1. Mở đầu
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã chính thức khai mạc trọng thể vào sáng ngày 06/4/2026 tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội - một sự kiện chính trị - pháp lý mang tầm lịch sử quan trọng, diễn ra ngay sau thành công rực rỡ của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. “Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI chính thức khai mạc vào sáng nay (06/4). Đây là kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, được tiến hành ngay sau cuộc bầu cử nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước nhiệm kỳ mới” [1]. Với tổng thời gian làm việc dự kiến khoảng 11 ngày, được chia thành hai đợt (đợt 1 từ ngày 06 - 12/4; đợt 2 từ ngày 20 - 23/4, kèm theo các ngày dự phòng 24 và 25/4), kỳ họp không chỉ mở màn cho toàn bộ nhiệm kỳ 05 năm mới của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mà còn đặt nền móng vững chắc, khoa học và đồng bộ cho giai đoạn phát triển đất nước 2026 - 2031, trong bối cảnh đất nước vừa khép lại thành công Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
Trong chương trình kỳ họp được xây dựng bài bản, khoa học, dân chủ và tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật, Quốc hội tập trung vào năm nhóm nội dung lớn, trong đó công tác tổ chức bộ máy nhà nước và kiện toàn nhân sự cấp cao được xác định là trọng tâm hàng đầu, chiếm khoảng 2,5 ngày làm việc chuyên sâu. “Thực hiện công tác nhân sự tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, có 39 chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước ở Trung ương sẽ được Quốc hội bầu và phê chuẩn” [2]. Cụ thể, Quốc hội sẽ tiến hành bầu trực tiếp và phê chuẩn tổng cộng 39 chức danh lãnh đạo cấp cao của bộ máy nhà nước Trung ương, bao gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, cùng các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, cơ cấu tổ chức Chính phủ, danh sách thành viên Hội đồng Quốc phòng - An ninh... Việc kiện toàn đồng bộ, kịp thời và chất lượng cao đội ngũ lãnh đạo cấp cao ngay từ đầu nhiệm kỳ không chỉ là thủ tục hành chính thông thường mà còn là bước triển khai cụ thể, sinh động và có ý nghĩa quyết định đối với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Nguồn: Quochoi.vn.
Cụ thể, khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ ràng và tiến bộ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [3]. Đây là nguyên tắc cốt lõi, mang tính cách mạng và khoa học của NNPQ XHCN Việt Nam, khác biệt căn bản với mô hình tam quyền phân lập của các nhà nước tư bản. Theo đó, quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về Nhân dân, được phân công rành mạch giữa các cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (TAND, VKSND), đồng thời được phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả nhằm ngăn ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm bộ máy nhà nước luôn vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân một cách tốt nhất.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, ứng phó với cách mạng công nghiệp 4.0 và các thách thức an ninh phi truyền thống - việc phân công rõ ràng, phối hợp chặt chẽ và giám sát quyền lực một cách khoa học, minh bạch, trách nhiệm trở thành yếu tố then chốt, quyết định chất lượng và hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới” đã nhấn mạnh yêu cầu chiến lược: “Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước... bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực” [4].
Tại phiên khai mạc kỳ họp, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo sâu sắc: “đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp” [5]. Từ góc nhìn tổ chức bộ máy nhà nước, việc kiện toàn nhân sự và tổ chức bộ máy tại kỳ họp thứ nhất không chỉ là việc thực hiện quyền bầu cử, phê chuẩn của Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân - mà còn là quá trình hiện thực hóa nguyên tắc “dân chủ tập trung”, “tập trung dân chủ” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo tinh thần Hiến pháp. Đây là dịp để Quốc hội khẳng định vai trò giám sát tối cao, đồng thời đặt nền tảng cho sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các nhánh quyền lực ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ, góp phần xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, chuyên nghiệp, liêm chính, gần dân và vì dân hơn bao giờ hết.
Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi xung quanh quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước và nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với trọng tâm phân tích sâu sắc những khía cạnh phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và giám sát quyền lực theo tinh thần Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan. Thông qua đó, bài viết góp phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh cách mạng số, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và những đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân về một NNPQ thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
2. Cơ sở lý luận về phân công, phối hợp và giám sát quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước
Hiến pháp năm 2013 là văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đã ghi nhận một cách rõ ràng, khoa học và tiến bộ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước theo mô hình “thống nhất có phân công, phối hợp, kiểm soát”. Cụ thể, khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đây là nguyên tắc cốt lõi, mang tính cách mạng và tiến bộ vượt trội so với các mô hình tổ chức quyền lực truyền thống, thể hiện sự kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [6].
