/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Quyền phát thải của các công trình xanh, công trình Zeb tại Việt Nam

Quyền phát thải của các công trình xanh, công trình Zeb tại Việt Nam

10/02/2026 18:32 |

(LSVN) - Bài viết phân tích tổng quan về quyền phát thải, cơ chế giao dịch trong thị trường các-bon và khả năng giảm phát thải của công trình xanh, công trình Zeb. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền phát thải trong lĩnh vực xây dựng, bao gồm điều kiện công nhận, chủ thể sở hữu, tài sản hóa quyền phát thải và cơ chế giao dịch trên thị trường các-bon. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm công nhận quyền phát thải từ công trình xanh, công trình Zeb, định giá và cấp chứng nhận tín chỉ các-bon, tích hợp vào thị trường các-bon, cũng như thiết lập cơ chế giám sát minh bạch.

1. Đặt vấn đề

Thị trường các-bon muốn vận hành và phát triển thì ngoài cơ chế vận hành thị trường được định hình thì cần phải có sự tham gia của bên cung, bên cầu và hàng hoá là quyền phát thải. Để có hàng hoá thì bên cung phải có động lực để tạo ra hàng hoá. Động lực đó đến từ chính sách, từ pháp luật mang lại quyền lợi để họ có động lực tham gia vào chuỗi cung ứng hàng hoá của thị trường các-bon. Việt Nam đã cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Thực tế cho thấy, tại thời điểm ngày 31/3/2025, tiến độ phát triển các dự án năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời vẫn còn chậm so với mục tiêu đặt ra và đặt ra câu hỏi về khả năng thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của Việt Nam[1]. Trước thực trạng này, việc ban hành các cơ chế khuyến khích và tạo động lực mạnh mẽ để thu hút các nhà đầu tư tham gia phát triển công trình xanh (CTX) và công trình Zero Energy Building (Zeb) là một yêu cầu cấp thiết, nhằm đóng góp thiết thực vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính (KNK) trên toàn quốc. Tuy nhiên, việc tài sản hoá quyền phát thải từ các công trình này như một tài sản có thể giao dịch tương tự như những tài sản khác vẫn còn tồn tại nhiều thách thức.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Bài viết này phân tích các quy định pháp luật hiện hành về quyền phát thải tại các CTX, công trình Zeb, đồng thời tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia về giao dịch quyền phát thải. Kết quả cho thấy việc tài sản hóa quyền phát thải còn nhiều hạn chế: chưa có quy định, quy chuẩn cụ thể về Zeb; chưa có cơ chế ưu đãi thuế khi chuyển nhượng quyền phát thải; khó khăn trong việc định giá quyền phát thải làm tài sản bảo đảm,… Những vướng mắc này làm giảm động lực của nhà đầu tư triển khai CTX, công trình Zeb và chưa khai thác hết giá trị tài chính vốn có của quyền phát thải. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp: ban hành cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp khi chuyển nhượng quyền phát thải; hoàn thiện quy định pháp luật về phân định quyền đối với quyền phát thải trong công trình Zeb; bổ sung quy định pháp luật về tài sản bảo đảm là quyền phát thải. Những giải pháp này sẽ góp phần khuyến khích phát triển CTX, công trình Zeb và đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải, phát triển bền vững của Việt Nam..

2. Những vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến quyền phát thải tại công trình xanh, công trình Zeb

2.1 Tổng quan về quyền phát thải, cơ chế giảm phát thải và tiềm năng đóng góp của công trình xanh, công trình Zeb trong chiến lược phát thải ròng bằng 0 và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam

Quyền phát thải là lượng KNK tối đa mà một tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân được phép phát thải vào khí quyển trong một khoảng thời gian nhất định. “Quyền này thường được cấp thông qua các hệ thống quy định và quản lý phát thải, chẳng hạn như hệ thống giao dịch phát thải (Emission Trade System, ETS), và có thể được giao dịch trên thị trường phát thải.”[2] Đây là một công cụ quản lý môi trường mang tính kinh tế, được thiết kế dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời cho phép tối ưu hóa chi phí kiểm soát ô nhiễm thông qua các cơ chế linh hoạt của thị trường.

Theo khoản 35 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2020, “Tín chỉ các-bon là chứng nhận có thể giao dịch thương mại và thể hiện quyền phát thải một tấn khí carbon dioxide (CO2) hoặc một tấn khí carbon dioxide (CO2) tương đương”. Mỗi tín chỉ các-bon đại diện cho quyền được phép phát thải một đơn vị KNK nhất định vào khí quyển. Thị trường các-bon là loại thị trường chuyên biệt dùng để trao đổi, giao dịch tín chỉ các-bon. Thị trường này được hình thành như một cơ chế kinh tế, nơi các chủ thể có thể mua bán, trao đổi quyền phát thải nhằm thúc đẩy giảm phát thải KNK và hướng tới phát triển bền vững. Thị trường tín chỉ các-bon trên thế giới bao gồm 02 hình thức: Thị trường các-bon bắt buộc (mandatory carbon market) và Thị trường các-bon tự nguyện (voluntary carbon market)[3].

Các CTX và công trình Zeb, nhờ thiết kế, công nghệ và vận hành tiết kiệm năng lượng, có khả năng giảm hoặc triệt tiêu phát thải KNK so với mức thông thường. Phần phát thải giảm này có thể được chuyển hóa thành tín chỉ các-bon, qua đó xác lập quyền phát thải gắn với công trình và tham gia giao dịch, đặc biệt có ý nghĩa trong thị trường các-bon tự nguyện khi vừa ghi nhận giá trị môi trường vừa mang lại lợi ích kinh tế cho chủ đầu tư. Tài sản này có thể dùng để giao dịch, huy động vốn, hoặc thậm chí trở thành tài sản bảo đảm, đây là vấn đề cần được nghiên cứu và hoàn thiện trong pháp luật Việt Nam.

Từ năm 2005, Bộ Xây dựng đã ban hành QCXDVN 09:2005 - “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”. Năm 2013, quy chuẩn QCXDVN 09:2005 được xem xét bổ sung và chỉnh sửa, thay thế bằng QCVN 09:2013/BXD, sau đó là QCVN 09:2017/BXD. Khái niệm “CTX” (Green Building) lần đầu tiên được quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, CTX là công trình xây dựng được thiết kế, xây dựng và vận hành đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn về sử dụng hiệu quả năng lượng, tiết kiệm tài nguyên; đảm bảo tiện nghi, chất lượng môi trường sống bên trong công trình và bảo vệ môi trường bên ngoài công trình. “Các CTX sẽ được thiết kế xây dựng và vận hành theo các tiêu chí, như địa điểm bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tạo không gian cây xanh trong giải pháp thiết kế, tiết kiệm năng lượng, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, chú trọng giải pháp giảm trừ ô nhiễm môi trường,…”[4] Hiện nay, Nghị định 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng (thay thế cho Nghị định 15/2021/NĐ-CP) tiếp tục khẳng định chính sách khuyến khích xây dựng, phát triển công trình hiệu quả năng lượng, CTX và việc phát triển các công trình này thực hiện theo chính sách, kế hoạch và lộ trình áp dụng do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Công trình Zeb là sự phát triển cao hơn của CTX. “Tòa nhà Zero-Energy (Zeb), còn được gọi là tòa nhà Net Zero-Energy (NZE), là tòa nhà có mức tiêu thụ năng lượng bằng không. Nghĩa là tổng lượng năng lượng mà tòa nhà sử dụng hàng năm bằng với lượng năng lượng tái tạo được tạo ra tại chỗ hoặc bởi các nguồn năng lượng tái tạo từ bên ngoài gần đó”[5]. “Tiêu thụ năng lượng bằng 0” không có nghĩa là tòa nhà không sử dụng năng lượng, mà thể hiện việc công trình không còn phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống như nhiệt điện than, dầu, khí hoặc thủy điện - vốn gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và được cung cấp thông qua lưới điện quốc gia hoặc khu vực. Các quy định hiện nay dù chưa trực tiếp đề cập đến công trình Zeb nhưng cho thấy sự quyết tâm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững trong lĩnh vực xây dựng của Việt Nam, là tiền đề cho lộ trình luật hóa quy định về công trình Zeb và triển khai những công trình này trên thực tế.

