“Cơ sở lý luận trong nhận thức về Chính phủ linh hoạt trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay” là đề tài nghiên cứu của hai tác giả: GS.TS.NGƯT Nguyễn Hữu Khiển (nguyên Phó Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia) và ThS Nguyễn Nguyên Hùng (Trường Đại học Lâm nghiệp). Các tác giả cho rằng, trong bộ máy nhà nước, yêu cầu chung thì cơ quan nào cũng cần sự linh hoạt do đặc trưng từng loại hình tổ chức và chức năng xã hội của nhà nước. Tuy nhiên, trong hoạt động của Chính phủ với vị trí là cơ quan hành pháp, cơ quan hành chính cao nhất, tính linh hoạt có thể gọi là đặc trưng riêng có, cần có và phải luôn sẵn sàng thể hiện, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay. Bài viết đi sâu phân tích quan điểm nhận thức về “chính phủ linh hoạt”; luận giải các yếu tố đặc trưng, cấu thành tính linh hoạt của Chính phủ, đồng thời chỉ ra một số vấn đề cần thiết để đáp ứng yêu cầu linh hoạt của Chính phủ.

GS.TS Võ Khánh Vinh, TS Hoàng Anh Tuyên (Trường Đại học Kiểm sát) có bài “Các định hướng chính sách tổng thể hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành”. Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự là yêu cầu quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách pháp luật, cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người ngày càng cao, việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự cần được tiếp cận trên cơ sở các định hướng chính sách tổng thể, đồng bộ và hiện đại. Bài viết tập trung phân tích các định hướng chính sách cơ bản trong hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, qua đó góp phần làm rõ cơ sở cho việc tiếp tục xây dựng nền tố tụng hình sự dân chủ, công bằng, hiện đại và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
TS Trần Quang Huy (Trường Đại học Phenikaa) có bài “Thực trạng pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam”. Quyền sở hữu nhà ở là một trong các quyền dân sự, thương mại quan trọng của mỗi con người. Quyền sở hữu nhà ở của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam. Vậy quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ được bảo hộ như thế nào và có những vấn đề gì cần lưu ý về việc mua bán, xác lập quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Bài viết góp phần làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản mã hóa tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số” là bài của nhóm nghiên cứu ở Học viện Tòa án. Qua việc phân tích thực trạng quản lý tài sản mã hóa ở nước ta hiện nay, các tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tài sản mã hóa tại Việt Nam trong nền kinh tế số.
TS Vũ Thế Hoài (Trường Đại học Sài Gòn) có bài “Tác động của Nghị quyết 98/2023/QH15 đối với việc đầu tư phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”. Bài viết tập trung phân tích tác động của Nghị quyết này trong việc đầu tư phát triển các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Qua đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về việc thực hiện xã hội hóa, thu hút nguồn lực kinh tế tư nhân phát triển các dự án nhà ở xã hội, góp phần tăng cường thực thi có hiệu quả Nghị quyết này trong thời gian tới.
“Nguyên tắc competence- competence trong tranh chấp chuỗi cung ứng toàn cầu: Phân tích so sánh và định hướng hoàn thiện pháp luật trong nước” là bài của TS Đinh Khương Duy (Trường Kinh tế, luật và quản lý nhà nước - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh). Bài viết phân tích giới hạn của nguyên tắc competence-competence đối với các tranh chấp chuỗi cung ứng có cấu trúc đa bên, đa hợp đồng. Trong bối cảnh đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và sự gia tăng tranh chấp, nghiên cứu chỉ ra rằng việc ưu tiên hội đồng trọng tài tự quyết định thẩm quyền không chỉ nâng cao hiệu quả tố tụng mà còn góp phần duy trì tính liên tục của các quan hệ thương mại. Thông qua phương pháp so sánh pháp luật Pháp, Đức và Hoa Kỳ, bài viết làm rõ các mô hình phân bổ thẩm quyền và xác định hướng tiếp cận của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng việc củng cố khía cạnh negative là hướng đi cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
“Pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư của người lao động trong thời đại 4.0: Kinh nghiệm của một số quốc gia và những vấn đề được đúc kết” là bài của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Mở Hà Nội. Bài viết tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư của người lao động trong bối cảnh công nghệ 4.0. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia tiêu biểu như Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ, bài viết chỉ ra những điểm tiến bộ trong cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là các nguyên tắc về minh bạch, trách nhiệm giải trình và thiết lập cơ quan giám sát độc lập. Từ đó đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam như: xây dựng hệ thống quy phạm chuyên biệt bảo vệ quyền riêng tư của người lao động, tăng cường quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và hình thành cơ chế giám sát thực thi hiệu quả, góp phần bảo đảm quyền con người và phát triển thị trường lao động bền vững trong thời đại chuyển đổi số.
Một số bài viết khác liên quan đến lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật và hoạt động luật sư… cũng được đăng tải trong Tạp chí Luật sư Việt Nam số 5/2026.
Trân trọng kính mời quý độc giả đón đọc!
BBT

