/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định về xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong tỏa trong quá trình xét xử

Góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định về xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong tỏa trong quá trình xét xử

10/02/2026 06:04 |

(LSVN) - Hiện nay, Tòa án nhân dân Tối cao đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định về xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong tỏa trong quá trình xét xử (gọi tắt là dự thảo). Các quy định trong dự thảo cơ bản bảo đảm tính hợp pháp, tính phù hợp, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử, tuy nhiên vẫn còn một số điểm chưa thật sự rõ ràng và hợp lý. Trong bài viết, tác giả đưa ra một số ý kiến góp phần hoàn thiện dự thảo.

1. Về các trường hợp “Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được”

Khoản 2 Điều 3 dự thảo đã liệt kê các trường hợp vật chứng được coi là “không có giá trị hoặc không sử dụng được” bao gồm 04 trường hợp, trong đó tồn tại một số vấn đề như sau:

Vật đã bị hỏng, hư hại nặng mà không thể sửa chữa, không có thiết bị hay linh kiện thay thế. Có hai quan điểm hiểu khác nhau về quy định này:

Quan điểm thứ nhất hiểu rằng, vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được là vật đã bị hỏng, hư hại nặng. Xác định tình trạng “hỏng, hư hại nặng” được dựa trên căn cứ “không thể sửa chữa, không có thiết bị hay linh kiện thay thế”. Nếu hiểu theo quan điểm này, sẽ giải quyết được việc xác định mức độ nặng hay nhẹ của “vật bị hỏng, hư hại”, nhưng lại không thật sự chính xác so với ngữ nghĩa của câu, bởi nguyên văn quy định dùng từ “mà” chứ không phải từ “là”.

Quan điểm thứ hai hiểu dựa trên ngữ nghĩa tiếng Việt, để xác định vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thuộc trường hợp này phải xác định đủ đồng thời hai điều kiện “vật bị hỏng, hư hại nặng” và “không thể sửa chữa, không có thiết bị hay linh kiện thay thế”. Bởi dự thảo sử dụng từ “mà” giữa hai vế nên cần hiểu phải đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện thì mới thuộc trường hợp này. Tuy nhiên, nếu hiểu theo hướng này thì sẽ rất khó khăn trong việc xác định “vật bị hỏng, hư hại nặng” bởi không có hướng dẫn thế nào là nặng, thế nào là nhẹ.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Chưa hết, cho dù hiểu theo quan điểm thứ nhất hay quan điểm thứ hai, thì vấn đề xác định thế nào là “không có thiết bị hay linh kiện thay thế” cũng rất khó khăn. Thiết bị hay linh kiện thay thế có đòi hỏi phải “giống 100%” so với hư hỏng hay không? Hiện nay tồn tại rất nhiều các hãng sản xuất nhưng chỉ dùng thiết bị, linh kiện của chính hãng đó, mỗi khi hư hỏng thì bắt buộc phải gửi về tận hãng để sửa chữa; chưa kể những vật được nhập khẩu, trong nước không thể có linh kiện đó. Hay chỉ cần có bất kỳ thiết bị, linh kiện nào có thể thay thế để cho vật gốc có thể hoạt động, phát huy tính năng của nó mặc dù không giống hoàn toàn thiết bị, linh kiện bị thay thế.

Do đó, cần thiết phải sửa đổi quy định này để khắc phục các hạn chế nêu trên. Theo đó, tác giả đề xuất không cần thiết quy định hỏng, hư hại nặng mà giải thích luôn “Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được là… a, Vật đã bị hỏng, hư hại đến mức không thể sửa chữa; không có thiết bị hay linh kiện thay thế để vật phát huy được tính năng, tác dụng”.