Khác biệt căn bản với học thuyết tam quyền phân lập của các nhà nước tư bản - vốn xây dựng trên cơ sở đối lập và cân bằng quyền lực giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế lạm quyền - mô hình tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân và nhân dân lao động, khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, thuộc về Nhân dân và được tổ chức, thực thi thông qua hệ thống cơ quan nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nguyên tắc này không chỉ là sự thể chế hóa đường lối của Đảng mà còn là nền tảng pháp lý để xây dựng NNPQ XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đảm bảo bộ máy nhà nước vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế sâu rộng và những đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân sau Đại hội XIV của Đảng.
Phân công quyền lực được Hiến pháp năm 2013 quy định rành mạch, cụ thể hóa qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nhà nước. Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - thực hiện quyền lập pháp (Điều 70 Hiến pháp); Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, thực hiện quyền hành pháp ở một số khía cạnh quan trọng (Điều 96); Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại (Điều 116); TAND và VKSND thực hiện quyền tư pháp (Điều 104 và Điều 107). Sự phân công này không phải là chia cắt quyền lực mà là phân công lao động hợp lý, khoa học giữa các nhánh quyền lực, nhằm nâng cao trách nhiệm, chuyên môn hóa và hiệu quả hoạt động của từng cơ quan trong hệ thống chính trị.
Phối hợp quyền lực được bảo đảm thông qua hàng loạt cơ chế pháp lý chặt chẽ, đồng bộ, thể hiện tinh thần “thống nhất” của quyền lực nhà nước. Chẳng hạn, Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ và phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; Quốc hội giám sát tối cao hoạt động của Chính phủ, TAND Tối cao và VKSND Tối cao; UBTVQH phối hợp với Chính phủ trong việc ban hành các nghị quyết, nghị định quan trọng; các cơ quan tư pháp phối hợp chặt chẽ với cơ quan hành pháp trong thi hành án và phòng, chống tội phạm. Những cơ chế phối hợp này không chỉ đảm bảo sự vận hành đồng bộ của bộ máy nhà nước mà còn ngăn ngừa tình trạng chồng chéo, trùng lặp chức năng, nhiệm vụ - một vấn đề đã được Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục hoàn thiện để phân định rõ ràng hơn thẩm quyền giữa Quốc hội với Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác.
Giám sát quyền lực là yếu tố mới, tiến bộ nhất được Hiến pháp năm 2013 bổ sung và cụ thể hóa, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lý luận và thực tiễn xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam. Cơ chế giám sát được thực hiện đa chiều: giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; giám sát nội bộ giữa các cơ quan nhà nước; giám sát của nhân dân thông qua MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và ý kiến cử tri. Việc bổ sung “kiểm soát” vào nguyên tắc tổ chức quyền lực không chỉ nhằm ngăn ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực mà còn bảo đảm quyền lực luôn thuộc về Nhân dân, được thực thi minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả. Trong bối cảnh năm 2026, sau Đại hội XIV của Đảng và việc ban hành Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, bổ sung, cơ chế giám sát này càng được nhấn mạnh nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, chuyên nghiệp, liêm chính và phục vụ nhân dân.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới” đã kế thừa và phát triển sâu sắc nguyên tắc này, khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước... bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực” [7]. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực phải gắn liền với xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thượng tôn Hiến pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả - những định hướng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, tiếp tục được thể chế hóa mạnh mẽ trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Từ góc nhìn tổ chức bộ máy nhà nước, cơ sở lý luận trên không chỉ là nền tảng pháp lý mà còn là kim chỉ nam để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Việc nghiên cứu sâu sắc các vấn đề phân công, phối hợp và giám sát quyền lực trong bối cảnh kiện toàn nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận, khắc phục những hạn chế thực tiễn và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới [8].