Tại Việt Nam, Nghị định 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định về giảm nhẹ phát thải KNK và bảo vệ tầng ô-dôn, áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát thải, hấp thụ KNK; tham gia thị trường các-bon trong nước; và quản lý các chất gây hiệu ứng nhà kính, chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo Nghị định thư Montreal (Điều 2). Trong đó, lĩnh vực xây dựng được Chính phủ giao mục tiêu giảm tối thiểu 74,3 triệu tấn CO₂ đến năm 2030 (Phụ lục I), bao gồm các quá trình công nghiệp, tiêu thụ trong lĩnh vực sản xuất xi – măng và tòa nhà). Bên cạnh đó, tại Quyết định số 385/QĐ-BXD năm 2022, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã phê duyệt Kế hoạch hành động của ngành Xây dựng ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2022–2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26. Kế hoạch này xác định các đối tượng và lĩnh vực ưu tiên gồm: công tác quy hoạch, phát triển đô thị và hạ tầng kỹ thuật đô thị; hoạt động khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng; cùng việc xây dựng và quản lý công trình.

Như vậy, công trình xây dựng (bao gồm CTX và công trình Zeb) được xác định là đối tượng trọng tâm trong mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Với đặc điểm tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải hiệu quả, các công trình này nếu đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật (đo lường được, có tính bổ sung, được thẩm định độc lập…) hoàn toàn có thể được công nhận là dự án tín chỉ các-bon theo cơ chế trong nước hoặc quốc tế. Điều này khẳng định tiềm năng đóng góp của CTX, công trình Zeb không chỉ trong chiến lược giảm phát thải mà còn trong phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

2.2. Quyền sở hữu đối với quyền phát thải tại công trình xanh, công trình Zeb

Căn cứ khoản 7 Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015, quyền phát thải, bao gồm hạn ngạch phát thải KNK và tín chỉ các-bon, là quyền tài sản có thể định giá bằng tiền. Việc xác lập quyền sở hữu hoặc quyền khai thác hợp pháp đối với loại tài sản này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh CTX hoặc công trình Zeb thường tồn tại song song phần sở hữu riêng và sở hữu chung, dễ phát sinh tranh chấp hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các bên.

Theo Thông tư 13/2024/TT-BXD ngày 20/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về Quy trình, quy định kỹ thuật kiểm kê KNK và đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải KNK ngành xây dựng thì giá trị quyền phát thải tại các tòa nhà[6] được hình thành từ biện pháp giảm KNK trong các hoạt động như: Tiêu thụ năng lượng trong xây dựng - Sử dụng nhiên liệu cho quá trình đốt; Tiêu thụ năng lượng trong xây dựng - Sử dụng điện có nguồn gốc hoá thạch; Sử dụng thiết bị làm mát. Trong tương lai gần, ngoài các tòa nhà thương mại dịch vụ thuộc đối tượng phải kiểm kê KNK thì còn có thể có các tòa nhà chung cư xây dựng theo hình thức CTX, công trình Zeb khi phát triển bền vững đang là xu thế. Giảm phát thải KNK tại tòa nhà thường đến từ các hạng mục tiết kiệm năng lượng trong hệ thống chiếu sáng, thông gió, điều hòa nhiệt độ – bao gồm cả phần sở hữu chung (hành lang, thang máy, tầng hầm…) và sở hữu riêng (căn hộ, văn phòng,…). Quyền phát thải vì vậy được hình thành từ sự phối hợp hành vi sử dụng của nhiều chủ thể: Chủ đầu tư (CĐT), chủ sở hữu căn hộ, đơn vị vận hành… Điều này đặt ra câu hỏi: Ai là chủ thể có quyền đối với phần giá trị quyền phát thải được tạo ra?

Trên thực tế, nhiều dự án bất động sản gắn thương hiệu “xanh” để thu hút khách hàng, tạo giá trị thương hiệu, nhưng không phải người mua nào cũng nhận thức đầy đủ về quyền lợi liên quan đến quyền phát thải. CĐT thường là bên bỏ vốn đầu tư ban đầu cho công nghệ, thiết bị hiệu suất cao, và chi phí này được tính vào giá bán. Người mua trả tiền mua phần diện tích sở hữu riêng, gián tiếp góp phần tạo ra quyền phát thải nhưng quyền phát thải hình thành trong tương lai như tín chỉ các-bon (carbon credit), quyền phát thải (emission right) – với tư cách là quyền tài sản gắn với hiệu quả phát thải chung của toàn công trình – lại do CĐT hoặc đơn vị vận hành nắm giữ và có thể chuyển nhượng. Nếu pháp luật không phân định rõ vai trò và quyền lợi giữa các chủ thể liên quan (CĐT, người mua, đơn vị vận hành...), sẽ phát sinh nhiều xung đột hoặc rủi ro pháp lý[7]. Vấn đề này hiện nay chưa được Luật Kinh doanh bất động sản 2023 và Luật Nhà ở 2023 đề cập rõ ràng.

Việc làm rõ các quyền lợi liên quan đến quyền phát thải được hình thành từ việc giảm phát thải KNK tại các CTX, công trình Zeb là điều cần thiết. Đồng thời, Hợp đồng mẫu được đăng ký nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người mua căn hộ/phần diện tích sàn xây dựng tại các tòa nhà là CTX, công trình Zeb cần có những thỏa thuận nào để đảm bảo được quyền lợi cho bên mua khi bản thân họ cũng có quyền đối với quyền phát thải được hình thành từ các tòa nhà này. Do đó, cần có sự minh thị trong quy định pháp luật về xác lập quyền tài sản đối với phần phát thải được giảm tại CTX, công trình Zeb – bao gồm xác định chủ thể có quyền (CĐT, người mua căn hộ, hay cộng đồng cư dân), cơ chế chia sẻ lợi ích, và khả năng sử dụng quyền tài sản này để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Sự rõ ràng này không chỉ tạo hành lang pháp lý để CĐT yên tâm đầu tư mà còn giúp người mua căn hộ nhận diện chính xác lợi ích có thể nhận được – tạo nên cơ sở hài hòa lợi ích và kích thích phát triển thị trường bất động sản xanh một cách bền vững. Lợi ích phải đến từ hai phía là tiền đề, động lực để CĐT thực hiện dự án và là yếu tố kích thích tâm lý của người mua.

2.3. Tài sản hóa quyền phát thải trong công trình xanh, công trình Zeb và khả năng sử dụng làm tài sản bảo đảm

Quyền phát thải là một dạng quyền tài sản và chỉ thực sự mang lại giá trị khi được đưa vào lưu thông trên thị trường hoặc được khai thác triệt để, tương tự như các loại tài sản khác. Một trong những thách thức lớn nhất khi triển khai CTX, công trình Zeb là bài toán về nguồn vốn đầu tư và khả năng thu hồi vốn. Trong bối cảnh đó, việc có thể tài sản hóa quyền phát thải để sử dụng làm tài sản bảo đảm nhằm huy động vốn từ tổ chức tín dụng là một hướng đi đáng cân nhắc.

Theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015 và các Điều 8, 18 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tài sản bảo đảm có thể bao gồm cả tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai[8]. Điều 108 Bộ luật Dân sự 2015 làm rõ rằng Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa được hình thành tại thời điểm giao kết hoặc đã hình thành nhưng chưa thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Cùng với đó, Điều 183 Luật Nhà ở 2023 cũng cho phép CĐT dự án đầu tư xây dựng nhà ở được thế chấp một phần hoặc toàn bộ dự án hoặc thế chấp nhà ở xây dựng trong dự án tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phục vụ cho việc đầu tư dự án đó hoặc xây dựng nhà ở đó.

Khi dự án được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền khi đăng ký chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon căn cứ trên hồ sơ đăng ký là tài liệu chương trình, dự án được xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phù hợp với quy định của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, điều ước và thỏa thuận quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (bản chính); Báo cáo kỹ thuật hoặc báo cáo thẩm định chương trình, dự án của cơ quan thẩm định độc lập theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường phù hợp với quy định của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, điều ước và thỏa thuận quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (bản chính); Các loại giấy phép và văn bản có liên quan đến hoạt động chuyên môn của chương trình, dự án theo quy định hiện hành thì có thể được xem là tài sản hình thành trong tương lai. Đến trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên mua theo Luật Kinh doanh bất động sản 2023 và Luật Nhà ở 2023, CĐT vẫn có toàn quyền định đoạt đối với các quyền tài sản hình thành trong tương lai, bao gồm cả quyền phát thải.

Trong xu thế phát triển bền vững và tài chính xanh, quyền phát thải đang nổi lên như một loại tài sản mới có tiềm năng để có thể tham gia vào giao dịch bảo đảm, bên cạnh các tài sản truyền thống như quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, máy móc, thiết bị… Tuy nhiên, do tính chất mới và đặc thù, việc sử dụng quyền phát thải làm tài sản bảo đảm vẫn còn nhiều rào cản, đặc biệt là vấn đề định giá, thẩm định và cơ chế xử lý tài sản trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ thi hành nợ. Các tổ chức tín dụng sẽ cần xây dựng năng lực chuyên môn tương ứng – bao gồm đội ngũ thẩm định, xử lý tài sản – để đáp ứng yêu cầu này.

Vấn đề cần tiên liệu là khó khăn trong việc tài sản hóa quyền tài sản này, bởi đây là loại tài sản mới ở Việt Nam. Việc định giá quyền tài sản hình thành trong tương lai khá phức tạp do phụ thuộc nhiều yếu tố kỹ thuật; đồng thời phương án xử lý khi tài sản được dùng làm bảo đảm cũng cần được tính toán kỹ lưỡng, nhất là khi thị trường giao dịch quyền tài sản dự kiến sẽ hình thành và vận hành trong tương lai gần. Đối với quyền phát thải hiện hữu, việc định giá giá trị tài sản này sẽ dễ dàng hơn khi tài sản đã hình thành và việc tham chiếu giá trị giao dịch trên thị thường tại thời điểm định giá sẽ giúp cho các tổ chức định giá thực hiện nghiệp vụ tương tự như những loại tài sản thông thường khác. Tuy nhiên, đối với quyền phát thải hình thành trong tương lai, việc tính toán giá trị quyền phát thải hình thành trong tương lai có thể sẽ phải căn cứ vào các thông số kỹ thuật của công trình, trong điều kiện dự án tuân thủ, đảm bảo thiết kế ban đầu, tham chiếu với giá trị quyền phát thải được hình thành những công trình tương tự khác,… Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Thu thập và phân tích thông tin về tài sản thẩm định giá (ban hành kèm theo Thông tư 31/2024/TT-BTC ngày 16/05/2024 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) quy định: thông tin cần thu thập về tài sản thẩm định giá bao gồm thông tin về các đặc điểm pháp lý, kinh tế - kỹ thuật, thông tin về thị trường (giá trị giao dịch quyền phát thải trên các sàn giao dịch được vận hành trong tương lai gần) và các thông tin khác liên quan đến tài sản thẩm định giá. Trường hợp tài sản thẩm định giá là quyền tài sản, tài sản hình thành trong tương lai, cần thu thập thông tin về việc xác lập sở hữu và hình thành các tài sản này, về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng (nếu có) của các cơ quan có thẩm quyền theo các quy định của pháp luật có liên quan.

2.4. Giao dịch quyền phát thải của công trình xanh, công trình Zeb trên thị trường các-bon

Căn cứ Quyết định 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành, hàng hóa trên thị trường các-bon gồm 02 loại: hạn ngạch phát thải KNK và tín chỉ các-bon được xác nhận giao dịch trên thị trường. Đồng thời, theo khoản 5 Điều 3 Nghị định 06/2022/NĐ-CP, Cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon là các cơ chế thực hiện việc đăng ký, triển khai các chương trình, dự án giảm nhẹ phát thải KNK và tạo tín chỉ các-bon theo các phương pháp được quốc tế hoặc Việt Nam công nhận. Tín chỉ các-bon từ các chương trình, dự án được trao đổi trên thị trường các-bon hoặc bù cho lượng phát thải KNK vượt quá hạn ngạch được phân bổ.

Từ đó, có thể khẳng định rằng các CTX, công trình Zeb có thể tham gia thị trường các-bon dưới hình thức là các dự án tạo ra tín chỉ các-bon khi đáp ứng các tiêu chí bắt buộc. Theo Trung tâm Bảo vệ môi trường và Ứng phó biến đổi khí hậu, không phải bất kỳ hoạt động hay dự án giảm phát thải nào cũng có thể được phát triển thành dự án tín chỉ các-bon và được ban hành tín chỉ các-bon. Các dự án tín chỉ các-bon thường cần phải đảm bảo các tiêu chí như: Việc giảm phát thải phải thực tế, đo lường được; phải là lâu dài và không bị đảo ngược; phải đảm bảo tính bổ sung (additionality) của dự án; phải được thẩm định, thẩm tra bởi một bên thứ ba độc lập và được công nhận bởi tiêu chuẩn các-bon tương ứng; phải là duy nhất và có thể theo dõi tránh việc một hoạt động giảm phát thải được tính hai lần (double-counting)[9].

Nhìn chung, để có thể quy đổi các kết quả giảm phát thải ra tín chỉ các-bon thì kết quả giảm phát thải đó sẽ phải đảm bảo các tiêu chí cũng như yêu cầu kể trên. Ngoài ra, việc đăng ký một dự án tín chỉ các-bon cũng cần tuân thủ quy trình chặt chẽ. Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã bước đầu thiết lập khuôn khổ pháp lý cho CTX và công trình Zeb tham gia thị trường các-bon thông qua Nghị định 06/2022/NĐ-CP, với quy trình rõ ràng về trình tự, thủ tục cần thực hiện đăng ký dự án, xác nhận tín chỉ các-bon và hạn ngạch phát thải KNK. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy thủ tục còn phức tạp, yêu cầu nhiều loại hồ sơ kỹ thuật, và chưa có cơ chế cụ thể để định danh “quyền phát thải” như một loại tài sản môi trường độc lập, gây khó khăn trong việc thương mại hóa và sử dụng làm tài sản bảo đảm trong giao dịch dân sự, tài chính.

Ngoài ra, theo quy định hiện hành của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) do chính doanh nghiệp được cấp chứng chỉ thực hiện mới được miễn thuế, trong khi các lần chuyển nhượng tiếp theo không được hưởng ưu đãi này. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đúng bản chất của quyền phát thải như một công cụ chia sẻ và phân bổ chi phí đầu tư cho phát triển bền vững. Người nhận chuyển nhượng quyền phát thải – dù ở bất kỳ vòng giao dịch nào – đều đang gánh một phần chi phí đầu tư ban đầu, do đó cũng nên được kế thừa các ưu đãi thuế tương ứng. Nếu việc đầu tư đó mang lại lợi ích xã hội thông qua giảm phát thải KNK, thì thu nhập từ quyền phát thải cần được coi là khoản thu nhập được ưu đãi thuế trên cơ sở khấu trừ hợp lý, không phân biệt chủ thể nắm giữ hay số lần chuyển nhượng. Đây là cách tiếp cận phù hợp để tạo động lực tài chính thực chất và lâu dài cho thị trường CTX, công trình Zeb tại Việt Nam.

