Trước đây, Mục 2 và Mục 3 Chương XII về “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 quy định nhóm các biện pháp hình sự phi hình phạt áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Tuy nhiện, Luật TPNCTN được ban hành ngày 30/11/2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đã bãi bỏ Chương XII nêu trên trong BLHS 2015. Vì vậy, các biện pháp mang tính chất biện pháp hình sự phi hình phạt đối với với NCTN phạm tội hiện nay bao gồm biện pháp bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 49 BLHS 2015 và các biện pháp xử lý chuyển hướng tại Điều 36 và các điều từ Điều 40 đến Điều 51 Luật TPNCTN năm 2024. Trong đó, các biện pháp xử lý chuyển hướng bao gồm biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và 11 biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, đó là: Khiển trách; xin lỗi bị hại, bồi thường thiệt hại, giáo dục tại xã, phường, quản thúc tại gia đình, hạn chế khung giờ đi lại, cấm tiếp xúc người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới; cấm đến những địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới; tham gia chương trình học tập, dạy nghề; tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý và thực hiện công việc phục vụ cộng đồng.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội được thiết kế theo hướng tổng hợp và gắn kết, trong đó mỗi biện pháp mang một đặc điểm riêng nhưng cùng hướng đến mục tiêu phòng ngừa trực tiếp hành vi phạm tội, thông qua việc điều chỉnh hành vi, hỗ trợ tâm lý, giáo dục nhận thức và tạo cơ hội tái hòa nhập. Việc quy định các biện pháp xử lý chuyển hướng thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự, phù hợp với triết lý “phúc lợi”, “phục hồi” và “cộng đồng”. Do đây là một nội dung mới được quy định trong Luật TPNCTN nên việc áp dụng các quy định về xử lý chuyển hướng trong thực tiễn còn gây nhiều lúng túng cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong nội dung bài viết, tác giả sẽ hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng, đồng thời chỉ ra các đặc điểm nổi bật của từng nhóm và tồn tại, hạn chế để góp phần nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp này.
1. Nhóm các biện pháp mang tính chất giáo dục, phục hồi; bao gồm: Khiển trách, xin lỗi bị hại, bồi thường thiệt hại
Đây là những biện pháp xử lý chuyển hướng có mức độ can thiệp thấp, chủ yếu nhằm định hướng lại hành vi, nhấn mạnh yếu tố nhận thức, trách nhiệm và sự tự giác cải tạo của người chưa thành niên phạm tội.
- Biện pháp khiển trách: Được áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội không nghiêm trọng, người chưa thành niên có thái độ ăn năn hối cải và có môi trường gia đình thuận lợi để hỗ trợ quá trình sửa chữa hành vi. Mục tiêu chính của biện pháp này là giáo dục, nhắc nhở và phòng ngừa tái phạm thông qua việc giúp NCTN nhận thức rõ sai lầm mà không cần áp dụng các biện pháp nghiêm khắc hơn. Ngoài Tòa án, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát cũng có thẩm quyền áp dụng trong một số trường hợp nhất định theo quy định tại Điều 52 Luật TPCNTN. Quy định này thể hiện tính linh hoạt và chủ trương can thiệp sớm, ngay từ giai đoạn điều tra hoặc truy tố, nhằm giảm thiếu tối đa việc đưa NCTN vào quy trình xét xử hình sự kéo dài và phức tạp. Tuy nhiên, biện pháp khiển trách hiện chủ yếu mang tính nhắc nhở chính thức, chưa đi kèm các quy định cụ thể về lập bản cam kết sửa đổi hành vi, cũng như thiếu cơ chế giám sát sau khi áp dụng. Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp khiển trách cũng phải có sự đồng ý bằng văn bản của NCTN phạm tội; quy định này đảm bảo tính tự nguyện, tạo yếu tố nhận thức và thái độ hợp tác của NCTN trong quá trình phục hồi.
- Biện pháp xin lỗi bị hại: là biện pháp mang tính nhân đạo và phục hồi, nhắm khuyến khích NCTN phạm tội nhận lỗi, thể hiện thiện chí và mong muốn được tha thứ từ phía người bị hại. Biện pháp nà có thể được thi hành ngay tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc tại phiên tòa.
