/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước dưới góc độ chính sách công

Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước dưới góc độ chính sách công

21/02/2026 17:12 |

(LSVN) - Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao hiệu quả quản trị nguồn lực công.

Bài viết tiếp cận Nghị quyết 79-NQ/TW dưới góc độ chính sách công, coi đây là một khung chính sách cấp chiến lược nhằm chuẩn hóa quản trị, hạch toán và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước theo nguyên tắc thị trường; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quản trị hiện đại; đồng thời thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở đối chiếu với lý thuyết và các giáo trình cập nhật nhất về chính sách công trong nước, cũng như khung phân tích chính sách công quốc tế, bài viết phân tích các kênh tác động chủ yếu của Nghị quyết 79-NQ/TW đối với nền kinh tế nước ta hiện nay, chỉ ra những điểm mạnh trong thiết kế chính sách và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực thể chế hóa và thực thi trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Đặt vấn đề

Trong hệ thống chính sách công ở Việt Nam, các nghị quyết của Bộ Chính trị giữ vai trò định hướng chiến lược, tạo nền tảng chính trị – thể chế cho quá trình xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi chính sách. Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước yêu cầu vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Khác với cách tiếp cận hẹp chỉ tập trung vào doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79-NQ/TW xác định phạm vi kinh tế nhà nước trên nền tảng rộng, bao gồm đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập. Việc mở rộng phạm vi này cho thấy kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một hệ thống nguồn lực công cần được quản trị thống nhất, hiệu quả và minh bạch, thay vì chỉ là một khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Do đó, việc tiếp cận Nghị quyết 79-NQ/TW dưới góc độ chính sách công cho phép làm rõ các vấn đề công mà Nghị quyết hướng tới giải quyết, logic thiết kế chính sách, các kênh tác động đối với nền kinh tế hiện nay và yêu cầu thể chế hóa nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi.

Khung lý thuyết và cách tiếp cận chính sách công

Chính sách công thường được hiểu là tập hợp các quyết định và hành động có chủ đích của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề công, định hướng phân bổ nguồn lực và điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội vì lợi ích chung. Các đặc trưng cơ bản của chính sách công bao gồm tính quyền lực công, tính định hướng lợi ích xã hội, tính quá trình và sự phụ thuộc chặt chẽ vào bối cảnh thể chế cũng như năng lực thực thi trong nước.

Theo cách tiếp cận phân tích chính sách hiện đại, đặc biệt là khung phân tích của Michael E. Kraft và Scott R. Furlong, một chính sách công cần được xem xét xuyên suốt các khâu: xác định vấn đề công, thiết kế mục tiêu, lựa chọn công cụ, đánh giá lợi ích – chi phí xã hội, và khả năng thực thi trong điều kiện thể chế cụ thể. Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng chất lượng chính sách không chỉ nằm ở mục tiêu đúng đắn mà còn ở thiết kế công cụ và cơ chế thực hiện phù hợp.

Đối chiếu với giáo trình Chính sách công của Học viện Tài chính (2024), nhóm chính sách cơ cấu lại và phát triển doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các nội dung cốt lõi như: quy định rõ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm; áp dụng chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế; thực thi nguyên tắc thị trường trong tiền lương; tách bạch nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm vụ chính trị và an sinh xã hội; hoàn thiện cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước; đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn theo nguyên tắc thị trường; xử lý dứt điểm các dự án thua lỗ, kém hiệu quả; và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý. Đây là cơ sở lý luận phù hợp để phân tích và đánh giá Nghị quyết 79-NQ/TW như một chính sách công về cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước.

Nghị quyết 79-NQ/TW như một chính sách cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước

Dưới góc độ chính sách công, Nghị quyết 79-NQ/TW có thể được xem là một chính sách cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó trọng tâm là nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước và tái định vị vai trò của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết vừa khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và quốc phòng, an ninh, vừa nhấn mạnh yêu cầu bình đẳng trước pháp luật, cạnh tranh lành mạnh và tuân thủ nguyên tắc thị trường.

Nghị quyết đã nhận diện tương đối đầy đủ các hạn chế và bất cập của kinh tế nhà nước hiện nay, bao gồm hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực còn thấp, tình trạng lãng phí và thất thoát, doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, năng lực cạnh tranh quốc tế hạn chế, đơn vị sự nghiệp công lập chậm đổi mới, cũng như những bất cập về thể chế, phối hợp và giám sát. Trên cơ sở đó, Nghị quyết đưa ra một hệ thống quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp mang tính tổng thể, bao trùm nhiều cấu phần của nền kinh tế.

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết đặt yêu cầu rà soát, thống kê, đánh giá và hạch toán đầy đủ các nguồn lực kinh tế nhà nước theo nguyên tắc thị trường; phân tích lợi ích – chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực công theo thông lệ quốc tế; và tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công với hoạt động kinh doanh. Đây là những yêu cầu thể hiện rõ cách tiếp cận chính sách công hiện đại, hướng tới giảm méo mó phân bổ nguồn lực và tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Tác động của Nghị quyết 79-NQ/TW đối với nền kinh tế hiện nay

Thứ nhất, tác động đối với ổn định vĩ mô và kỷ luật tài khóa.Nghị quyết đưa ra các chỉ tiêu định hướng rõ ràng cho giai đoạn 2026–2030 về huy động ngân sách, bội chi, nợ công và cơ cấu chi ngân sách. Việc xác lập các giới hạn này trong một văn kiện chính trị cấp cao có ý nghĩa như một “cam kết chính sách”, góp phần ổn định kỳ vọng của thị trường, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và tạo khuôn khổ cho việc điều hành tài khóa thận trọng trong trung hạn.