Cũng được coi là vật chứng không có giá trị sử dụng đối với hàng hóa, máy móc, thiết bị đã hết hạn sử dụng bao gồm…:

Đối với hàng hóa đã hết hạn sử dụng, nội dung này đã được quy định tại điểm c “Vật là hàng giả, hàng quá hạn sử dụng” nên không cần thiết quy định lại tại điểm d. Đối với máy móc, thiết bị đã hết hạn sử dụng thì việc hết hạn sử dụng này có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, trường hợp hết hạn sử dụng do điều kiện kiểm định mà chưa thực hiện việc kiểm định. Trong khi đó, quy định đối với vật không có giá trị hoặc không sử dụng được thì phải tịch thu tiêu hủy. Nhưng rõ ràng máy móc, thiết bị đó vẫn có giá trị sử dụng, thậm chí còn hoạt động tốt so với chức năng, tính năng mà phải tiêu hủy thì sẽ gây ra lãng phí, không đáp ứng nguyên tắc xử lý vật chứng. Do đó, tác giả kiến nghị loại trừ trường hợp này ra khỏi điểm d khoản 2 Điều 3 dự thảo. Sau khi sửa đổi, điểm d khoản 2 Điều 3 dự thảo còn lại “d, Cũng được coi là vật chứng không có giá trị sử dụng đối với máy móc, thiết bị đã hết hạn sử dụng trừ trường hợp hết hạn do không thực hiện việc kiểm định bao gồm: Vật vẫn có giá trị quy đổi thành tiền (bán phế liệu); vật không có giá trị quy đổi thành tiền”.

2. Về xử lý vật chứng là tài sản chung

Việc xử lý vật chứng là tài sản chung được quy định tại Điều 5 dự thảo theo hai phương án.

Phương án 1 xem xét tịch thu theo phần tài sản của bị cáo trong khối tài sản chung.

Phương án 2 tịch thu toàn bộ tài sản chung và giải quyết tài sản của người khác trong khối tài sản chung thông qua giải quyết vấn đề dân sự.

Phương án 2 được đưa ra trên cơ sở quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 là phải tịch thu bởi đây là công cụ, phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, xét ở góc độ toàn diện, tác giả cho rằng quy định theo phương án 1 sẽ phù hợp và khả thi hơn.

Về căn cứ pháp lý, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 quy định “Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu”. Quy định này nêu rõ ngay cả trường hợp người khác đó phải có lỗi thì vẫn chỉ “có thể” tịch thu hoặc không. Do đó, việc xem xét yếu tố lỗi của người khác có tài sản chung trong khối tài sản chung với bị cáo trong việc để bị cáo sử dụng khối tài sản chung đó vào việc phạm tội là có căn cứ pháp luật. Đồng thời, việc xem xét này còn thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật trong việc ghi nhận quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản của mình, họ có quyền định đoạt và chỉ khi họ thực hiện quyền định đoạt, họ mới phải chịu trách nhiệm cho việc định đoạt đó.

Tuy nhiên, theo phương án 1 mà dự thảo đưa ra, vật chứng là tài sản chung hợp nhất không phân chia được và là tài sản duy nhất của gia đình, nếu bị tịch thu có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thành viên trong gia đình thì có thể xem xét không tịch thu. Như vậy, ngoài việc xác định vật chứng là tài sản chung hợp nhất không phân chia được, thì còn phải xác định đây là tài sản duy nhất của gia đình, nếu tài sản duy nhất này bị tịch thu thì có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thành viên trong gia đình. Việc quy định như vậy dẫn đến cùng lúc, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá rất nhiều vấn đề để xem xét, chưa kể những vấn đề này rất chung chung, rất khó xác định. Như thế nào là ảnh hưởng nghiêm trọng? Ảnh hưởng nghiêm trọng này phải ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả các thành viên trong gia đình hay không? Thành viên trong gia đình có bao gồm ông, bà, cha, mẹ sống cùng hay không? Theo tờ trình dự thảo do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học ban hành, cơ quan soạn thảo Nghị quyết nhất trí phương án 1 nhằm bảo đảm việc xử lý vật chứng được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, khơi thông nguồn lực phát triển… Do đó, tác giả cho rằng để bảo đảm mục tiêu “khơi thông nguồn lực phát triển”, đồng thời khắc phục hạn chế nêu trên, không cần thiết đặt ra quá nhiều điều kiện để xem xét không tịch thu mà chỉ cần xác định đó là tài sản chung hợp nhất không phân chia được thì đã đủ cơ sở xem xét không tịch thu. Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 5 (theo phương án 1) thành “Vật chứng là tài sản chung hợp nhất không phân chia được thì có thể xem xét không tịch thu nhưng phải buộc bị cáo nộp lại phần giá trị tài sản của mình thuộc sở hữu chung hợp nhất vào ngân sách nhà nước”.