- Biện pháp bồi thường thiệt hại: Đây là biện pháp có tính chất khắc phục hậu quả vật chất và tinh thần mà hành vi phạm tội của NCTN gây ra cho bị hại. Biện pháp này có thể do chính NCTN hoặc cha, mẹ của họ thực hiện với nội dung bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm hoặc tài sản. Việc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại mang tính phòng ngừa tội phạm một cách trực tiếp.
2. Nhóm các biện pháp mang tính giám sát, giáo dục tại cộng đồng, bao gồm: Giáo dục tại xã, phường; quản thúc tại gia đình; hạn chế khung giờ đi lại; cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến NCTN phạm tội mới; cấm đến các địa điểm có nguy cơ dẫn đến NCTN phạm tội mới
Đây là các biện pháp này thể hiện chủ trương xử lý người phạm tội trong cộng đồng, hạn chế tối đa việc cách ly khỏi môi trường tự nhiên- một định hướng phù hợp với tâm lý, nhu cầu phát triển và cơ hội tái hòa nhập của NCTN. Tuy nhiên, các quy định hiện nay mới chỉ tập trung về tính giám sát hành vi mà chưa có biện pháp hỗ trợ toàn diện. Phần lớn các biện pháp trong nhóm này tập trung vào kiểm soát không gian, thời gian các mối quan hệ của NCTN phạm tội, chưa chú trọng đến các yếu tố hỗ trợ tâm lý, phát triển kỹ năng các nhân, hướng nghiệp hoặc đồng hành phục hồi lâu dài. Ngoài ra, thời hạn áp dụng các biện pháp cũng được quy định theo khung cứng, thiếu tính linh hoạt để điều chỉnh theo quá trình tiến độ thực tế của NCTN. Điều này có thể khiến một số trường hợp áp dụng kéo dài không cần thiết hoặc chấm dứt từ sớm mà chưa đạt hiệu quả mong muốn.
3. Nhóm biện pháp mang tính chất giáo dục, cải thiện, bao gồm: Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề (Điều 48) và thực hiện công việc phục vụ cộng đồng (Điều 50)
Nhóm biện pháp này có tính giáo dục- xã hội cao, hướng đến mục tiêu bền vững trong việc thay đổi nhận thức, phát triển kỹ năng, từ đó, góp phần hỗ trợ NCTN tái hòa nhập và phòng ngừa tái phạm một cách tích cực.
- Biện pháp tham gia chương trình học tập, dạy nghề: Biện pháp này buộc NCTN phạm tội phải tham gia các nội dung học tập về pháp luật, đạo đức, nghĩa vụ công dân, kỹ năng sống, hoặc học nghề tại các cơ sở giáo dục hoặc giáo dục nghề nghiệp do cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn. Thời hạn áp dụng không quá 01 năm. Biện pháp này không chỉ nhấn mạnh yếu tố giáo dục pháp lý mà còn mở rộng phạm vi phục hồi theo hướng phát triển năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho NCTN có định hướng nghề nghiệp và tái hòa nhập xã hội lành mạnh. Đồng thời cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm phối với người giám sát thi hành quyết định, tạo nên mối liên hệ giữa hệ thống tư pháp và hệ thống giáo dục pháp luật trong thực hiện biện pháp tư pháp này. Đây chính là một điểm tiến độ trong tư duy lập pháp.
- Biện pháp thực hiện công việc cộng đồng: Đây là biện pháp thể hiện tính nhân văn và trách nhiệm xã hội rõ nét. NCTP phạm tội sẽ phải thực hiện các công việc như trồng cây, làm sạch đường phố, hỗ trợ người yếu thế hoặc tham gia các hoạt động tình nguyện tại địa phương. Tổng thời gian thực hiện từ 20 đến 80 giờ, không quá 04 giờ mỗi ngày và không quá 03 tháng. Quy định định thể hiện quan tâm đến quyền lợi học tập và sức khỏe của NCTN, đồng thời đảm bảo không gây kỳ thị hay ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý người thực hiện. Bản chất của biện pháp này không phải là trừng phạt mà là khuyến khích sự tham gia tích cực của NCTN vào các hoạt động có ích, từ đó hình thành trách nhiệm công dân, khơi gợi lòng vị tha và sự kết nối xã hội.