3. Kinh nghiệm quốc tế về công nhận quyền phát thải tại công trình xanh, công trình Zeb

3.1. Hệ thống mua bán Quyền phát thải của Liên minh Châu Âu

Hệ thống mua bán Quyền phát thải của Liên minh Châu Âu (European Union Emissions Trading System - EU ETS) là thị trường các-bon quốc tế đầu tiên trên thế giới, được khởi xướng vào năm 2005, với mục tiêu giảm phát thải KNK một cách hiệu quả về chi phí. Hiện tại, các CTX không trực tiếp tham gia vào EU ETS để nhận tín chỉ các-bon, thay vào đó, EU ETS chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp và năng lượng có mức phát thải cao. “EU ETS là công cụ chính của EU trong nỗ lực đáp ứng các mục tiêu cắt giảm khí thải hiện tại và trong tương lai, là hệ thống mua bán khí thải đầu tiên và lớn nhất để giảm phát thải KNK, EU ETS bao phủ hơn 11.000 trạm điện, nhà máy công nghiệp ở 31 quốc gia và chuyến bay giữa sân bay của các nước tham gia”[10]. Tuy nhiên, từ năm 2027, một hệ thống ETS mới (ETS2) sẽ được triển khai, tạo động lực thị trường cho các khoản đầu tư vào cải tạo tòa nhà và giao thông ít phát thải.

Là một phần của bản sửa đổi năm 2023 của ETS, hệ thống giao dịch khí thải mới ETS2 tách biệt với EU ETS hiện tại, bao gồm và giải quyết lượng khí thải CO2 từ quá trình đốt nhiên liệu trong các tòa nhà, vận tải đường bộ và các lĩnh vực bổ sung (chủ yếu là ngành công nghiệp nhỏ không nằm trong phạm vi của EU ETS hiện tại). Hoạt động theo cơ chế “cap-and-trade” giống như ETS hiện tại, nhưng ETS2 sẽ bao gồm phát thải ở thượng nguồn (“emissions upstream”). Các nhà cung cấp nhiên liệu (fuel suppliers), chứ không phải người tiêu dùng cuối cùng như hộ gia đình hoặc người sử dụng ô tô, sẽ phải theo dõi và báo cáo lượng phát thải của họ. Theo đó, EU sẽ đặt ra mức trần phát thải CO2 (cap) cho các lĩnh vực thuộc ETS2. Các nhà cung cấp nhiên liệu phải tính toán lượng CO2 phát thải từ lượng nhiên liệu bán ra và mua giấy phép phát thải (carbon allowances) tương ứng với lượng khí thải CO2 dự kiến tại các cuộc đấu giá. Nếu phát thải ít hơn lượng cho phép, họ có thể bán lại phần thừa trên thị trường các-bon. Nếu phát thải nhiều hơn, họ phải mua thêm giấy phép[11]. Vì chi phí mua giấy phép phát thải sẽ được chuyển vào giá bán nhiên liệu, nên chi phí sưởi ấm bằng khí đốt, dầu… sẽ tăng khiến người dân và doanh nghiệp sẽ có động lực tài chính để cải tạo tòa nhà để tiết kiệm năng lượng, chuyển sang năng lượng tái tạo.

Mặc dù hiện tại ETS2 chưa trực tiếp công nhận “quyền phát thải” cho các công trình xây mới ít hoặc không phát thải và CĐT các tòa nhà không phải đối tượng buộc mua giấy phép phát thải, nhưng với ETS2, khía cạnh “nhiên liệu sử dụng trong các tòa nhà” lần đầu tiên đưa lĩnh vực xây dựng dân dụng và thương mại vào hệ thống định giá các-bon của EU. Hệ thống này sử dụng hệ số phát thải tiêu chuẩn cho từng loại nhiên liệu để quy đổi thành lượng CO2 thải ra. Nếu một CĐT áp dụng công nghệ giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch thì CĐT có thể sử dụng dữ liệu ETS2 làm cơ sở kỹ thuật để lượng hóa phát thải của công trình. Nói cách khác, CĐT có thể chứng minh việc xây dựng CTX, công trình Zeb sẽ giảm được lượng phát thải KNK so với chuẩn. Đây là tiền lệ rõ ràng cho phép quy đổi việc “ít phát thải” thành lợi ích tài chính.

3.2. Chương trình J-Credit của Nhật Bản

Chương trình J-Credit được thiết kế để chứng nhận lượng phát thải KNK được giảm thiểu và loại bỏ bằng các bể hấp thụ ở Nhật Bản. Theo đó, Chính phủ Nhật Bản xác nhận lượng phát thải KNK (như CO2) được giảm hoặc loại bỏ bằng các bể hấp thụ thông qua nỗ lực giới thiệu các thiết bị tiết kiệm năng lượng và quản lý rừng, dưới dạng “tín chỉ” (credit). Mục tiêu của Chương trình J-Credit là khuyến khích các hoạt động giảm phát thải CO2 và tăng cường hấp thụ carbon tại Nhật Bản, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội và bù đắp carbon tự nguyện. Người tạo tín chỉ (J-Credit Creators) bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông dân, chủ rừng, chính quyền địa phương... bằng cách thực hiện các dự án như: lắp đặt thiết bị tiết kiệm năng lượng (ví dụ: đèn chiếu sáng tiết kiệm điện), sử dụng năng lượng tái tạo (ví dụ: điện mặt trời), quản lý và trồng rừng đúng cách. Họ sẽ giảm chi phí vận hành nhờ tiết kiệm năng lượng, tăng doanh thu từ việc bán tín chỉ, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao hình ảnh doanh nghiệp.[12]

Trong chương trình J-Credit, các hoạt động giảm phát thải KNK thông qua tiết kiệm năng lượng là một phần quan trọng. Theo đó, CĐT, chủ toà nhà hoặc đơn vị vận hành có thể lập dự án tiết kiệm năng lượng và đăng ký trong hệ thống J-Credit. Nếu kết quả thực tế cho thấy có lượng phát thải giảm đáng kể so với trước đó hoặc so với mức thông thường thì họ sẽ được cấp tín chỉ J-Credit tương ứng với lượng KNK giảm được. Sàn giao dịch tín chỉ các-bon J-Credit đã được khai trương ngày 11/10/2023 trên sàn chứng khoán Tokyo (TSE), cho phép các công ty mua và bán J-Credit. Một công ty muốn đạt mục tiêu về phát thải có thể mua tín chỉ để bù lại lượng khí phát thải vượt quy định, trong khi một công ty đã giảm phát thải KNK nhiều hơn quy định có thể bán tín chỉ J-Credit.[13] Những chương trình như J-Credit sẽ góp phần thúc đẩy xu hướng thiết kế và vận hành các CTX, công trình Zeb, bởi vì nó tạo ra động lực tài chính cho các bên đầu tư vào giải pháp tiết kiệm năng lượng.

