Sự thỏa thuận của đương sự trong thi hành án dân sự

25/10/2020 15:39

(LSVN) – Ở Việt Nam, bên cạnh những quy định nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự, Luật Thi hành án dân sự cũng có quy định về vấn đề thỏa thuận thi hành án. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về việc khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân.

Ảnh minh họa.

1. Quy định pháp luật về sự thỏa thuận của đương sự trong thi hành án dân sự

Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng. Không những các bên giữ mối quan hệ tình cảm với nhau, thông qua đó, không những hiểu nhau hơn, tình cảm thân thiết, gắn bó với nhau hơn… mà việc thi hành án cũng được giải quyết nhanh gọn, rút ngắn thời gian, đỡ tốn kém về công sức, tiền bạc để tổ chức thi hành án. Thỏa thuận thi hành án dân sự là sự tự nguyện của các đương sự nhằm bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định dân sự đó. Thỏa thuận thi hành án dân sự được quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Cụ thể:

Điều 6 Luật Thi hành án dân sự quy định: “1. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận. Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án. 2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định”.

Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án mà đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với nội dung thỏa thuận không yêu cầu thi hành, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án. Khi đương sự có yêu cầu, chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận. Trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án thì chấp hành viên có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do. Người yêu cầu chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chi phí hợp lý cho cơ quan thi hành án dân sự.

Như vậy, đương sự có quyền thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án. Trường hợp thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để thi hành án.

2. Những khó khăn, vướng mắc trong thỏa thuận thi hành án dân sự

Thỏa thuận thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tế vấn đề này còn có những khó khăn, vướng mắc nhất định như:

Thứ nhất, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án, thì các đương sự đã tự thỏa thuận thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án trước khi bán đấu giá tài sản chỉ vài ngày, nhưng không cung cấp tài liệu về thỏa thuận và không thông báo cho cơ quan thi hành án hay chấp hành viên biết việc thỏa thuận đó để dừng việc bán đấu giá. Sau khi nhận được thông báo về việc giao tài sản cho người trúng đấu giá, thì người phải thi hành án và người được thi hành án cung cấp biên nhận giao trả tiền và tự thỏa thuận về thi hành án, người được thi hành án đã đồng ý xóa toàn bộ số nợ phải thi hành án còn lại và yêu cầu đình chỉ thi hành án. Khi đó, nếu chấp hành viên nhiều lần giải quyết việc thi hành án, động viên, thuyết phục, nhưng người mua tài sản đấu giá vẫn đòi được giao tài sản, còn người phải thi hành án cương quyết không đồng ý giao tài sản, trường hợp này có thể dẫn đến tình trạng án tồn đọng. Bởi lẽ, nếu không giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá sẽ vi phạm Điều 103 Luật Thi hành án dân sự, quy định bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, vì người mua được tài sản bán đấu giá đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, họ không có lỗi; còn nếu giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì sự việc phức tạp hơn, vì việc thi hành án đã xong, người phải thi hành án không còn phải thi hành nghĩa vụ nào, bên cạnh đó, pháp luật cũng không quy định bắt buộc đương sự phải thông báo cho chấp hành viên, cơ quan thi hành án mọi thỏa thuận về thi hành án.

Thứ hai, theo quy định của pháp luật, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất chung biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định pháp luật hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự không quy định chế tài khi người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu, sử dụng chung cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung phải thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chính vì vậy, trường hợp những người này không thiện chí, không thực hiện theo yêu cầu của chấp hành viên thì cũng không có biện pháp chế tài nào đối với họ, đây là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng thi hành án kéo dài.

Thứ ba, khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự quy định việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau: “… b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản”. Theo đó, quyền yêu cầu định giá lại được thực hiện sau khi kê biên, định giá tài sản cho đến trước khi thông báo công khai về việc bán đấu giá.

Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự không có quy định nào yêu cầu đương sự phải nêu lý do làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Điều này có nghĩa là việc định giá do các bên thỏa thuận ngay tại thời điểm kê biên cũng có thể bị người phải thi hành án, người được thi hành án yêu cầu giám định lại. Chính vì chưa có quy định về vấn đề này nên dễ dẫn đến sự tùy tiện hoặc cố tình lợi dụng quyền yêu cầu giám định lại để kéo dài thời gian thi hành án, gây khó khăn cho công tác thi hành án.

Thứ tư, về hiệu lực của thỏa thuận thi hành án dân sự, hiện nay, pháp luật thi hành án dân sự chưa có quy định liên quan đến hiệu lực thỏa thuận thi hành án dân sự. Về nguyên tắc, thỏa thuận của các đương sự nếu không trái với quy định pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bên thứ ba thì được ghi nhận và thực hiện. Tuy nhiên, trường hợp các đượng sự không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc chỉ thực hiện đúng một phần nghĩa vụ đã thỏa thuận, pháp luật chưa có quy định bắt buộc phải tiếp tục thực hiện thỏa thuận của các bên hay thực hiện theo bản án, quyết định dân sự.

3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc

– Do điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ ngày càng đa dạng, phức tạp, nhiều quan hệ mới phát sinh, điều này dẫn đến tình trạng có những quy định pháp luật chỉ áp dụng trong một thời gian ngắn vì không còn phù hợp với thực tế, có những quy định có nhiều cách hiểu khác nhau hoặc chưa được hướng dẫn kịp thời nên chưa được áp dụng thống nhất.

