơn đối với nguyên đơn nên được gọi là “phản tố” (2). Tác giả Nguyễn Khánh Toàn cho rằng, “phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự; thực chất việc phản tố của bị đơn là việc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình (tức là kiện ngược trở lại với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn) nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau”(3). Theo các quan niệm này thì phản tố là việc bị đơn kiện lại người đã khởi kiện mình và yêu cầu kiện lại của bị đơn phải liên quan đến yêu cầu của người đã khởi kiện mình.
Từ những phân tích cấu thành từ và quan điểm của các tác giả nghiên cứu trước đó có thể đưa ra định nghĩa về quyền phản tố như sau: “Quyền phản tố là quyền khởi kiện lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đối với bị đơn”.
Ý nghĩa
Quy định quyền phản tố cho bị đơn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với quyền lợi của Bị đơn mà mang lại ý nghĩa cho quá trình giải quyết vụ việc. Cụ thể:
Thứ nhất, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các đương sự. Quyền phản tố của bị đơn cho phép họ đưa ra các yêu cầu pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích của mình trước nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập với bị đơn. Điều này góp phần thực hiện nguyên tắc bình đẳng, tạo điều kiện cho các bên được đưa ra quan điểm, ý kiến và bảo vệ quyền lợi trên cơ sở ngang bằng. Đảm bảo nguyên tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách công bằng mà không có sự phân biệt nào ... ”(4).
Thứ hai, đảm bảo vụ việc được giải quyết toàn diện. Việc giải quyết yêu cầu phản tố cùng với yêu cầu khởi kiện ban đầu giúp tòa án xử lý toàn diện các vấn đề liên quan trong cùng một vụ án, giảm thiểu tình trạng xét xử trùng lặp hoặc thiếu sót. Giải quyết vụ việc cùng lúc các quan hệ để tranh việc Tòa án phải tiếp nhận nhiều vụ việc có liên quan với nhau. Điều này tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả các bên đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, đảm bảo quyền lợi của bị đơn được bảo vệ tốt nhất, đồng thời thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của các bên trong tố tụng. Quyền phản tố giúp bị đơn được yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu của mình để bảo vệ trước yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì bị đơn có quyền yêu cầu phản tố nên nguyên đơn sẽ cẩn trọng hơn khi khởi kiện, đảm bảo rằng các yêu cầu của mình được chuẩn bị đầy đủ và hợp pháp. Đồng thời, bị đơn cũng cần có trách nhiệm khi đưa ra yêu cầu phản tố, tránh lạm dụng quyền này để làm chậm trễ hoặc gây khó khăn trong quá trình tố tụng.
Nội dung quy định về quyền phản tố của bị đơn trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
Chủ thể có quyền phản tố
Từ Điều 70 đến Điều 73 của BLTTDS năm 2015 quy định về quyền của các đương sự, thấy rằng, quyền phản tố chỉ được trao cho cho bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy vì bản chất phản tố là việc khởi kiện lại đối với chủ thể đã khởi kiện mình. Trong quan hệ với nguyên đơn và người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị đặt luôn bị đặt vào vị thế bị yêu cầu trước.
Với nguyên đơn, nguyên đơn được đưa ra yêu cầu khởi kiện với bị đơn. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với mình nguyên chỉ có thể chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ mà không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu đó. Với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, họ được quyền đưa ra yêu cầu độc lập với nguyên đơn hoặc với bị đơn. Có thể thấy, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định quyền phản tố mang tính giới hạn chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, chỉ trao quyền này cho bị đơn nhằm bảo đảm phạm vi tranh chấp không vượt quá khuôn khổ vụ án ban đầu.
Chủ thể bị phản tố
Căn cứ Điều 72 BLTTDS năm 2015 về quyền của bị đơn, chỉ quy định bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Theo Điều 200 BLTTDS năm 2015 về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn lại quy định “bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”. Quy định tại Điều 200 có định hướng tương tự hướng dẫn tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao(6). Như vậy, về mặt quy định không có sự thống nhất về chủ thể bị phản tố.