3. Thực tiễn kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước và nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI
Trong bối cảnh chuyển tiếp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (2026 - 2031) ngay sau thành công vang dội của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước và nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất đã trở thành nội dung cốt lõi, mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc trong việc cụ thể hóa nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” theo quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025) [11]. Việc thực hiện này không chỉ bảo đảm tính liên tục, ổn định và thông suốt của hệ thống chính trị ngay từ đầu nhiệm kỳ mới mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế phân công quyền lực rõ ràng, phối hợp chặt chẽ và giám sát quyền lực hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thể chế hóa các yêu cầu đổi mới, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước trong giai đoạn phát triển mới, với trọng tâm là chuyển đổi số quốc gia, hội nhập quốc tế sâu rộng, ứng phó biến đổi khí hậu và các thách thức toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 [12].
Theo chương trình kỳ họp được Quốc hội khóa XVI thông qua tại phiên trù bị ngày 05/4/2026, Quốc hội đã dành khoảng 2,5 ngày (từ ngày 6 - ngày 8/4/2026) cho công tác nhân sự và tổ chức bộ máy. Đây là khoảng thời gian được tính toán khoa học, thể hiện rõ quyết tâm chính trị cao của Quốc hội trong việc thực thi quyền lực hiến định một cách kịp thời, khoa học, dân chủ và minh bạch ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ [13].
Cụ thể, theo quy trình pháp lý chặt chẽ tại Chương III Hiến pháp năm 2013 (các Điều 69, 70, 71, 72 và các điều liên quan) cùng Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi, năm 2020 và 2025), Quốc hội tiến hành bầu trực tiếp các chức danh lãnh đạo chủ chốt của bộ máy nhà nước, bao gồm: Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Ủy viên UBTVQH (với tổng số 18 Ủy viên theo nghị quyết riêng), Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao và Tổng Kiểm toán nhà nước [14]. Đồng thời, Quốc hội phê chuẩn các đề nghị bổ nhiệm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, quyết định cơ cấu tổ chức Chính phủ (gồm 14 Bộ và 3 cơ quan ngang Bộ trong nhiệm kỳ mới), cũng như danh sách thành viên Hội đồng Quốc phòng - An ninh. Tổng cộng 39 chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước ở Trung ương đã được kiện toàn một cách đồng bộ, đảm bảo sự thống nhất quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời tôn trọng đầy đủ nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện cán bộ theo quy định của Đảng và Nhà nước [15].
Toàn bộ quá trình diễn ra dưới sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp của Đảng, với sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng từ UBTVQH khóa XV chuyển tiếp sang khóa XVI, kết hợp chặt chẽ với đề nghị của Chính phủ và các cơ quan liên quan. Tại phiên khai mạc trọng thể sáng ngày 6/4/2026 tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rõ ràng: “Đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp”, đồng thời yêu cầu Quốc hội “tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn”, “ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả” [16]. Những chỉ đạo này không chỉ là định hướng chính trị mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để Quốc hội khóa XVI thực thi vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện NNPQ XHCN, tinh gọn bộ máy và nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại.
Thực tiễn cho thấy, việc bầu Chủ tịch Quốc hội khóa XVI - đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội khóa XV - tái đắc cử với tỷ lệ 100% số phiếu tán thành (491/491 đại biểu có mặt) đã khẳng định mạnh mẽ sự ổn định, tiếp nối truyền thống lãnh đạo của Quốc hội, đồng thời thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của các đại biểu Quốc hội đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn sâu sắc và uy tín cao trong nhân dân [17]. Việc kiện toàn các chức danh còn lại được thực hiện theo đề nghị chính thức của UBTVQH khóa XV và Chính phủ nhiệm kỳ cũ chuyển giao, đảm bảo nghiêm ngặt các tiêu chuẩn cán bộ theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cũng như các quy định mới về công tác cán bộ trong giai đoạn 2026 - 2031.
Từ góc độ lý luận pháp lý chuyên ngành về tổ chức bộ máy nhà nước, thực tiễn kiện toàn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã góp phần làm phong phú thêm học thuyết về “phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực” trong NNPQ XHCN Việt Nam. Việc bầu và phê chuẩn nhân sự cấp cao không chỉ là thủ tục tổ chức mà còn là công cụ pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền lực nhà nước được vận hành thống nhất, minh bạch và chịu sự giám sát chặt chẽ từ nhân dân thông qua đại biểu Quốc hội [18]. Trong bối cảnh Việt Nam năm 2026, với những cải cách sâu rộng về sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, chuyển đổi số toàn diện và thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, công tác kiện toàn này đã tạo động lực mạnh mẽ để Quốc hội thực sự trở thành “cơ quan lập pháp chuyên nghiệp, gần dân”, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Quốc hội với Chính phủ, TAND Tối cao và VKSND Tối cao trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các đại biểu Quốc hội, với tỷ lệ tăng mạnh về chuyên trách (đạt mức cao nhất từ trước đến nay), đã phát huy vai trò giám sát trực tiếp, phản biện xây dựng, góp phần khắc phục những hạn chế trong cơ chế kiểm soát quyền lực nội tại từng cơ quan nhà nước [19].
