/ Kinh nghiệm - Thực tiễn
/ Không có bằng đại học luật, vẫn được làm luật sư?

Không có bằng đại học luật, vẫn được làm luật sư?

07/05/2026 06:00 |

(LSVN) - Ngày 06/4/2026, Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) do Bộ Tư pháp chủ trì đã họp và thống nhất về cơ bản rằng hồ sơ chính sách đủ điều kiện để tiếp tục hoàn thiện, trình theo quy định. Chỉ riêng chi tiết đó cũng đủ cho thấy một thực tế: Pháp luật về luật sư đang đứng trước một đợt sửa đổi đáng chú ý.

Nhưng trong rất nhiều vấn đề có thể bàn, có lẽ nên bắt đầu từ một “hạt sạn” nhỏ mà không nhỏ: Người không có bằng đại học luật, nhưng có bằng thạc sĩ luật, thậm chí bằng tiến sĩ luật, thì có đủ điều kiện để trở thành luật sư hay không?

Đây không phải là một câu hỏi lý thuyết xa vời. Trong thực tế đào tạo hiện nay, xu hướng chạy đua theo bằng cấp, học vị đang diễn ra khá rõ. Không ít người không học đại học kinh tế nhưng vẫn có thể theo học rồi có bằng thạc sĩ kinh tế, quản trị kinh doanh; tương tự, không ít người không học đại học luật nhưng vẫn có thể đi tiếp lên bậc sau đại học để có bằng thạc sĩ luật. Bản thân một cơ sở đào tạo luật lớn cũng công khai thông tin rằng “người không có bằng cử nhân luật vẫn có thể học thạc sĩ luật sau khi đáp ứng các điều kiện bổ sung kiến thức theo quy định tuyển sinh”. Phải chăng đây là một “hạt sạn” trong kỹ thuật lập pháp, cho thấy các nhà làm luật dường như đã không dự liệu hết những tình huống “trái khoáy” khi đưa Luật Luật sư vào thực tiễn?

Vấn đề là: Điều có thể chấp nhận trong bình diện đào tạo, giảng dạy, nghiên cứu hoặc nâng cao học vấn...v.v... thì có đương nhiên được chấp nhận, chuyển hóa thành điều kiện để gia nhập nghề luật sư hay không? Theo tôi, câu trả lời phải là: Không.

"Hiện nay, xu hướng chạy đua theo bằng cấp, học vị đang diễn ra khá rõ. Không ít người không học đại học kinh tế nhưng vẫn có thể theo học rồi có bằng thạc sĩ kinh tế, quản trị kinh doanh; tương tự, không ít người không học đại học luật nhưng vẫn có thể đi tiếp lên bậc sau đại học để có bằng ...thạc sĩ , tiến sĩ luật".

"Hiện nay, xu hướng chạy đua theo bằng cấp, học vị đang diễn ra khá rõ. Không ít người không học đại học kinh tế nhưng vẫn có thể theo học rồi có bằng thạc sĩ kinh tế, quản trị kinh doanh; tương tự, không ít người không học đại học luật nhưng vẫn có thể đi tiếp lên bậc sau đại học để có bằng ...thạc sĩ , tiến sĩ luật".

Nếu đọc Luật Luật sư hiện hành một cách tổng thể, trục pháp lý của đạo luật này thực ra khá rõ. Điều 10 quy định tiêu chuẩn luật sư, trong đó yêu cầu người muốn trở thành luật sư phải “có bằng cử nhân luật”. Điều 11 tiếp tục khẳng định người “có đủ tiêu chuẩn tại Điều 10” muốn hành nghề thì phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư. Điều 12 lại đi thêm một bước rất rõ: Chỉ “người có bằng cử nhân luật” mới được đăng ký tham dự khóa đào tạo nghề luật sư. Như vậy, về logic lập pháp, bằng cử nhân luật không phải là chi tiết phụ, mà là nền móng đầu vào của cả quá trình đào tạo nghề, tập sự và cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.

Đến đây, Luật Luật sư hiện hành bắt đầu xuất hiện một điểm lệch: Điều 13 quy định các trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư, trong đó có “giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật”. Điều 16 tiếp tục gắn cơ chế miễn, giảm thời gian tập sự với các trường hợp được miễn đào tạo đó. Tuy nhiên, khi sang Điều 17 về hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, Luật lại liệt kê thành phần hồ sơ theo hướng rộng hơn. Khoản 1 Điều 17 ghi nhận hồ sơ của người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự có “bản sao bằng cử nhân luật hoặc bản sao bằng thạc sĩ luật”; khoản 2 Điều 17 đối với người được miễn đào tạo nghề luật sư và miễn tập sự thì lại yêu cầu “bản sao bằng cử nhân luật hoặc bản sao bằng thạc sĩ luật hoặc bản sao bằng tiến sĩ luật”.

