Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích về quyền của người bào chữa về việc hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Điểm b khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định của người bào chữa về việc hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can “b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can”.
Quyền này trước đây được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003, theo đó người bào chữa “Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”.
So với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về quyền của người bào chữa trong việc hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhiều điểm mới như bổ sung thêm đối tượng lấy lời khai là người bị bắt; thay đổi cụm từ “nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi” thành nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; bổ sung quy định sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, quy định này trước đây chưa cụ thể gây ra nhiều vướng mắc, bất cập. Đây là một sửa đổi, bổ sung kịp thời của BLTTHS hiện hành, bởi lẽ người có thẩm quyền lấy lời khai, hỏi cung không chỉ có Điều tra viên mà còn có cả Kiểm sát viên tham gia, nếu như Kiểm sát viên không đồng ý thì người bào chữa sẽ không được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, với quy định như trước đây đã vô hình chung hạn chế quyền của người bào chữa, ảnh hưởng phần nào đến việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Đối với quyền của người bào chữa về việc hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can cả hai Bộ luật tố tụng hình sự trước đây và hiện nay đều giữ nguyên quy định “nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can”. Nghiên cứu về quy định này, tác giả thấy rằng: Do người bào chữa đã chủ động có các buổi gặp, làm việc riêng với người bị buộc tội theo điểm a khoản 1 Điều 73 BLTTHS, nên trong buổi gặp do Điều tra viên, Kiểm sát viên tiến hành, người bào chữa chỉ hỏi khi được họ đồng ý.. Thực tế cho thấy, việc quy định người bào chữa có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung và nếu người có thẩm quyền đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa. Bởi vì, người bào chữa tham gia tố tụng hình sự với nhiệm vụ và mục đích góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Nếu chỉ khi người có thẩm quyền đồng ý mới được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can sẽ không bao quát, chưa phát huy hết nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội trong những trường hợp cần thiết khác, ví dụ: Khi người bào chữa nhận thấy người bị buộc tội trình bày lời khai không đúng với bản chất hành vi của mình gây ra, hoặc do nguyên nhân khách quan khác mà trình bày lời khai không có lợi cho mình…
Từ những phân tích như trên, tác giả kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật liên quan đến quy định này như sau: Kiến nghị bổ sung cụm từ “Hoặc trong trường hợp cần thiết” vào điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS. Điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS sau khi sửa đổi, bổ sung đó là “b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý hoặc trong trường hợp cần thiết thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can”. Đồng thời với việc kiến nghị hoàn thiện BLTTHS như trên, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng xác định như thế nào là “trong trường hợp cần thiết” nhằm bảo đảm phát huy hiệu quả nguyên tắc áp dụng quy định có lợi đối với người phạm tội. Trên đây là ý kiến nghiên cứu của tác giả, rất mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc và đồng nghiệp.
Tài liệu tham khảo
1. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tác giả GS.TS Nguyễn Ngọc Anh; Luật sư, TS Phan Trung Hoài; NXB Chính trị quốc gia sự thật.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;
3. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Thạc sĩ PHÙNG VĂN HOÀNG
Tòa án Quân sự Khu vực Quân khu 1