Từ góc nhìn của Luật Tổ chức Quốc hội, việc phân công quyền lực tại kỳ họp này đã thể hiện rõ sự cân bằng giữa tính tập trung thống nhất và tính chuyên môn hóa, khi Quốc hội không chỉ bầu lãnh đạo các cơ quan mà còn quyết định cơ cấu tổ chức Chính phủ, từ đó tạo cơ sở pháp lý để giám sát thường xuyên, liên tục đối với hoạt động hành pháp. Sự phối hợp quyền lực được cụ thể hóa qua cơ chế báo cáo, chất vấn, giám sát chuyên đề giữa các cơ quan, trong khi kiểm soát quyền lực được tăng cường thông qua vai trò của UBTVQH, các ủy ban chuyên môn và hoạt động giám sát của đại biểu. Thực tiễn này khẳng định rằng, kiện toàn bộ máy không chỉ là việc “bầu người” mà còn là việc “xây dựng cơ chế”, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước trong bối cảnh mới [20].
4. Những vấn đề pháp lý về phân công, phối hợp và giám sát quyền lực trong quá trình kiện toàn
Trong bối cảnh chuyển tiếp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (2026 - 2031) - giai đoạn then chốt để cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và các nghị quyết quan trọng về hoàn thiện NNPQ XHCN - công tác kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước cùng nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất không chỉ là thủ tục tổ chức mà còn là bước triển khai sâu sắc, mang tính pháp lý chiến lược, nhằm hiện thực hóa nguyên tắc cốt lõi “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” theo quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 203/2025/QH15) [21]. Quá trình này, với việc bầu và phê chuẩn đồng bộ 39 chức danh lãnh đạo cấp cao, đã đặt ra hàng loạt vấn đề pháp lý sâu sắc về phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và giám sát quyền lực, đòi hỏi phải được phân tích một cách khoa học, thận trọng dưới góc nhìn chuyên ngành Luật Tổ chức Quốc hội, nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế vận hành bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chuyên nghiệp và gần dân hơn trong giai đoạn phát triển mới đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Từ góc độ phân công quyền lực - nội dung cốt lõi đầu tiên trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước - quá trình bầu cử và phê chuẩn các chức danh tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thể hiện rõ nét vai trò hiến định của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền bầu và phê chuẩn theo đúng quy định tại Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và các điều khoản liên quan của Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi 2025) [22]. Cụ thể, Quốc hội tiến hành bầu trực tiếp Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; đồng thời phê chuẩn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, cơ cấu tổ chức Chính phủ (14 Bộ và 3 cơ quan ngang Bộ), cũng như danh sách thành viên Hội đồng Quốc phòng - An ninh. Việc phân công này không chỉ bảo đảm tính liên tục, ổn định của bộ máy ngay từ đầu nhiệm kỳ mà còn khẳng định nguyên tắc phân công rành mạch giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục về mặt pháp lý. Cơ chế đề nghị nhân sự từ UBTVQH khóa XV và Chính phủ nhiệm kỳ cũ chuyển giao đôi khi còn mang tính hình thức ở một số khâu, chưa phát huy đầy đủ vai trò phản biện, đánh giá độc lập của các đại biểu Quốc hội chuyên trách [23]. Hơn nữa, các quy định pháp luật hiện hành vẫn chưa có tiêu chí đánh giá chi tiết, cụ thể, có tính khả thi cao về năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và uy tín của từng chức danh lãnh đạo cấp cao, dẫn đến tình trạng đánh giá còn chung chung, chủ yếu dựa vào hồ sơ cán bộ và ý kiến tập thể. Trong bối cảnh năm 2026, khi bộ máy nhà nước đang được tinh gọn mạnh mẽ theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã) sau khi kết thúc hoạt động của cấp huyện từ ngày 1/7/2025, việc hoàn thiện cơ chế phân công quyền lực này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan trung ương và địa phương.