3.3. Chương trình Chứng chỉ Xanh của Singapore

Chương trình Chứng chỉ Xanh (Green Mark) của Singapore, được Cơ quan Xây dựng và Công trình (The Building and Construction Authority - BCA) giới thiệu vào tháng 01/2005, là một hệ thống đánh giá CTX nhằm đánh giá tác động môi trường và hiệu suất của các tòa nhà. Mục tiêu chính của chương trình là thúc đẩy thiết kế bền vững và áp dụng các thực hành tốt nhất trong xây dựng và vận hành công trình. Green Mark 2021 là phiên bản nâng cấp của hệ thống chứng nhận CTX, được thiết kế phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Chương trình nhằm thúc đẩy ngành xây dựng hợp tác và phát triển các giải pháp CTX, nâng cao tiêu chuẩn bền vững cho môi trường xây dựng của Singapore. Chương trình áp dụng cho cả công trình mới và công trình hiện hữu, bao gồm các loại hình như: Tòa nhà thương mại, Tòa nhà công nghiệp, công trình công cộng và nhà ở dân cư. Green Mark 2021 đánh giá công trình dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó có hiệu quả năng lượng (Energy Efficiency) hướng tới các công trình siêu tiết kiệm năng lượng và không phát thải; giảm lượng các-bon trong toàn bộ vòng đời công trình, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo và vật liệu thân thiện với môi trường,…[14]

Chương trình Green Mark 2021 của Singapore chưa trực tiếp công nhận hay phân phối “quyền phát thải” (emission rights) cho các CTX, công trình Zeb, nhưng có mối liên hệ quan trọng và tiềm năng trong việc hình thành quyền phát thải như một loại tài sản môi trường trong tương lai. Green Mark 2021 đánh giá KNK phát thải trong toàn vòng đời công trình, gồm cả khí thải ẩn trong vật liệu xây dựng (embodied carbon) () và khí thải từ vận hành (operational carbon). Phiên bản mới này khuyến khích công trình đạt chuẩn Zeb hoặc SLE (Super Low Energy) – tức là phát thải vận hành gần bằng 0 hoặc bằng 0. Đây là cơ sở kỹ thuật để xác định lượng phát thải giảm được hay “tránh được” từ công trình - một yếu tố nền tảng để tạo lập tín chỉ các-bon (carbon credit) hay “quyền phát thải” dư. Tuy nhiên, Green Mark chỉ là công cụ đánh giá và chứng nhận môi trường, không phải công cụ phân bổ hạn ngạch phát thải như trong cơ chế ETS của EU.

Từ các kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mặc dù cơ chế công nhận và giao dịch quyền phát thải gắn với CTX, công trình Zeb chưa được triển khai một cách đồng bộ và trực tiếp tại tất cả các quốc gia, nhưng nhiều nước và khu vực như Liên minh Châu Âu, Nhật Bản và Singapore đã bước đầu xây dựng nền tảng pháp lý và kỹ thuật để thúc đẩy vai trò của các công trình này trong mục tiêu giảm phát thải KNK. Những cơ chế này không chỉ góp phần thúc đẩy đầu tư vào CTX, công trình Zeb mà còn mở ra tiềm năng tích hợp quyền phát thải như một loại tài sản có thể giao dịch, qua đó đóng góp vào phát triển tài chính xanh và chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp.

4. Một số đề xuất, gợi mở chính sách cho Việt Nam

Thứ nhất, cần công nhận và có cơ chế phân định rõ vai trò và quyền lợi của các chủ thể về quyền phát thải tại CTX, công trình Zeb.

Việc công nhận quyền phát thải tại CTX, công trình Zeb là bước đi cần thiết để khẳng định đây là một loại quyền tài sản mới, gắn liền với hiệu quả giảm phát thải mà công trình mang lại. Sự công nhận này không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc đưa quyền phát thải vào giao dịch trên thị trường các-bon, mà còn khuyến khích CĐT áp dụng công nghệ xanh, gia tăng giá trị kinh tế – môi trường của công trình. Thực tế, từ một số dự án thí điểm đầu tiên về CTX đã được triển khai tại Việt Nam, như dự án “Thúc đẩy xây dựng bệnh viện xanh thông qua nâng cao sử dụng năng lượng hiệu quả và môi trường” trong khuôn khổ Cơ chế tín chỉ chung (JCM-Joint Credit Mechanism) giữa Việt Nam và Nhật Bản[15], đã chứng minh tính khả thi của việc công nhận quyền phát thải tại các CTX, công trình Zeb. Thành công của dự án thí điểm trên cho thấy CTX, công trình Zeb tại Việt Nam hoàn toàn có thể được phát triển theo hướng dự án tín chỉ các-bon, nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật.

Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền phát thải tại các CTX, công trình Zeb được quản lý và khai thác hiệu quả, pháp luật cần thiết lập cơ chế phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể liên quan. Khi quyền phát thải được công nhận là một loại tài sản hình thành trong tương lai, phải xác định rõ ai là người nắm quyền (CĐT hay chủ sở hữu căn hộ), ai được hưởng lợi từ giao dịch quyền này, và ai chịu trách nhiệm đăng ký, báo cáo, giám sát trong hệ thống thị trường các-bon. Bài học từ EU cho thấy ETS2 không yêu cầu cá nhân người tiêu dùng phải mua quyền phát thải, mà áp nghĩa vụ cho các nhà cung cấp nhiên liệu, đơn vị đầu vào chính gây phát thải. Người mua nhà (người tiêu dùng cuối) là bên sử dụng sản phẩm, nhưng không phải chủ thể gây phát thải chính, cũng không có vai trò chủ động trong giảm phát thải toàn tòa nhà. Trong khi đó, CĐT hoặc đơn vị vận hành mới là bên thiết kế, đầu tư công nghệ, vận hành hệ thống tiết kiệm năng lượng và xin cấp tín chỉ các-bon. Do đó, nên đặt trọng tâm nghĩa vụ đăng ký, giao dịch và quản lý vào CĐT hoặc đơn vị vận hành, để đảm bảo hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, về lợi ích kinh tế, người mua vẫn có thể được phân chia phần quyền lợi tương ứng với phần chi phí họ đã đóng góp – cần được thể hiện rõ trong hợp đồng và quy định của pháp luật. Điều này đơn giản hóa việc quản lý và giám sát, đồng thời tránh xung đột giữa người tiêu dùng cuối và nhà phát triển công trình.

Để việc phân định quyền và lợi ích được rõ ràng, cần có sự điều chỉnh trong Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở theo hướng bổ sung các quy định đặc thù trong giao dịch đối với CTX, công trình Zeb. Thực tiễn đi trước pháp luật khi hiện tại đã có một số CĐT gắn mác “CTX” cho dự án nhằm thu hút khách hàng. Giống như ETS2 của EU hay hệ thống J-Credit của Nhật, nếu pháp luật Việt Nam công nhận quyền phát thải là một loại lợi ích tài sản gắn với CTX, công trình Zeb, thì cần có khuôn khổ rõ ràng để định danh, định lượng và phân chia quyền phát thải giữa CĐT và người mua nhà. Cách tiếp cận này vừa khuyến khích CĐT đầu tư công nghệ xanh thông qua cơ chế thu hồi chi phí từ thị trường tín chỉ các-bon, vừa bảo đảm quyền lợi của người mua. Các bên có thể thống nhất để CĐT nắm giữ quyền phát thải, định giá quyền này và khấu trừ vào giá bán, qua đó cân đối lợi ích và tránh việc CĐT phải gánh toàn bộ chi phí đầu tư công nghệ, vật liệu để công trình đạt chuẩn CTX/Zeb. Trong trường hợp này, cần có cơ chế giám sát giá bán của phần sở hữu riêng nhằm bảo đảm quyền lợi của người mua khi họ đã từ bỏ quyền phát thải từ phần diện tích này. Trong trường hợp bên mua không đồng ý từ bỏ quyền sở hữu thì cần có cơ chế giám sát việc giao dịch quyền phát thải sau khi đã phân định được giá trị quyền phát thải hình thành từ phần diện tích sở hữu chung và phần diện tích sở hữu riêng. Bởi thủ tục đăng ký dự án tín chỉ các-bon, xác nhận số lượng tín chỉ các-bon là dành cho tổng thể dự án. Tương tự như việc giám sát hoạt động bán bất động sản của CĐT, trong trường hợp này cần có cơ chế giám sát qua nghĩa vụ báo cáo định kỳ từ CĐT và giám sát số liệu báo cáo từ cơ quan quản lý qua đối soát số liệu có được từ các sàn giao dịch nhằm đảm bảo quyền lợi của bên mua trong trường hợp họ không có thoả thuận từ bỏ quyền sở hữu phát sinh từ phần sở hữu riêng.