4. Nhóm biện pháp điều trị hoặc tư vấn tâm lý
Đây là nhóm biện pháp hỗ trợ phục hội và phòng ngừa tái phạm, áp dụng đối với những NCTN có dấu hiệu rối loạn tâm lý, hành vi. Biện pháp này thể hiện tư duy tiến bộ trong chính sách xử lý NCTN phạm tội, hướng đến phục hồi sức khỏe tâm thần và hỗ trợ tái hòa nhập thay vì trừng phạt. Theo quy định tại khoản 3 Điều 39 Luật TPNCTN; biện pháp điều trị hoặc tư vấn tâm lý chỉ được áp dụng khi có sự đồng ý bằng văn bản của NCTN phạm tội, nhằm đảm bảo quyền tự do cá nhân và sự tự nguyện trong quá trình phục hồi. Quy định này phù hợp trong các trường hợp NCTN có đủ năng lực nhận thức và hành vi, có khả năng hiểu rõ tình trạng sức khỏe của bản thân và hợp tác trong điều trị.
5. Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Đây là biện pháp có tính cách ly, được xem như một phương án thay thế cho hình phạt tù, được áp dụng trong các trường hợp hành vi vi phạm có mức độ nghiêm trọng hơn và đòi hỏi sự can thiệp ở mức cao hơn trong hệ thống phục hồi. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai biện pháp này ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế. Hệ thống trường giáo dưỡng hiện chưa có cơ chế phân loại đối tượng rõ ràng theo độ tuổi, mức độ vi phạm, tình trạng tâm lý hoặc điều kiện phục hồi mà chỉ áp dụng chung cho nhiều nhóm đối tượng NCTN với đặc điểm nhân thân khác biệt. Chương trình giáo dục tại các cơ sở này còn nặng nề về kỷ luật và quản lý, mang tính nghiêm khắc cao, trong khi chưa chú trọng đầy đủ đến các yếu tố phục hồi cá nhân như trị liệu tâm lý, đào tạo nghề hoặc hỗ trợ tái hòa nhập sau khi kết thúc quá trình giáo dưỡng. Không chỉ vậy, việc áp dụng biện pháp này được quy định cứng, không linh hoạt theo tiến độ phục hồi thực tế của NCTN. Bên cạnh đó, thiếu cơ chế đánh giá định kỳ để xem xét khả năng điều chỉnh thời gian giáo dưỡng cũng làm giảm hiệu quả trong quá trình cá nhân hóa biện pháp phục hồi.
Từ những đặc điểm được phân tích trên, có thể thấy hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng trong Luật TPNCTN được quy định tương đối rõ ràng; gắn nguyên tắc cá thể hóa trong xử lý hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do một số biện pháp như “quản thúc tại gia đình”, “hạn chế khung giờ đi lại” hay “tham gia tư vấn tâm lý”… tuy đã được quy định trong luật nhưng phần lớn mới dừng lại ở mức mô tả sơ lược, thiếu quy trình thực hiện cụ thể, chưa có quy định rõ về cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan cũng như cách thức đánh giá sau khi áp dụng. Do đó, để các biện pháp này thực sự phát huy được mục tiêu giáo dục, cải thiện hành vi và hỗ trợ tái hòa nhập cho người chưa thành niên cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý lẫn cơ chế tổ chức thực hiện. Ngoài ra, cần sớm xây dựng và ban hành đầy đủ các văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng về các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với NCTN phạm tội để đảm bảo thực hiện hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển tư pháp NCTN.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật Hình sự năm 2015;
2. Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024;
3. Nguyễn Hòa Bình (2024), “Những định hướng lớn trong xây dựng Luật Tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản;
4. Hoàng Xuân Châu (2025), “Những điểm mới của Luật TPNCTN năm 2024 và những vấn đề đặt ra khi triển khai thực hiện”, Tạp chí Thanh niên Việt Nam.
TRẦN MẠNH TUẤN
Tòa án Quân sự Khu vực Quân khu 2.

