Theo đó, tại báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ Công an cho hay, theo quy định hiện hành tại khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự, người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) nếu không tố giác tội phạm do thân chủ của mình đang chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đối với các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng (trừ các tội "Xâm phạm an ninh quốc gia"). Quy định này được thiết kế nhằm bảo đảm nguyên tắc bảo mật thông tin và sự tin cậy tuyệt đối giữa luật sư và thân chủ, một yếu tố cốt lõi để bảo đảm quyền bào chữa.
Tuy nhiên, theo Bộ Công an (cơ quan soạn thảo hồ sơ), quy định này đã không còn phù hợp.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Cơ quan soạn thảo cho rằng, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng để bào chữa cho thân chủ thì hành vi phạm tội đã diễn ra trước đó, người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ liên quan đến hành vi thân chủ của họ đã thực hiện trước đó nên không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ không tố giác tội phạm liên quan đến hành vi này là hợp lý.
Tuy nhiên, với những hành vi phạm tội mà thân chủ của người bào chữa chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện (phạm một tội mới hoặc tiếp diễn hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó) không còn là nội dung thuộc phạm vi nhiệm vụ của người bào chữa. Trong trường hợp này, nếu người bào chữa không tố giác đối với các hành vi này sẽ vi phạm nguyên tắc của pháp luật hình sự “mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời”.
Do vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa về hành vi không tố giác các tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện là không hợp lý.
Từ lập luận trên, dự thảo đề xuất điều chỉnh theo hướng thu hẹp phạm vi miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với luật sư, người bào chữa nhằm cân bằng giữa đạo đức nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư với trách nhiệm bảo vệ an toàn xã hội và ngăn chặn tội phạm từ sớm, từ xa phù hợp với tinh thần "lấy phòng ngừa là chính". Cùng với đó, tăng khả năng can thiệp sớm, tạo cơ sở pháp lý chặt hơn để ngăn chặn tội phạm nghiêm trọng trước khi hậu quả xảy ra.