Điều kiện của yêu cầu phản tố
Không phải mọi yêu cầu khởi kiện lại của bị đơn cũng đều được xác định là yêu cầu phản tố, yêu cầu này phải đáp ứng các điều kiện nhất định. Để đánh giá cụ thể về điều kiện của yêu cầu phản tố, nhóm tác giả đưa ra một Bản án minh họa cho việc phân tích các điều kiện. Nội dung bản án minh họa(7) như sau: Ông P khởi kiện bà M yêu cầu trả lại 500.000.000 đồng, tiền ông đã đặt cọc cho bà M để nhận chuyển nhượng một quyền sử dụng đất từ bà M. Lý do là thực tế thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích chuyển nhượng theo hợp đồng. Bà M có đưa ra yêu cầu phản tố đòi bồi thường giá trị 450 cây cao su bị cưa với trị giá 225.000.000 đồng. Lý do, sau khi nhận tiền cọc, bà đã bàn giao đất có 450 cây cao su cho ông P, ông P đã cưa 450 cây cao su này để san lấp mặt bằng. Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố trên của ông P.
Cụ thể các điều kiện của yêu cầu phản tố như sau:
Thứ nhất, yêu cầu của bị đơn không cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Điều kiện này giúp phân biệt yêu cầu phản tố với ý kiến phản đối của bị đơn với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP thì yêu cầu của bị đơn chỉ được coi là phản tố nếu yêu cầu của bị đơn đưa ra “không cùng với” yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không được cùng với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tại bản án minh họa trên, ông P yêu cầu phạt cọc còn bà M yêu cầu bồi thường thiệt hại do ông P đã đốn hạ 450 cây dừa sau khi nhận bàn giao đất.Yêu cầu của bà M “không cùng với” yêu cầu của ông P. Do đó Tòa án đã xác định yêu cầu của bà M là yêu cầu phản tố.
Thứ hai, yêu cầu của bị đơn có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
Tại khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015 có đưa ra các trường hợp được coi là có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như sau:
(1) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Đây là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn. Do đó, bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập(8).
Điều 378 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định rõ về việc bù trừ nghĩa vụ. Theo đó, trong trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại với nhau và cùng đến hạn, các nghĩa vụ này được coi là chấm dứt mà không cần thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương, các bên sẽ thanh toán phần giá trị chênh lệch, đồng thời, những tài sản có thể định giá bằng tiền cũng được phép bù trừ với nghĩa vụ trả tiền. Như vậy, để có thể thực hiện bù trừ nghĩa vụ, các nghĩa vụ liên quan phải là nghĩa vụ về tài sản cùng loại hoặc có thể định giá được bằng một khoản tiền cụ thể.
Bên cạnh đó, Điều 379 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định một số trường hợp nghĩa vụ không được bù trừ đó là: Nghĩa vụ đang có tranh chấp; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín; nghĩa vụ cấp dưỡng; nghĩa vụ khác do luật quy định.
(2) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Đây là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ(9).
(3) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn. Đây là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn.
Trong bản án minh họa, bà M. cho rằng sau khi ông P. nhận bàn giao đất đã đốn hạ 450 cây dừa và bà M. đã yêu ông P. phải bồi thường giá trị 450 cây dừa này. Theo đó, yêu cầu của bà M. có liên quan đến yêu cầu khởi kiện đòi tiền cọc của ông P., việc giải quyết yêu của bà M làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn.
Thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố
Trước đây, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 không đưa ra thời gian bị đơn được phép đưa ra yêu cầu phản tố dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau khi thực hiện quyền này. Điều này dẫn đến 03 cách hiểu (10): (i) thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố là thời hạn bị đơn phải nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo) (11); (ii) được ra yêu cầu phản tố ngay tại phiên tòa xét xử; (iii) được đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm xét xử(12).
Đến BLTTDS năm 2015 tại khoản 3 Điều 200 đã quy định thời đưa ra yêu cầu phản tố. Cụ thể, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Quy định này đã khắc phục được hạn chế trên của BLTTDS năm 2004.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án sẽ công bố các tài liệu, chứng cứ các bên giao nộp và xác định yêu cầu các bên có thay đổi hay không nên việc đưa ra phản tố trước khi mở phiên họp này sẽ giúp các bên tiếp cận được toàn bộ tài liệu, chứng cứ yêu cầu của các bên. Từ đó, các bên sẽ tiến hành hòa giải để giải quyết vụ việc. Như vậy, việc cho phép đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm này là phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay không quy định số lượng phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được tổ chức bao nhiêu lần. Vậy, bị đơn được quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đầu tiên hay phiên cuối cùng? Hiện nay quy định pháp luật chưa có câu trả lời cho vấn đề này.
Thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu phản tố và thay đổi địa vị tố tụng liên quan đến yêu cầu phản tố
Thứ nhất, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu phản tố:
Xuất phát từ nguyên tắc tự quyết định, định đoạt yêu cầu của mình nên bị đơn có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của mình. Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của Bị đơn cũng sẽ bị giới hạn mà không phải thực hiện giống nhau trong mọi trường hợp. Theo khoản 1 Điều 244 BLTTDS năm 2015 quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”. Như vậy, tại phiên tòa chỉ có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu trong phạm vi phản tố của mình nhưng hiện tại không vượt quá phạm vi được hiểu như thế nào thì BLTTDS năm 2015 chưa có câu trả lời.
Phản tố về bản chất là việc bị đơn khởi kiện ngược lại đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Do đó, về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố cần được xem xét như thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện. Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân Tối cao đã có hướng dẫn vấn đề thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, tại như sau:
“Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu"(13).
Tuy nhiên, Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC không phải là văn bản quy phạm pháp luật, nên chỉ mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ nhằm bảo đảm sự thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án. Việc xác định mốc thời điểm “trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” để cho phép thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu khởi kiện là hợp lý. Bởi vì thời điểm này sẽ giúp cho các đương sự tham gia tố tụng có thể tiếp cận được yêu cầu, chứng cứ cung cấp và kịp thời đưa ra ý kiến với yêu cầu phản tố. Trên thực tế, việc áp dụng mốc thời điểm này còn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là trong việc xác định phiên họp nào được xem là “phiên họp đầu tiên” hoặc “phiên họp cuối cùng”. Vấn đề này tương tự như khó khăn khi xác định thời điểm cuối cùng để bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố, như đã phân tích ở phần 3.
Về vấn đề rút yêu cầu phản tố thì bị đơn có thể rút bất cứ lúc nào nếu như đạt được thỏa thuận hoặc bị đơn xét thấy không cần thiết phải yêu cầu tòa án giải quyết. Theo khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”.
Thứ hai, thay đổi địa vị tố tụng liên quan đến yêu cầu phản tố:
Vấn đề thay đổi địa vị tố tụng chỉ được đặt ra khi nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện của mình. Trong trường hợp này nếu bị đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn(14).
Khi thay đổi địa vị tố tụng thì quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ được xác định dựa trên yêu cầu mới và đương sự sẽ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình tương ứng theo địa vị mới của mình.
Thẩm quyền thụ lý phản tố
Thời điểm bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm khởi kiện của nguyên đơn. Theo đó, thẩm quyền giải quyết vụ án đã được xác định. Tuy nhiên thực tế có thể xảy ra trường hợp, yêu cầu phản tố của bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, tuy nhiên Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy trường hợp này Tòa án chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án có hướng xử lý nào khác? Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam chưa quy định rõ ràng cách xử lý tình huống này. Thực tiễn giải quyết cho thấy, các Tòa án thường từ chối thụ lý yêu cầu phản tố trong trường hợp này, đồng thời hướng dẫn bị đơn nộp đơn khởi kiện riêng tại một vụ án khác.
Tại khoản 3 Điều 23 BLTTDS Liên Bang Nga quy định: “Trong trường hợp nhập một số có yêu cầu liên quan với nhau, hoặc trong trường hợp thay đổi đối tượng tranh chấp hoặc phản tố, nếu như có yêu cầu mới thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quận khác, có yêu cầu vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Thẩm phán hòa giải thì tất cả yêu cầu đó do Tòa án quận giải quyết. Trong trường hợp, nếu thẩm quyền xét xử thay đổi trong quá trình Thẩm phán hòa giải giải quyết vụ án, Thẩm phán hòa giải ra quyết định chuyển vụ án cho Tòa án quận giải quyết”(15). Như vậy, pháp luật Nga theo hướng, nếu trong quá trình xét xử, thẩm quyền thuộc về một cấp Tòa án khác, Thẩm phán hòa giải sẽ ra quyết định chuyển vụ án lên Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Theo quan điểm cá nhân, hướng giải quyết của Tòa án Việt Nam là thuyết phục. Bởi lẽ, một trong các điều kiện của yêu cầu phản tố là làm cho việc giải quyết vụ án được nhanh gọn, thuận tiện. Nếu thụ lý yêu cầu phản tố như trường hợp đặt ra sẽ làm cho vụ án của nguyên đơn kéo dài thời gian, giảm hiệu giải quyết của tòa án. Yêu cầu phản tố của bị đơn vẫn chưa được giải quyết và hoàn toàn có thể khởi kiện tại một vụ án khác.