Thứ hai, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cần thiết để tài sản hóa quyền phát thải và khả năng sử dụng làm tài sản bảo đảm.

Việc công nhận quyền phát thải và đưa vào giao dịch trên thị trường các-bon đòi hỏi phải có nền tảng kỹ thuật đáng tin cậy, đảm bảo tính minh bạch, nhất quán và khả năng kiểm chứng. Cả J-Credit (Nhật Bản) và Green Mark (Singapore) đều cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập các bộ tiêu chí kỹ thuật định lượng và quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định rõ ràng. Đây là cơ sở để đánh giá mức giảm phát thải thực tế. Hiện nay, Nghị định 06/2022/NĐ-CP mới quy định chung đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát thải, giảm nhẹ và hấp thụ KNK, phát triển thị trường các-bon trong nước, cũng như sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, tiêu thụ và xử lý các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, khí gây hiệu ứng nhà kính theo Nghị định thư Montreal; trong khi đó, Thông tư 13/2024/TT-BXD chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn quy trình kỹ thuật kiểm kê, đo đạc, báo cáo và thẩm định giảm phát thải KNK ở cấp lĩnh vực và cơ sở thuộc ngành Xây dựng, bao gồm cả các tòa nhà thương mại, dịch vụ. Do đó, cần phải xây dựng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn đối với công trình Zeb để tạo điều kiện cho việc triển khai công trình tự cân bằng năng lượng (văn bản pháp lý cần định nghĩa rõ về công trình Zeb). Việt Nam cần khẩn trương xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia cho CTX, công trình Zeb trên cơ sở hài hòa với các hệ thống quốc tế như EDGE[16], LEED[17],... “Cần sớm xây dựng và triển khai thực hiện quy trình đánh giá, chứng nhận, cấp chứng chỉ cho vật liệu, thiết bị, công trình Zeb bằng các con số, định lượng cụ thể. Khi đã xây dựng được tiêu chí, tiêu chuẩn thì sẽ có quy trình đánh giá và xác định cơ quan có thẩm quyền đánh giá, cấp chứng nhận đối với công trình Zeb”[18]. Những tiêu chuẩn này không chỉ dùng để chứng nhận công trình là “xanh”, mà còn phải đủ chi tiết và định lượng để phục vụ cho việc tính toán, cấp phát quyền phát thải theo phương pháp rõ ràng (ví dụ: tính theo tấn CO2 tương đương giảm được mỗi năm so với công trình thông thường). Đây chính là tiền đề để tích hợp CTX, công trình Zeb vào cơ chế phân bổ hạn ngạch và giao dịch trên thị trường carbon trong nước, đồng thời tương thích với hệ thống tín chỉ quốc tế nếu Việt Nam muốn kết nối thị trường các-bon xuyên biên giới trong tương lai.

Đồng thời, cần phát triển hệ thống tổ chức độc lập có chức năng đánh giá, xác minh mức phát thải giảm được, tương tự như tổ chức xác minh tín chỉ các - bon trong các thị trường quốc tế. Nhà nước đóng vai trò ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn và giám sát, trong khi các tổ chức tư nhân được cấp phép thực hiện hoạt động đánh giá, xác minh. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính khách quan, vừa tận dụng nguồn lực xã hội để hình thành một thị trường dịch vụ xác minh chuyên nghiệp. Trong giai đoạn đầu, có thể triển khai thí điểm theo cơ chế “song hành” giữa một số cơ quan công lập và tổ chức tư nhân được công nhận. Để kiểm soát, pháp luật cần quy định rõ điều kiện về năng lực kỹ thuật, năng lực tài chính và đảm bảo tính độc lập của các tổ chức này. Cơ quan nhà nước (ví dụ Bộ Xây dựng hoặc Bộ Nông nghiệp và Môi trường) sẽ là cơ quan cấp phép, công nhận và công bố danh sách tổ chức được phép thực hiện hoạt động thẩm định, xác minh quyền phát thải. Việt Nam đã có nguồn lực xã hội hóa sẵn (các công ty, đơn vị tư vấn, kiểm toán, thẩm định KNK, các chuyên gia,...), nên việc xây dựng một hành lang pháp lý để họ trở thành tổ chức thẩm định độc lập được công nhận trong thị trường là điều cần thiết và khả thi.

Ngoài ra, để từng bước đưa quyền phát thải trở thành một loại tài sản bảo đảm trong hoạt động tín dụng – ngân hàng, bên cạnh các giải pháp về tiêu chuẩn kỹ thuật để định giá tài sản, cần có giải pháp đồng bộ cả về pháp lý. Cần thiết lập hành lang pháp lý chuyên biệt nhằm làm rõ cơ chế xác lập, đăng ký, định giá và xử lý loại tài sản này. Trước hết, pháp luật cần thừa nhận quyền phát thải, bao gồm cả quyền phát thải hình thành trong tương lai, là một dạng quyền tài sản có thể trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm, tương tự như quy định về thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại Điều 183 Luật Nhà ở 2023. Tiếp đó, cần bổ sung quy định trong Bộ luật Dân sự và các nghị định hướng dẫn về biện pháp bảo đảm, xác định cụ thể cơ chế đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền phát thải tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo đảm tính công khai, minh bạch và khả năng ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm. Các tổ chức tín dụng cũng phải cân nhắc, đo lường mọi rủi ro đối với loại tài sản mới này và có sự chuẩn bị điều kiện về mặt nhân sự thẩm định, nhân sự bán loại tài sản này trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm bên cạnh đội ngũ bán tài sản bảo đảm truyền thống là phương tiện vận tải, bất động sản,…[19].

Thứ ba, thiết lập cơ chế để giao dịch quyền phát thải.

Cần thiết lập cơ chế miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động chuyển giao quyền phát thải, trên cơ sở tôn trọng bản chất kinh tế của loại quyền này. Cụ thể, giá trị quyền phát thải được tạo ra trong suốt vòng đời của CTX, công trình Zeb thực chất là một hình thức hoàn vốn gián tiếp, nhằm bù đắp phần chi phí gia tăng mà CĐT đã bỏ ra để áp dụng các giải pháp thiết kế và công nghệ nhằm giảm phát thải KNK. Cơ chế này cho phép doanh nghiệp thực thi trách nhiệm xã hội mà không làm tăng giá bán sản phẩm, từ đó duy trì sức cạnh tranh trên thị trường. Người nhận chuyển nhượng quyền phát thải – dù ở bất kỳ vòng giao dịch nào – đều đang gánh một phần chi phí đầu tư ban đầu, do đó cũng nên được kế thừa các ưu đãi thuế tương ứng. Do đó, việc áp thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường hợp này sẽ làm giảm động lực của CĐT trong việc triển khai công trình Zeb bởi bản chất là hình thức hoàn vốn gián tiếp để bù đắp chi phí đầu tư ban đầu… Trong trường hợp chính sách có những ưu đãi đặc thù về thuế, về thủ tục pháp lý,… và nhận thấy được lợi ích thực tế thì việc CĐT triển khai công trình này là hoàn toàn khả thi. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy, quyền phát thải được coi là phương thức hoàn vốn cho các khoản đầu tư vào công trình tiết kiệm năng lượng. Nếu việc đầu tư đó mang lại lợi ích xã hội thông qua giảm phát thải KNK, thì thu nhập từ quyền phát thải cần được coi là khoản thu nhập được ưu đãi thuế trên cơ sở khấu trừ hợp lý, không phân biệt chủ thể nắm giữ hay số lần chuyển nhượng. Đây là cách tiếp cận phù hợp để tạo động lực tài chính thực chất và lâu dài cho thị trường công trình xanh/Zeb tại Việt Nam.