Tiếp nối phân công quyền lực là vấn đề phối hợp quyền lực - yếu tố then chốt bảo đảm sự vận hành thông suốt, đồng bộ của bộ máy nhà nước. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phối hợp chặt chẽ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chẳng hạn, Chủ tịch nước - với tư cách là nguyên thủ quốc gia - phối hợp chặt chẽ với Thủ tướng Chính phủ trong việc đề nghị nhân sự Chính phủ; Quốc hội giám sát tối cao nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động hành pháp hàng ngày; trong khi TAND Tối cao và VKSND Tối cao thực thi quyền tư pháp độc lập theo pháp luật nhưng chịu sự giám sát của Quốc hội về tổ chức và hoạt động [24]. Những phối hợp này được thể hiện rõ nét qua cơ chế báo cáo định kỳ, chất vấn, giám sát chuyên đề và các nghị quyết liên tịch giữa các cơ quan. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành vẫn bộc lộ một số bất cập pháp lý đáng chú ý. Đôi khi vẫn còn tình trạng chồng chéo chức năng giữa hoạt động giám sát của Quốc hội với công tác thanh tra của Chính phủ, hoặc giữa vai trò phản biện của UBTVQH với trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các ủy ban chuyên môn, dẫn đến giảm hiệu quả phối hợp tổng thể và làm tăng gánh nặng hành chính không cần thiết [25]. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và hội nhập quốc tế sâu rộng năm 2026, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp quyền lực thông qua các quy định pháp luật cụ thể hơn - như bổ sung các điều khoản về trách nhiệm phối hợp liên ngành trong Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi năm 2025 - sẽ góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại, tránh tình trạng “cơ quan nào cũng làm, nhưng không cơ quan nào chịu trách nhiệm toàn diện”.
Khía cạnh quan trọng và cần quan tâm nhất trong phân tích pháp lý là giám sát quyền lực - cơ chế then chốt để bảo đảm quyền lực không bị lạm dụng, tha hóa và luôn phục vụ lợi ích của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, bao gồm cả các chức danh lãnh đạo cấp cao sau khi được bầu và phê chuẩn [26]. Tuy nhiên, cơ chế giám sát thường xuyên, định kỳ, liên tục đối với các chức danh này vẫn còn chưa đồng bộ và thiếu tính khả thi cao. Việc kiện toàn đồng bộ 39 chức danh đòi hỏi phải xây dựng cơ chế trách nhiệm rõ ràng, minh bạch theo tinh thần “quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó”, nhưng hiện nay, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi 2025), Luật Tổ chức Chính phủ 2015 cùng các văn bản liên quan vẫn chưa quy định cụ thể, chi tiết trách nhiệm cá nhân của lãnh đạo cấp cao trong trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao [27]. Một vấn đề pháp lý sâu sắc khác là vai trò giám sát của nhân dân và MTTQ Việt Nam trong quá trình kiện toàn nhân sự - hiện vẫn còn mang tính gián tiếp, chủ yếu qua các hình thức góp ý, phản biện xã hội tại các hội nghị, chưa có kênh phản biện trực tiếp, công khai, có tính ràng buộc pháp lý mạnh mẽ [28]. Trong bối cảnh năm 2026, khi Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN theo Nghị quyết Đại hội XIV, việc nâng cao hiệu quả giám sát quyền lực không chỉ là yêu cầu kỹ thuật pháp lý mà còn là đòi hỏi chính trị sâu sắc, nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường niềm tin của cử tri vào bộ máy nhà nước. Để khắc phục những hạn chế này, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát sau bầu cử, tăng cường vai trò của các ủy ban chuyên môn của Quốc hội, đồng thời thể chế hóa cơ chế giám sát của MTTQ và nhân dân một cách cụ thể hơn, phù hợp với tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” [29].
Từ góc nhìn chuyên ngành Luật Tổ chức Quốc hội, ba khía cạnh phân công, phối hợp và giám sát quyền lực trong quá trình kiện toàn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI không chỉ là các vấn đề kỹ thuật mà còn là nền tảng lý luận và thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật tổ chức bộ máy nhà nước. Việc phân tích sâu các hạn chế pháp lý hiện hữu sẽ góp phần đề xuất các giải pháp đồng bộ, khoa học, nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước luôn được vận hành minh bạch, hiệu quả và thực sự phục vụ nhân dân trong bối cảnh mới [30].