Một số bất cập và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về quyền phản tố trong tố tụng dân sự
Một là, xác định chủ thể bị phản tố
Hiện tại, chủ thể bị phản tố theo Điều 72 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 là nguyên đơn, nhưng tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chủ thể bị phản tố là nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác chủ thể bị phản tố, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan.
Người liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập với bị đơn. Khi đó, nếu không cho bị đơn có quyền phản tố lại thì nếu muốn đưa ra yêu cầu để bù trừ nghĩa vụ, yêu cầu có liên quan thì bị đơn phải khởi kiện trong dân sự khác. Điều này không chỉ làm kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, gây phức tạp cho đương sự trong quá trình yêu cầu giải quyết tranh chấp, tăng thêm chi phí tố tụng cho đương sự, hạn chế khả năng được giải quyết tranh chấp tại Tòa án của đương sự.
Theo nhóm tác giả, quan điểm chủ thể bị phản tố bao gồm nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thuyết phục hơn. Bởi bản chất của yêu cầu phản tố là việc khởi kiện lại đối với chủ thể đã khởi kiện mình. Nếu không trao cho bị đơn quyền phản tố với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập với mình dẫn đến việc nếu bị đơn muốn phản tố phải khởi kiện vụ án khác. Điều này không chỉ là không công bằng với bị đơn mà gây giảm hiệu quả giải quyết vụ án, kéo giải thời gian giải quyết tranh chấp.
Theo đó, nhóm tác giả để xuất sửa lại khoản 4 Điều 72 BLTTDS 2015 về quyền, nghĩa vụ của bị đơn như sau: “4. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của hai chủ thể này. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này”.
Hai là, thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố
Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, hiện nay không quy định số lượng phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được tổ chức bao nhiêu lần. Vì vậy, trong một vụ án Thẩm phán hoàn toàn có thể tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định rõ bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy. Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không không nhất trên thực tế.
Theo quan điểm của nhóm tác giả, thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố nên là trước khi tổ chức phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần đầu tiên trừ trường hợp bất khả kháng dẫn đến bị đơn không thể đưa ra yêu cầu phản tố đúng thời hạn. Điều này nhằm tránh trường hợp đến ngay trước khi xét xử bị đơn mới đưa ra yêu cầu phản tố làm kéo dài thời gian tố tụng, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác.
Nhóm tác giả cũng đề xuất chỉ nên tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ một lần 01 lần. Để đảm bảo quyền được hòa giải thì không bắt buộc phải tổ chức hòa giải đồng thời tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đương sự có thể yêu cầu hòa giải bất cứ lúc nào. Để đảm bảo quyền được tiếp cận chứng chứ trong vụ án, nếu sau phiên họp bị đơn đưa yêu cầu phản tố hoặc các đương sự có giao nộp thêm chứng cứ thì bên cạnh việc nộp cho Tòa án, bị đơn có yêu cầu phản tố phải gửi bản sao đơn yêu cầu phản tố, tài liệu chứng cứ kèm theo cho các đương sự khác và đương sự giao nộp thêm tài liệu chứng cứ phải gửi bản sao tài liệu, chứng cứ đó cho bị đơn khác.
Theo đó, nhóm đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 như sau: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đầu tiên. Bị đơn phải gửi bản sao đơn yêu cầu phản tố, tài liệu chứng cứ kèm theo cho các đương sự khác và nộp minh chứng đã thực hiện đến Tòa án”.
Ba là, áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố của bị đơn
Yêu cầu phản tố của bị đơn nhằm mục đích yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nên hiện nay tồn tại quan điểm có áp dụng thời hiệu cho yêu cầu này không? BLTTDS hiện hành chưa có câu trả lời cụ thể. Tại Chương XI của BLTTDS năm 2015 quy định về thời hạn tố tụng nói chung nên không phân định rõ sẽ áp dụng cho bên chủ thể nào.
Có tác giả nhận định rằng: “Vụ kiện được bắt đầu bằng việc khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi tòa thụ lý, bị đơn phải tìm hiểu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì để từ đó chấp nhận hay có yêu cầu phản tố. BLTTDS đã quy định rõ thời điểm phản tố của bị đơn. Như vậy, thời hiệu khởi kiện chỉ áp dụng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chứ không áp dụng với yêu cầu phản tố của bị đơn”(16).