Chính cách liệt kê ấy làm nảy sinh thắc mắc trong thực tiễn áp dụng: Phải chăng Luật Luật sư đang chấp nhận một khả năng rằng người không có bằng cử nhân luật, nhưng có bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật, vẫn có thể đi vào nghề luật sư? Nếu chỉ đọc riêng lẻ Điều 17, không ít người có thể nghiêng về cách hiểu đó. Tuy nhiên, khi đặt Điều 17 trong mối liên hệ thống nhất với toàn bộ Luật Luật sư, có thể thấy cách hiểu này không có cơ sở pháp lý thuyết phục.

Nói cách khác, nếu hiểu Điều 17 theo hướng cho phép người không có bằng cử nhân luật nhưng sở hữu bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật được gia nhập đội ngũ luật sư, thì quy định này không còn đơn thuần là về thủ tục hồ sơ. Cách diễn giải đó đã vô hình trung tạo ra sự xung đột trực diện với các quy phạm nền tảng. Nó không chỉ “vô hiệu hóa” tiêu chuẩn về bằng cấp tại Điều 10, triệt tiêu điều kiện tiên quyết của hoạt động đào tạo nghề tại Điều 12, mà còn tạo ra một “lối tắt” trái với chuẩn mực gốc mà cơ chế lập pháp đã xác lập. Hệ quả là, thay vì bổ trợ, Điều 17 lại trở thành yếu tố phá vỡ tính logic nội tại và tinh thần nhất quán của toàn bộ hệ thống Luật Luật sư.

Lý do thứ nhất, Điều 10 và Điều 12 là các điều khoản về tiêu chuẩn, điều kiện nội dung. Trong khi đó, Điều 17 chỉ là điều khoản về hồ sơ, trình tự cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Về kỹ thuật pháp lý, một điều khoản về thành phần hồ sơ không thể được diễn giải theo hướng tự nó làm thay đổi, làm nới hoặc vô hiệu hóa một điều khoản về tiêu chuẩn nghề nghiệp. Nếu chấp nhận cách hiểu ngược lại, thì chỉ bằng một quy định ở phần hồ sơ, luật đã âm thầm sửa luôn chuẩn đầu vào của nghề luật sư, trong khi chính các điều khoản cốt lõi ở phía trước vẫn giữ nguyên yêu cầu “có bằng cử nhân luật”.

Lý do thứ hai, ngay trong hệ thống của Luật Luật sư, tiêu chuẩn tại Điều 10 vẫn là chuẩn gốc, chuẩn quyết định. Sau sửa đổi, Khoản 4 Điều 17 quy định người “không đủ tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10” thì không được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Điều 18 lại quy định người đã được cấp chứng chỉ mà “không còn đủ tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 thì bị thu hồi chứng chỉ”. Điều 19 về cấp lại chứng chỉ cũng tiếp tục quay về điều kiện “có đủ tiêu chuẩn tại Điều 10”. Nói cách khác, chính Luật Luật sư đã tự chỉ ra rằng Điều 10 mới là điểm gốc để kiểm tra tư cách luật sư; còn Điều 17 chỉ là nơi liệt kê giấy tờ để chứng minh người nộp hồ sơ đã đáp ứng các điều kiện đó.

Lý do thứ ba, văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Luật sư còn xác định rõ “người có bằng cử nhân luật” là người có “bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật” (chứ không phải là có bằng thạc sĩ luật hay tiến sĩ luật – để thay thế). Chi tiết này rất đáng chú ý. Nó cho thấy nhà làm luật và cơ quan quy định chi tiết đã hình dung “cử nhân luật” theo nghĩa nền tảng đào tạo đại học chuyên ngành luật, chứ không phải theo nghĩa bất kỳ ai có một văn bằng sau đại học về luật đều có thể thay thế nền tảng đó. Vì vậy, nếu có ai lập luận rằng bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật đương nhiên bao hàm và thay thế bằng cử nhân luật, thì lập luận ấy vừa không phù hợp với câu chữ của Điều 10, vừa không phù hợp với cách giải thích của văn bản hướng dẫn.