5. Kết luận

Việc công nhận và khai thác quyền phát thải tại các CTX, công trình Zeb không chỉ là một hướng đi phù hợp với xu thế phát triển bền vững, mà còn là giải pháp thúc đẩy sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân vào công cuộc giảm phát thải KNK. Quyền phát thải tại các công trình này, nếu được xác lập đầy đủ về mặt pháp lý và tài sản hóa hợp lý, sẽ trở thành động lực tài chính giúp bù đắp, cân bằng chi phí đầu tư ban đầu của CĐT, đồng thời mở ra khả năng sử dụng quyền phát thải làm tài sản bảo đảm hoặc giao dịch trên thị trường các-bon. Để thực hiện được điều đó, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp luật xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan, cơ chế định giá, giao dịch và ưu đãi thuế, từ đó tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho quyền phát thải trở thành một loại tài sản có giá trị trong nền kinh tế xanh.

Tài liệu tham khảo

1.       Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số: 91/2015/QH13)

2.       Luật Bảo vệ Môi trường 2020 (Luật số 72/2020/QH14);

3.       Luật Kinh doanh bất động sản 2023 (Luật số: 29/2023/QH15)

4.       Luật Nhà ở 2023 (Luật số: 27/2023/QH15)

5.       Nghị định 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng

6.       Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

7.       Nghị định 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định về giảm nhẹ phát thải KNK và bảo vệ tầng ô-dôn

8.       Nghị định 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng

9.       Thông tư 13/2024/TT-BXD ngày 20/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về Quy trình, quy định kỹ thuật kiểm kê KNK và đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải KNK ngành Xây dựng

10.   Quyết định 385/QĐ-BXD ngày 12/05/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động của ngành Xây dựng ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050 thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 26 các Bện tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành

11.   Quyết định 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành

12.   Báo Pháp luật TP.HCM, Chứng nhận LEED là gì? Làm thế nào để nhận được chứng nhận LEED?, https://plo.vn/chung-nhan-leed-la-gi-lam-the-nao-de-nhan-duoc-chung-nhan-leed-post797247.html, truy cập ngày 04/9/2025

13.   Dương Thị Chiến, Tổ chức tín dụng và việc hiện thực hoá các nhiệm vụ được giao trong năm 2025, Tạp chí Luật sư Việt Nam điện tử, https://lsvn.vn/to-chuc-tin-dung-va-viec-hien-thuc-hoa-cac-nhiem-vu-duoc-giao-trong-nam-2025-a155704.html, truy cập 12/8/2025

14.   Nguyễn Hữu Dũng, Phát triển công trình xanh và đô thị xanh tại Việt Nam, Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ, số 01/2019, tr. 68-74

15.   Mai Thu Hiền, Dương Huyền Diệp, Trần Tuệ Đan, Thành lập và vận hành hệ thống giao dịch phát thải: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, https://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/thanh-lap-va-van-hanh-he-thong-giao-dich-phat-thai-kinh-nghiem-quoc-te-va-bai-hoc-cho-viet-nam-30267, truy cập ngày 08/4/2025

16.   Nguyễn Huy Khanh, Công trình Net Zero với điều kiện thực tế của Việt Nam, https://baoxaydung.com.vn/cong-trinh-net-zero-voi-dieu-kien-thuc-te-cua-viet-nam-360120.html, truy cập ngày 18/3/2025

17.   Thùy Linh, 150 doanh nghiệp tham gia thị trường carbon Việt Nam, https://thesaigontimes.vn/150-doanh-nghiep-tham-gia-thi-truong-carbon-viet-nam/, truy cập ngày 13/4/2025

18.   Nguyễn Ngọc Khánh Linh, Nguyễn Duy Thanh (2024), Pháp luật về thị trường tín chỉ carbon bắt buộc tại một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 60/2024, tr.30-40

19.   Bích Liên, Sàn chứng khoán Tokyo mở nền tảng giao dịch tín chỉ carbon, https://www.vietnamplus.vn/san-chung-khoan-tokyo-mo-nen-tang-giao-dich-tin-chi-carbon-post901505.vnp, truy cập ngày 14/4/2025

20.   Ministry of Economy,Trade and Industry, “J-Credit Scheme”, https://japancredit.go.jp/english/, truy cập ngày 14/4/2025

21.   Nguyễn Linh Ngọc, Thị trường carbon - Chìa khóa thực hiện mục tiêu NET ZERO, https://tainguyenvamoitruong.vn/thi-truong-carbon-chia-khoa-thuc-hien-muc-tieu-net-zero-cid111593.html, truy cập ngày 04/9/2025

22.   The European Commission, ETS2: buildings, road transport and additional sectors, https://climate.ec.europa.eu/eu-action/eu-emissions-trading-system-eu-ets/ets2-buildings-road-transport-and-additional-sectors_en, truy cập ngày 26/3/2025

23.   The Building and Construction Authority, Green Mark 2021, https://www1.bca.gov.sg/buildsg/sustainability/green-mark-certification-scheme/green-mark-2021, truy cập ngày 26/3/2025

24.   Tạp chí Công thương, Dự án Bệnh viện xanh: Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng & bảo vệ môi trường, https://tapchicongthuong.vn/du-an-benh-vien-xanh-nang-cao-hieu-qua-su-dung-nang-luong--bao-ve-moi-truong-48234.htm, truy cập 27/3/2025

25.   Thuỷ Trương, Việt Nam – nguy cơ không đạt mục tiêu Net zero năm 2050, https://vnexpress.net/viet-nam-nguy-co-khong-dat-muc-tieu-net-zero-nam-2050-4868212.html, truy cập 03/9/2025

26.   Võ Trung Tín (chủ biên) (2024), Xây dựng sàn giao dịch tín chỉ các-bon - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam, NXB. Tài chính, TP. Hồ Chí Minh

27.   Trung tâm Bảo vệ môi trường và Ứng phó biến đổi khí hậu, Chuyên đề 1: Hiểu rõ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon – Cơ hội cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, https://vnnetzero.com/chuyen-de-1-hieu-ro-co-che-trao-doi-bu-tru-tin-chi-carbon-co-hoi-cho-cac-to-chuc-doanh-nghiep-va-ca-nhan/, truy cập 27/3/2025

28.   Viện Quy Hoạch Xây Dựng Hà Nội, IFC – WB khuyến khích công trình xanh với chứng chỉ EDGE, https://vqh.hanoi.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=tin-lien-ket/IFC-WB-khuyen-khich-cong-trinh-xanh-voi-chung-chi-EDGE-582.html, truy cập ngày 04/9/2025

29.   Phùng Thị Yến, Vũ Thị Kiều Trang (2024), Khung pháp lý quốc tế về quyền carbon và quyền phát thải, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 11 (183), tr. 93 – 105

 

[1]Thuỷ Trương, Việt Nam – nguy cơ không đạt mục tiêu Net zero năm 2050, https://vnexpress.net/viet-nam-nguy-co-khong-dat-muc-tieu-net-zero-nam-2050-4868212.html, truy cập 03/9/2025

[2] Phùng Thị Yến, Vũ Thị Kiều Trang (2024), Khung pháp lý quốc tế về quyền carbon và quyền phát thải, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 11 (183), tr. 94 - 95

[3] Nguyễn Ngọc Khánh Linh, Nguyễn Duy Thanh (2024), Pháp luật về thị trường tín chỉ carbon bắt buộc tại một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 60/2024, tr.30