Cũng có quan điểm trái ngược cho rằng: “Do đã xác định được bản chất của yêu cầu phản tố là một yêu cầu khởi kiện nên các quy định về thời hiệu khởi kiện cũng phải được áp dụng đối với yêu cầu phản tố”(17).
Nhóm tác giả không đồng tình với quan điểm thứ nhất. Bởi lẽ, bản chất của yêu cầu phản tố là khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết nên việc áp dụng các quy định liên quan đến việc khởi kiện này sẽ áp dụng cho cả nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn. Việc áp dụng thời hiệu sẽ được áp dụng như với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi đương sự có yêu cầu Tòa án xem xét hết thời hiệu thì áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: “Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết”.
Trong thực tiễn xét xử Tòa án cũng theo hướng sẽ áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: “Ông T. kiện Công ty S. yêu cầu công ty phải thanh toán số tiền lương còn thiếu là 30.599.000 đồng. Trong quá trình giải quyết thì Công ty S. đã có yêu cầu phản tố buộc ông T. bồi thường nửa tháng tiền lương, bồi thường do vi phạm quy định về thời hạn báo trước. Tuy nhiên, phía nguyên đơn đã có văn bản kiến nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu. HĐXX nhận định Yêu cầu phản tố này của bị đơn đã vượt quá 01 năm kể từ ngày biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm hại nên đã vượt quá thời hiệu khởi kiện. Quyết định trong bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều đình chỉ yêu trên của Công ty S"(18).
Bốn là, hậu quả pháp lý khi triệu tập hợp lệ lần thứ hai bị đơn không tham gia tố tụng
Căn cứ khoản 1 Điều 207 BLTTDS năm 2015 về những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được quy định như sau: “Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt”. Theo đó, pháp luật không quy định thêm trường hợp nào trước khi mở phiên tòa mà bị đơn có yêu cầu phản tố không tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án sẽ giải quyết như thế nào.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 72 BLTTDS năm 2015 thì khi có yêu cầu phản tố và được Tòa án thụ lý thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ như nguyên đơn. Yêu cầu phản tố như yêu cầu khởi kiện vậy bị đơn khi có yêu cầu phản tố mà triệu tập hợp lệ hai lần không tham gia mà không có lý do chính đáng có bị chịu trách nhiệm tương tự như nguyên đơn hay không. Hiện nay BLTTDS năm 2015 chưa có câu trả lời. Các văn bản giải đáp, hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án tối cao cũng chưa có hướng dẫn về vấn đề này.
Có quan điểm nhận định rằng: “Nếu vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn mà bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn cố tình vắng mặt thì cần coi như bị đơn đã từ bỏ yêu cầu phản tố của mình và tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, bởi về bản chất đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn chính là nguyên đơn”(19).
Nhóm tác giả cũng có quan điểm tương đồng, bởi lẽ xuất phát từ nguyên tắc quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự thì khi đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu cho mình thì phải có trách nhiệm với yêu cầu của mình. Bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố thì cũng có nghĩa vụ chứng minh và tham gia giải quyết vụ việc. Nếu bị đơn chỉ vì đưa ra yêu cầu nhằm kéo dài thời gian, không phối hợp để tham gia giải quyết thì việc đình chỉ yêu cầu của bị đơn là hoàn toàn hợp lý. Việc đình chỉ này phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 như sau: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan” thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” nên bị đơn có yêu cầu phản tố cũng nên áp dụng tương tự.
Do đó cần thiết bổ sung khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 thêm trường hợp: “Trường hợp Bị đơn không đề nghị xét xử vắng mặt hoặc không do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì khi Bị đơn có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa án sẽ đình chỉ việc giải quyết yêu cầu độc lập của bị đơn”.
Kết luận
Theo khoản 1 Điều 8 BLTTDS năm 2015, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền, nghĩa vụ tố tụng ngang nhau khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp hay địa vị xã hội. Trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng đó, quyền phản tố của bị đơn được ghi nhận nhằm bảo đảm sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, giúp Tòa án xem xét, giải quyết tranh chấp toàn diện, triệt để và khách quan hơn.
Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến yêu cầu phản tố, làm rõ điều kiện để Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu này trong cùng vụ án dân sự. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra những bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định về quyền phản tố của bị đơn theo BLTTDS 2015, đặc biệt liên quan đến thời điểm thực hiện, thời hiệu và thủ tục phản tố. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự bảo vệ của bị đơn và nâng cao hiệu quả xét xử trong các vụ án dân sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Văn bản quy phạm pháp luật
- Bộ luật Tố tụng dân sự (92/2015/QH13) ngày 25/11/2015.
- Bộ luật Tố tụng dân sự (24/2004/QH11) ngày 15/6/2004.
- Luật số 65/2011/QH13 ngày 29/3/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự.
- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS.
B. Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Minh Hằng, Hà Văn Nâu (2010), “Yêu cầu phản tố và thời điểm thực hiện quyền phản tố từ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghề luật, số 1.
- Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa.
- Trần Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga, Nxb Tư pháp
- Bùi Thị Huyền (2020), “Quyền phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Luật học, số 4;
- Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao.
- Chu Xuân Minh, “Phản tố trong vụ án li hôn”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/public/phan-to-trong-vu-an-ly-hon, truy cập ngày 15/11/2025.
- Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố ngày 10/12/1948.
- Nguyễn Khánh Toàn (2011), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách khoa.
- Đức Trí, Yêu cầu phản tố, có tính thời hiệu, http://plo.vn/phap-luat/yeu-cau-phan-to-co-tinh-thoi-hieu-602604.html, truy cập ngày 15/10/2025;
- Trần Minh Tuấn, “Áp dụng thời hiệu khởi kiện với yêu cầu phản tố, có hay không?”, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/ap-dung-thoi-hieu-khoi-kien-voi-yeu-cau-phan-to-co-hay-khong1633448521-a110041.html, truy cập ngày 15/10/2025.
C. Bản án
- Bản án số 05/2018/LD-PT ngày 03/01/2018 về “tranh chấp về tiền lương” của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 04/02/2021 về “tranh chấp hợp đồng dân sự đặt cọc “của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa, tr.1370
- Chu Xuân Minh, “Phản tố trong vụ án li hôn”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/public/phan-to-trong-vu-an-ly-hon, truy cập ngày 15/11/2025
- Nguyễn Khánh Toàn (2011), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 671
- Điều 7 Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố ngày 10/12/1948.
- Khoản 3 Điều 71 BLTTDS năm 2015 về quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn có quy định: “Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”.
- Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012 về Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn quy định tại Điều 176 của BLTTDS quy định: “Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết”.
- Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 04/02/2021 về “tranh chấp hợp đồng dân sự đặt cọc” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Khoản 4 Điều 12 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Nguyễn Minh Hằng, Hà Văn Nâu (2010), “Yêu cầu phản tố và thời điểm thực hiện quyền phản tố từ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghề luật, số 01, tr. 44 – 45.
- Khoản 1 Điều 199 BLTTDS năm 2015 về Quyền, nghĩa vụ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi nhận được thông báo quy định: “1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có). Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày.”
- Khoản 26 Điều 1 Luật sửa đổi, b sửa đổi Điều 176 BLTTDS 2004 về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn: “[...]4. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm”.
- Mục IV.7 Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao.
- Khoản 1 Điều 245 BLTTDS 2015 về thay đổi địa vị tố tụng quy định: “Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.”
- Trần Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga, Nxb Tư pháp, tr.63.
- Đức Trí, Yêu cầu phản tố, có tính thời hiệu, http://plo.vn/phap-luat/yeu-cau-phan-to-co-tinh-thoi-hieu-602604.html, truy cập ngày 15/10/2025.
- Trần Minh Tuấn, “Áp dụng thời hiệu khởi kiện với yêu cầu phản tố, có hay không?”, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/ap-dung-thoi-hieu-khoi-kien-voi-yeu-cau-phan-to-co-hay-khong1633448521-a110041.html, Truy cập ngày 15/10/2025.
- Bản án số 05/2018/LD-PT ngày 03/01/2018 về “tranh chấp về tiền lương” của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bùi Thị Huyền (2020), Quyền phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2015, Tạp chí Luật học, số 4, tr.55.
NGUYỄN LONG BÌNH
Công ty Luật TNHH Luật Hùng Bách
ĐÀM THỊ THU HÀ
Công ty Luật TNHH MTV Hãng Luật Bạch Tuyết