Ở đây, cần nhìn thẳng vào bản chất nghề nghiệp. Luật sư là nghề hành nghề pháp lý thực tiễn. Nghề này không chỉ đòi hỏi hiểu biết về một nhánh kiến thức pháp lý nào đó, mà đòi hỏi nền tảng hệ thống, tư duy pháp lý, khả năng tiếp cận cấu trúc của toàn bộ hệ thống pháp luật, kỹ năng nhận diện quan hệ pháp luật, vận dụng quy phạm, đọc hồ sơ, đánh giá chứng cứ, xử lý tình huống và chịu trách nhiệm nghề nghiệp trước khách hàng, trước cơ quan tiến hành tố tụng, trước xã hội. Những năng lực ấy, về nguyên tắc, được xây từ bậc đào tạo cử nhân luật. Văn bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật có thể là một giá trị học thuật cao hơn, nhưng không vì thế mà đương nhiên thay thế được nền móng đào tạo đại học chuyên ngành luật.

Thực tiễn đào tạo hiện nay càng làm cho việc sửa luật trở nên cấp thiết. Nếu hệ thống giáo dục cho phép một người tốt nghiệp ngành khác, sau khi học bổ sung kiến thức, có thể tiếp tục học thạc sĩ luật, thì nhóm người “không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ luật” sẽ không còn là hiện tượng hiếm. Khi đó, câu chữ của Điều 17 càng dễ bị viện dẫn theo hướng xin mở cửa vào nghề luật sư bằng con đường vòng. Nếu luật không sửa rõ, xung đột trong cách hiểu sẽ ngày càng lớn; còn nếu cơ quan có thẩm quyền vẫn buộc phải quay về Điều 10 để từ chối, thì bản thân Luật Luật sư hiện hành vẫn để lại một điểm thiếu gọn ghẽ về kỹ thuật lập pháp, dễ gây tranh luận không cần thiết.

Từ góc độ sửa luật, theo tôi, hướng đi đúng là phải viết dứt khoát hơn. Luật sửa đổi cần khẳng định rõ: người muốn trở thành luật sư bắt buộc phải có bằng cử nhân luật, hiểu theo nghĩa bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật. Đồng thời, cần loại bỏ mọi khả năng “diễn giải” rằng người không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ luật hoặc bằng tiến sĩ luật vẫn đủ điều kiện trở thành luật sư. Nói cách khác, người có bằng thạc sĩ luật, kể cả có bằng tiến sĩ luật, nhưng không có bằng cử nhân luật, thì cũng không đủ điều kiện để trở thành luật sư.

Nếu nhà làm luật muốn mở rộng nguồn đầu vào, thì phải công khai lựa chọn chính sách đó và sửa đồng bộ toàn bộ hệ thống điều luật liên quan, chứ không thể để một điều khoản về hồ sơ tạo ra ảo giác rằng chuẩn đầu vào của nghề đã được nới. Còn nếu vẫn xác định luật sư là một nghề thực hành pháp lý đặc thù, đòi hỏi nền tảng đào tạo cơ bản, hệ thống và chính quy, thì Luật Luật sư sửa đổi cần dứt khoát đặt lại “bằng cử nhân luật” như một điều kiện cứng, không thể thay thế.

Sửa một câu chữ, nhìn qua có vẻ rất nhỏ. Nhưng trong một đạo luật điều chỉnh nghề nghiệp, một câu chữ không rõ đôi khi đủ làm lệch cả cách hiểu về tiêu chuẩn gia nhập nghề. Bởi vậy, trong lần sửa đổi Luật Luật sư này, có lẽ đã đến lúc chấm dứt sự nhập nhằng giữa văn bằng sau đại học và nền tảng đào tạo cử nhân luật. Nghề luật sư cần được mở bằng con đường rõ ràng, ngay ngắn và minh bạch; không nên để một cánh cửa đặc thù như vậy bị mở bằng lối diễn giải vòng qua một điều khoản hồ sơ.

Ghi chú về căn cứ pháp lý được sử dụng trong bài

  1. Luật Luật sư số 65/2006/QH11, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 20/2012/QH13.
  2. Điều 10 Luật Luật sư: tiêu chuẩn luật sư phải có bằng cử nhân luật.
  3. Khoản 1 Điều 12 Luật Luật sư: người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khóa đào tạo nghề luật sư.
  4. Điều 13 và Điều 16 Luật Luật sư: quy định các trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn hoặc giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư.
  5. Điều 17 Luật Luật sư: quy định thành phần hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, trong đó có chi tiết về bản sao bằng cử nhân luật, bằng thạc sĩ luật và bằng tiến sĩ luật.
  6. Điều 18 và Điều 19 Luật Luật sư: tiếp tục quay về tiêu chuẩn tại Điều 10 khi thu hồi hoặc cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư.
  7. Điều 1 Nghị định số 28/2007/NĐ-CP: người có bằng cử nhân luật là người có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật.

THẾ ANH

Công ty Luật TNHH Hoàng Minh Bình Phước.

Các tin khác