[4] Nguyễn Hữu Dũng (2019), Phát triển công trình xanh và đô thị xanh tại Việt Nam, Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ, số 01, tr. 69

[5] Nguyễn Huy Khanh, Công trình Net Zero với điều kiện thực tế của Việt Nam, https://baoxaydung.com.vn/cong-trinh-net-zero-voi-dieu-kien-thuc-te-cua-viet-nam-360120.html, truy cập ngày 18/3/2025

[6] “Tòa nhà” là các tòa nhà thương mại, dịch vụ được nêu tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK (cập nhật) do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

[7] Ví dụ: Người mua nhà cho rằng họ có quyền với quyền phát thải, vì họ đã trả tiền để mua phần diện tích sở hữu riêng có đóng góp vào hiệu quả giảm phát thải. CĐT hoặc đơn vị vận hành thì cho rằng toàn bộ quyền phát thải thuộc về họ vì họ là bên đầu tư công nghệ và thực hiện thủ tục chứng nhận các-bon. Cơ quan quản lý thì không biết nên giám sát giao dịch quyền này với tư cách là tài sản chung, tài sản riêng, hay thuộc sở hữu CĐT…

[8] Việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai chỉ không áp dụng đối với quyền sử dụng đất. Xem thêm Khoản 4 Điều 10 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.

[9] Trung tâm Bảo vệ môi trường và Ứng phó biến đổi khí hậu, Chuyên đề 1: Hiểu rõ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon – Cơ hội cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, https://vnnetzero.com/chuyen-de-1-hieu-ro-co-che-trao-doi-bu-tru-tin-chi-carbon-co-hoi-cho-cac-to-chuc-doanh-nghiep-va-ca-nhan/, truy cập 27/3/2025

[10] Mai Thu Hiền, Dương Huyền Diệp, Trần Tuệ Đan, Thành lập và vận hành hệ thống giao dịch phát thải: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, https://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/thanh-lap-va-van-hanh-he-thong-giao-dich-phat-thai-kinh-nghiem-quoc-te-va-bai-hoc-cho-viet-nam-30267, truy cập ngày 08/4/2025

[11] The European Commission, ETS2: buildings, road transport and additional sectors, https://climate.ec.europa.eu/eu-action/eu-emissions-trading-system-eu-ets/ets2-buildings-road-transport-and-additional-sectors_en, truy cập ngày 26/3/2025

[12] Ministry of Economy,Trade and Industry, J-Credit Scheme, https://japancredit.go.jp/english/, truy cập ngày 14/4/2025

[13] Bích Liên, Sàn chứng khoán Tokyo mở nền tảng giao dịch tín chỉ carbon, https://www.vietnamplus.vn/san-chung-khoan-tokyo-mo-nen-tang-giao-dich-tin-chi-carbon-post901505.vnp, truy cập ngày 14/4/2025

[14] The Building and Construction Authority, Green Mark 2021, https://www1.bca.gov.sg/buildsg/sustainability/green-mark-certification-scheme/green-mark-2021, truy cập ngày 26/3/2025

[15] Dự án thí điểm được triển khai tại 02 bệnh viện tại Việt Nam, là bệnh viện Nhân dân 115 - TP. Hồ Chí Minh và bệnh viện Việt Đức – Hà Nội. Bằng giải pháp đầu tư thay mới 492 máy điều hòa không khí hiệu suất cao có lắp biến tần, 02 tủ hệ thống quản lý năng lượng và 10 bộ thông gió tận dụng nhiệt thải, đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, tại bệnh viện Nhân dân 115 - TP. Hồ Chí Minh, tiết kiệm được 498.715 kWh, tương đương 740.093.060 đồng và giảm phát thải 310 tấn CO2 mỗi năm và tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức – Hà Nội, tiết kiệm đến 830.261 kWh, tương đương 1,2 tỉ đồng/năm và giảm phát thải 518 tấn CO2/năm, khi đầu tư 526 máy điều hòa không khí, 8 tủ hệ thống quản lý năng lượng, 06 bộ thông gió tận dụng nhiệt thải và 06 bộ quạt đảo gió. Nguồn: Tạp chí Công thương, Dự án Bệnh viện xanh: Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng & bảo vệ môi trường, https://tapchicongthuong.vn/du-an-benh-vien-xanh-nang-cao-hieu-qua-su-dung-nang-luong--bao-ve-moi-truong-48234.htm, truy cập 27/3/2025

[16] Hệ thống chứng chỉ EDGE (Excellence in Design for Greater Efficiencies) của IFC (thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới) là hệ thống chứng chỉ tự nguyện mang tính toàn cầu cho công trình sử dụng tài nguyên hiệu quả, đưa đến những giải pháp kỹ thuật xanh, đồng thời có khả năng giảm chi phí đầu tư và tiết kiệm của công trình. Được công nhận và triển khai ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, EDGE khuyến khích áp dụng các giải pháp thiết kế kỹ thuật hiệu quả cho công trình với những tính toán chi phí đầu tư và mức tiết kiệm tương ứng để CĐT lựa chọn mức độ “xanh” của công trình. Để đạt Chứng chỉ EDGE, các CĐT sẽ phải chứng minh công trình của mình có tiềm năng giảm mức tiêu thụ năng lượng, nước và năng lượng dùng để sản xuất vật liệu ít nhất là 20% so với một công trình điển hình. Nguồn: Viện Quy Hoạch Xây Dựng Hà Nội, IFC – WB khuyến khích công trình xanh với chứng chỉ EDGE, https://vqh.hanoi.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=tin-lien-ket/IFC-WB-khuyen-khich-cong-trinh-xanh-voi-chung-chi-EDGE-582.html, truy cập ngày 04/9/2025

[17] LEED certification (chứng nhận LEED - Viết tắt của Leadership in Energy & Environmental Design) là hệ thống đánh giá và chứng nhận quốc tế cho các công trình xây dựng xanh do tổ chức Công trình Xanh Hoa Kỳ (USGBC - U.S Green Building Council) sáng lập vào năm 1995. Mục tiêu của LEED là thúc đẩy việc thiết kế, xây dựng và vận hành các tòa nhà thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Để đạt được chứng nhận LEED, công trình cần đáp ứng các tiêu chí đánh giá trong 06 hạng mục cụ thể như: Thiết kế kiến trúc, Vật liệu xây dựng, Hiệu quả năng lượng, Chất lượng nước, Môi trường trong nhà, Đổi mới thiết kế và sáng tạo. Theo ước tính của USGBC, các công trình LEED có thể tiết kiệm trung bình 20% chi phí năng lượng, 30% chi phí nước và 10% chi phí vận hành và bảo trì. Nguồn: Báo Pháp luật TP.HCM, Chứng nhận LEED là gì? Làm thế nào để nhận được chứng nhận LEED?, https://plo.vn/chung-nhan-leed-la-gi-lam-the-nao-de-nhan-duoc-chung-nhan-leed-post797247.html, truy cập ngày 04/9/2025

[18] Dương Thị Chiến, “Đâu là giải pháp để triển khai các công trình Zeb và tiến đến Net Zero trong lĩnh vực xây dựng”, https://lsvn.vn/dau-la-giai-phap-de-trien-khai-cac-cong-trinh-Zeb-va-tien-den-net-zero-trong-linh-vuc-xay-dung-1714651768-a143279.html, truy cập ngày 3/9/2025

[19] Dương Thị Chiến, Tổ chức tín dụng và việc hiện thực hoá những nhiệm vụ được giao trong năm 2025, Tạp chí Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/to-chuc-tin-dung-va-viec-hien-thuc-hoa-cac-nhiem-vu-duoc-giao-trong-nam-2025-a155704.html, truy cập 12/8/2025

Thạc sĩ DƯƠNG THỊ CHIẾN

Công ty Luật TNHH Pros Legal

 

Các tin khác