3. Về xử lý vật chứng của hai hoặc nhiều vụ án độc lập

Đối với tài liệu, đồ vật là vật chứng của hai hoặc nhiều vụ án độc lập, theo quy định tại khoản 8 Điều 7 dự thảo, khi xét xử phải tuyên tạm giữ vật chứng đó để làm căn cứ xem xét giải quyết ở các vụ án khác có liên quan; việc thi hành xử lý vật chứng chỉ được tiến hành khi tất cả các vụ án liên quan đã được xét xử và tất cả bản án, quyết định đã có hiệu lực. Có rất nhiều trường hợp các vụ án có chung vật chứng do được tách, thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan khác nhau, việc dự liệu quy định xử lý vật chứng trong trường hợp này là rất cần thiết. Theo đó, “khi xét xử phải tuyên tạm giữ vật chứng”, quy định này sẽ khiến cho người đọc hiểu lầm và cơ quan, người tiến hành tố tụng có thể nhầm lẫn khi áp dụng. Rõ ràng, trong các hình thức xử lý được BLTTHS, BLHS và ngay dự thảo quy định cũng không có hình thức xử lý nào là “tạm giữ vật chứng”. Thực chất, quy định này không buộc Tòa án phải tuyên trong bản án về việc xử lý vật chứng với nội dung “tạm giữ vật chứng (ví dụ cây gậy gỗ…) để làm căn cứ giải quyết ở các vụ án khác” mà phải hiểu quy định này có nghĩa, Tòa án vẫn xử lý vật chứng theo các hình thức được quy định (ví dụ tịch thu, trả lại…), nhưng sau đó phải tuyên thêm nội dung chưa xử lý vật chứng ngay mà phải được tạm giữ lại để chờ khi các vụ án có liên quan đến vật chứng đó được xét xử và các bản án, quyết định đã có hiệu lực. Lúc này, vật chứng mới được xử lý theo đúng hình thức đã tuyên trong bản án xét xử ban đầu. Do đó, cần phải nghiên cứu chỉnh sửa lại cho rõ ràng, tạo thuận lợi khi áp dụng trong thực tế.

Ngoài ra, cần phải bổ sung quy định để tránh tình trạng trùng lặp khi xử lý vật chứng. Căn cứ vào quy định nêu trên, vật chứng sẽ được tạm giữ lại để phục vụ cho việc xét xử các vụ án có liên quan. Nhưng nếu khi xét xử vụ án có liên quan, mà trong bản án tiếp tục đề cập và quyết định việc “xử lý vật chứng đối với chính vật chứng đã xử lý ở bản án trước” thì khi các bản án có hiệu lực, việc thi hành sẽ rất lúng túng. Bởi lẽ, các vụ án mặc dù có chung vật chứng, nhưng có trường hợp các vụ án này hoàn toàn độc lập về mặt nội dung, tội danh; do đó, bản chất của vật chứng cũng thuộc các nhóm khác nhau. Ở vụ án này vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng ở vụ án khác vật chứng lại là tài sản do phạm tội mà có. Khi các Tòa án khác nhau xét xử, việc thi hành bản án về xử lý vật chứng cũng do các cơ quan thi hành án khác nhau thi hành. Vậy khi các bản án đều có hiệu lực, đều tuyên về xử lý cùng một vật chứng thì sẽ xảy ra xung đột trong việc xác định cơ quan thi hành án nào có quyền hạn, nhiệm vụ thi hành. Vì vậy, cần có quy định cụ thể để tránh xảy ra trường hợp này. Tác giả đề xuất sửa đổi quy định tại khoản 8 Điều 7 dự thảo như sau: “Đối với tài liệu, đồ vật là vật chứng của hai hoặc nhiều vụ án độc lập, khi xét xử, ngoài việc tuyên xử lý vật chứng theo quy định pháp luật thì phải tuyên tạm giữ vật chứng đó để làm căn cứ xem xét, giải quyết ở các vụ án khác có liên quan; việc thi hành xử lý vật chứng chỉ được tiến hành khi tất cả các vụ án liên quan đã được xét xử và tất cả bản án, quyết định đã có hiệu lực”./.

VĂN LINH

Tòa án Quân sự khu vực Hải quân

Các tin khác