5. Kiến nghị hoàn thiện
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước cùng nhân sự cấp cao tại các kỳ họp Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XVI (2026 - 2031), đồng thời góp phần cụ thể hóa sâu sắc nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” theo quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 203/2025/QH15) [31], cần triển khai một hệ thống các giải pháp đồng bộ, khoa học, có tính khả thi cao dưới góc nhìn chuyên ngành Luật Tổ chức Quốc hội. Trong bối cảnh năm 2026 - giai đoạn đất nước đang đẩy mạnh tinh gọn bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã) sau khi kết thúc hoạt động của cấp huyện từ ngày 1/7/2025, chuyển đổi số quốc gia toàn diện và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng - việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về phân công, phối hợp và giám sát quyền lực không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là nhiệm vụ chính trị then chốt nhằm xây dựng NNPQ XHCN thực sự tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chuyên nghiệp, gần dân và vì dân [32].
Trước hết, cần ưu tiên sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và các luật tổ chức bộ máy nhà nước, tập trung hoàn thiện quy định về tiêu chí, quy trình bầu, phê chuẩn, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh lãnh đạo cấp cao. Cụ thể, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi 2025) cần được rà soát toàn diện để bổ sung các tiêu chí đánh giá định lượng và định tính rõ ràng, công khai, minh bạch về năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị và uy tín của từng chức danh, tránh tình trạng đánh giá chung chung hoặc mang tính hình thức [33]. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế giám sát định kỳ và đột xuất chặt chẽ hơn, bao gồm quy định cụ thể về thời hạn, nội dung, hình thức giám sát sau bầu cử và phê chuẩn, nhằm bảo đảm “quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó” ngay từ đầu nhiệm kỳ. Việc sửa đổi này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Quốc hội khóa XVI thực thi quyền lực hiến định một cách khoa học, dân chủ và hiệu quả hơn trong bối cảnh mới.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành vững chắc giữa các nhánh quyền lực. Quốc hội nên ban hành một Nghị quyết chuyên đề hoặc nghiên cứu xây dựng Luật về phối hợp giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhằm xác định rõ ràng trách nhiệm phối hợp liên ngành, tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và tạo ra cơ chế “kiểm soát và cân bằng” phù hợp với đặc thù thể chế chính trị Việt Nam [34]. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia năm 2026, cơ chế này cần tích hợp các nền tảng công nghệ số để trao đổi thông tin thời gian thực giữa Quốc hội, Chính phủ, TAND Tối cao và VKSND Tối cao, từ đó nâng cao hiệu quả phối hợp trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, hội nhập quốc tế sâu rộng và ứng phó biến đổi khí hậu. Việc hoàn thiện cơ chế phối hợp sẽ khắc phục những hạn chế thực tiễn đã nêu, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại.
Thứ ba, việc tăng cường giám sát quyền lực phải được coi là khâu đột phá. Cần hoàn thiện Luật Giám sát của Quốc hội theo hướng quy định rõ trách nhiệm giải trình cá nhân của từng chức danh lãnh đạo cấp cao trước Quốc hội và cử tri, đồng thời ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong hệ thống giám sát (hệ thống dữ liệu minh bạch, nền tảng số hóa báo cáo, chất vấn trực tuyến) [35]. Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi năm 2025 đã có những bước tiến quan trọng, nhưng vẫn cần bổ sung các quy định về giám sát định kỳ hàng năm đối với 39 chức danh đã được kiện toàn, kết hợp với cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm kịp thời khi phát hiện vi phạm. Những quy định này sẽ bảo đảm quyền lực nhà nước luôn được vận hành minh bạch, chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ nhân dân thông qua Quốc hội.