Thứ hai, tác động đến phân bổ và sử dụng nguồn lực công.Yêu cầu hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường và phân tích lợi ích – chi phí xã hội đối với đầu tư nguồn lực công, nếu được thể chế hóa nghiêm túc, sẽ góp phần cải thiện chất lượng quyết định đầu tư, giảm tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả và hạn chế bao cấp ẩn. Điều này có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công và các nguồn lực kinh tế nhà nước khác.

Thứ ba, tác động đến cải cách doanh nghiệp nhà nước và năng lực cạnh tranh.Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số và 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD. Đây là áp lực cải cách mạnh mẽ đối với quản trị nội bộ, kiểm soát rủi ro, minh bạch thông tin và cơ chế tiền lương, nhân sự của doanh nghiệp nhà nước, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Thứ tư, tác động đến thị trường vốn nhà nước và định hướng đầu tư chiến lược.Việc tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia, cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy đầu tư vốn theo kỷ luật và thông lệ thị trường. Nếu được giám sát chặt chẽ và vận hành minh bạch, định hướng này có thể tạo ra tác động tích cực đối với việc huy động và phân bổ vốn nhà nước cho các lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo.

Những điểm mạnh của Nghị quyết 79-NQ/TW

Thứ nhất, Nghị quyết nhận diện đúng và tương đối đầy đủ các vấn đề công cốt lõi của khu vực kinh tế nhà nước, không né tránh những hạn chế kéo dài về hiệu quả, quản trị và trách nhiệm giải trình.

Thứ hai, Nghị quyết kết hợp hài hòa giữa việc khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng và tuân thủ cơ chế thị trường, qua đó hạn chế nguy cơ đặc quyền, đặc lợi làm suy yếu môi trường cạnh tranh.

Thứ ba, Nghị quyết nhấn mạnh chuẩn hóa quản trị theo thông lệ quốc tế, đặc biệt là việc áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD, cùng với yêu cầu quản trị trên nền tảng số, minh bạch hóa và lượng hóa hiệu quả hoạt động.

Thứ tư, Nghị quyết chú trọng đồng bộ các công cụ chính sách, từ hoàn thiện pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, đến chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo hướng giảm chồng chéo và quản trị rủi ro.

Thứ năm, Nghị quyết thể hiện kỷ luật thể chế rõ ràng khi đặt ra nguyên tắc không hình thành mới các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt, nhằm hạn chế phân tán nguồn lực và rủi ro thiếu minh bạch.

Kiến nghị thể chế hóa và hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, cần cụ thể hóa cơ chế tách bạch nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, an sinh xã hội thông qua các quy định rõ ràng về đặt hàng, giao nhiệm vụ và đấu thầu cung cấp dịch vụ công, gắn với hạch toán đầy đủ chi phí và cơ chế bù đắp minh bạch.

Thứ hai, cần xây dựng và chuẩn hóa hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, kết hợp các chỉ số tài chính và phi tài chính, tách bạch kết quả kinh doanh với kết quả thực hiện nhiệm vụ công, gắn trách nhiệm giải trình với người đại diện vốn và người đứng đầu.

Thứ ba, cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập đối với hoạt động đầu tư, thoái vốn và cơ cấu lại vốn nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu SCIC và định hướng hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.

Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra và kiểm toán theo nguyên tắc quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ và dữ liệu dùng chung, nhằm chấm dứt tình trạng chồng chéo, kéo dài gây cản trở hoạt động hợp pháp.

Kết luận

Tiếp cận dưới góc độ chính sách công, Nghị quyết 79-NQ/TW là một khung chính sách chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản trị nguồn lực kinh tế nhà nước và thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững. Điểm mạnh của Nghị quyết nằm ở việc kết hợp vai trò chủ đạo với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực quản trị quốc tế và yêu cầu minh bạch, trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, tác động thực chất của Nghị quyết phụ thuộc quyết định vào chất lượng thể chế hóa và năng lực thực thi. Việc cụ thể hóa các nguyên tắc nêu trên thành quy định pháp luật và cơ chế vận hành hiệu quả sẽ là yếu tố then chốt để Nghị quyết đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến tích cực đối với nền kinh tế.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

Bộ Chính trị, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, truy cập tháng 01/2026.Vũ Sỹ Cường; Hà Thị Đoan Trang, Giáo trình Chính sách công, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2024.

Tài liệu tiếng Anh

Kraft, Michael E.; Furlong, Scott R., Public Policy: Politics, Analysis, and Alternatives (7th Edition), SAGE Publications, Thousand Oaks, CA, 2021.

Tiến sĩ Luật, Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh LÊ HỒNG PHÚC

Đại học Phenikaa (Cố vấn cao cấp Công ty luật Rajah&Tann LCT Lawyers)

Luật sư, Thạc sĩ LÊ QUANG Y

Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai

Luật sư, Thạc sĩ NGUYỄN THỊ BÌNH

Công ty luật Tresler LLP (Hoa Kỳ)

Luật sư TRƯƠNG THỊ THANH HẰNG

Công ty luật TNHH Chí Minh & Cộng sự

PHẠM THỊ MAI ANH

Khoa Luật & QTKDQT – Đại học Phenikaa

Các tin khác