Thứ tư, đẩy mạnh dân chủ hóa quá trình kiện toàn nhân sự cấp cao bằng cách tăng cường vai trò giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Hiện nay, sự tham gia của nhân dân vẫn chủ yếu mang tính gián tiếp; do đó, cần thể chế hóa các kênh phản biện trực tiếp, công khai, có tính ràng buộc pháp lý, như tổ chức lấy ý kiến rộng rãi qua nền tảng số hoặc hội nghị cử tri trước khi Quốc hội phê chuẩn nhân sự [36]. Điều này không chỉ phù hợp với tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà còn góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
Thứ năm, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải được coi là nền tảng chiến lược lâu dài. Cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về NNPQ XHCN, kỹ năng phân công, phối hợp và giám sát quyền lực dành cho đại biểu Quốc hội chuyên trách và cán bộ lãnh đạo cấp cao mới được kiện toàn [37]. Chương trình này nên kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, ứng dụng công nghệ số, đồng thời học hỏi kinh nghiệm quốc tế có chọn lọc để nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
6. Kết luận
Kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước và nhân sự cấp cao tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI là bước đi chiến lược mang tính lịch sử, khẳng định vai trò trung tâm của Quốc hội trong việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam [38]. Việc làm rõ và tiếp tục hoàn thiện các vấn đề pháp lý về phân công, phối hợp, giám sát quyền lực không chỉ bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước mà còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng khát vọng phát triển đất nước nhanh và bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2045 [39]. Với tinh thần “đổi mới mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tại phiên khai mạc: “Đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp”, Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã mở ra một giai đoạn mới của bộ máy nhà nước Việt Nam - tinh gọn hơn, chuyên nghiệp hơn, gần dân hơn và thực sự vì dân [40].
Qua góc nhìn Luật Tổ chức Quốc hội, những vấn đề pháp lý được đặt ra và các kiến nghị hoàn thiện trong bài viết không chỉ phản ánh thực tiễn vận hành quyền lực nhà nước mà còn cung cấp cơ sở khoa học để Quốc hội khóa XVI tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đó là nền tảng vững chắc để xây dựng một hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, vận hành thông suốt, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Tài liệu tham khảo, trích dẫn:
[1] Báo Chính phủ (2026), “Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI”, baocchinhphu.vn, ngày 6/4/2026.
[2] Xây dựng chính sách (2026), “Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI: Kiện toàn 39 chức danh lãnh đạo cấp cao”, xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 6/4/2026.
[3], [6] Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 (Điều 2, khoản 3).
[4], [7] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới”.
[5] Xây dựng chính sách (2026), “Toàn văn: Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI”, xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 6/4/2026.
[8] Đoàn Trường Thụ (2024), “Một số vấn đề cơ bản về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng NNPQ”, Tạp chí Cộng sản, ngày 3/11/2024.
[9] Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội số 62/2025/QH15.
[10] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
[11], [21], [31] Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025).
[12], [32] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
[13] Báo cáo của UBTVQH về chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 5/4/2026.
[14], [22], [33] Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 62/2025/QH15).
[15], [28], [37] Thông cáo báo chí số 1, Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Báo Nhân Dân, ngày 6/4/2026.
[16], [24], [34] Tô Lâm, “Phát biểu chỉ đạo tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI”, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 6/4/2026.
[17] Xây dựng Chính sách, “Tiểu sử đồng chí Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Quốc hội khóa XVI”, ngày 7/4/2026.
[18] Nguyễn Văn Hiển và cộng sự, “Kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số đặc biệt 2026.
[19] VnExpress, “Quốc hội khóa XVI khai mạc kỳ họp thứ nhất: Tỷ lệ đại biểu chuyên trách đạt kỷ lục”, ngày 6/4/2026.
[20], [30], [39] Trần Thanh Mẫn, “Phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI”, Quân đội nhân dân, ngày 6/4/2026.
[23] Báo cáo của UBTVQH về công tác chuẩn bị nhân sự Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 5/4/2026.
[25], [35] Nguyễn Văn Hiển và cộng sự, “Một số vấn đề cơ bản về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong NNPQ XHCN Việt Nam”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2024.
[26], [36] Phan Thanh Hà, “Kiểm soát quyền lực nhà nước của Quốc hội trong NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 10/2023.
[27] Luật Tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung các năm 2020 - 2025).
[29], [38] Xây dựng Chính sách, “Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI: Kiện toàn 39 chức danh lãnh đạo cấp cao”, ngày 7/4/2026.
[40] Nguyễn Thị Hồng Hạnh, “Xây dựng NNPQ gắn với kiểm soát quyền lực và phát huy quyền dân chủ”, VOV, ngày 17/2/2026.
DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
Học viện Báo chí và Tuyên truyền;
LÊ HÙNG
Học viện Chính trị khu vực I.