– Mặc dù biên chế của cơ quan thi hành án không ngừng được tăng cường, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được khối lượng công việc, dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc. Biên chế của cơ quan thi hành án hiện nay ít hơn biên chế của Tòa án, trong khi cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành hầu như tất cả các bản án, quyết định về tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của các Tòa án các cấp. Về cơ sở vật chất, mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ, thì mức ngân sách cấp cho các cơ quan thi hành án còn rất hạn chế, kinh phí, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ cũng chưa được đáp ứng đủ.

– Theo quy định, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm ra các quyết định thi hành án, phân công chấp hành viên thi hành vụ việc; quản lý và đôn đốc, hướng dẫn nghiệp vụ đối với việc thi hành án; kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp thi hành án hiệu quả. Nếu xét thấy chấp hành viên không thể hoàn thành nhiệm vụ, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền sử dụng các biện pháp về hành chính, tổ chức, tài chính để thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ của chấp hành viên các đơn vị thi hành án thuộc quyền quản lý của mình. Để làm được điều này, đòi hỏi thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự phải nắm chắc được khối lượng việc và trạng thái thực hiện công việc của các chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự thuộc quyền quản lý của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp để nâng cao kết quả thi hành án. Nhưng trên thực tế cho thấy, hiện tại vẫn còn nhiều nơi, thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự chưa thực sự nắm vững được khối lượng công việc, trạng thái công việc của chấp hành viên và các đơn vị thuộc quyền quản lý, nên sự chỉ đạo, điều hành chưa kịp thời và hiệu quả chưa cao, dẫn tới kết quả thi hành án không cao.

– Chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan với cơ quan thi hành án trong quá trình thi hành án. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa áp dụng kịp thời, đầy đủ các biện pháp ngăn chặn như: Kê biên, phong tỏa, tạm giữ tài sản của người phạm tội, ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản, nhất là trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, buôn lậu có giá trị lớn, cho nên đến giai đoạn thi hành án, người phải thi hành án đã tẩu tán hết tài sản, làm cho số án này trở thành không có điều kiện thi hành hoặc tang vật, tài sản đã thu giữ không được chuyển giao đầy đủ, kịp thời theo hồ sơ cho cơ quan thi hành án theo quy định, gây khó khăn cho việc xử lý tài sản để thi hành án.

– Đội ngũ chấp hành viên nói riêng và đội ngũ cán bộ, công chức trong Ngành Thi hành án nói chung cũng có những hạn chế nhất định. Trong những năm vừa qua, đội ngũ chấp hành viên đã được đào tạo một cách cơ bản, đội ngũ mới hầu hết đều phải qua lớp đào nghề chấp hành viên mới được bổ nhiệm. Bên cạnh đó, để nâng cao trình độ cho số chấp hành viên cũ và các cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự khác, Cục Thi hành án dân sự cũng thường xuyên phối hợp với các đơn vị hữu quan tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ để cập nhật những văn bản, kiến thức mới cho đội ngũ này. Chính vì vậy, trong những năm vừa qua, đội ngũ chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ số lượng mà chất lượng cũng được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một số chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự do thiếu rèn luyện, tu dưỡng và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã không theo kịp sự phát triển của Ngành, năng lực làm việc chưa đáp ứng được các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Chính vì vậy, kết quả tổ chức thi hành án chưa cao, dẫn tới những việc được giao thi hành phải chuyển sang năm sau nhiều.

– Trình độ, sự thiếu hiểu biết pháp luật của một bộ phận đương sự cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến các thỏa thuận thi hành án dân sự. Mặc dù vậy, cũng có những trường hợp do đương sự am hiểu pháp luật nên đã có thỏa thuận thi hành án dân sự nhằm mục đích kèo dài thời gian thi hành án. Có những trường hợp đương sự chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác, gây khó khăn cho việc thỏa thuận của các bên.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, trong pháp luật thi hành án, hiện tại mới quy định đối tượng là đương sự trong thỏa thuận thi hành án dân sự. Trong khi đó, vấn đề thỏa thuận thi hành án dân sự không chỉ liên quan đến đương sự mà còn liên quan đến người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Việc không có quy định liên quan đến đối tượng này, một mặt, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đối tượng này, vì không được tham gia vào thỏa thuận thi hành án dân sự nên họ không có tiếng nói trong thỏa thuận liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình, họ cũng không biết các đương sự thỏa thuận như thế nào, thỏa thuận đó ảnh hưởng đến mình ra sao, họ ở thế bị động trong thỏa thuận thi hành án dân sự; mặt khác, vì không được tham gia vào thỏa thuận dân sự, nên họ có tâm lý bị bỏ rơi trong thỏa thuận, họ có thể không thực hiện những thỏa thuận của đương sự vì cho rằng mình không được tham gia thảo luận, không có tiếng nói. Chính vì vậy, cần thiết phải có quy định người có quyền và nghĩa vụ liên quan được tham gia vào thỏa thuận thi hành án dân sự.

Thứ hai, Luật Thi hành án dân sự quy định trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu, sử dụng chung biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Với quy định trên, người phải thi hành án có phần tài sản trong tài sản chung mà cố tình không tự nguyện thi hành án sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế. Nhưng để xác định đúng phần thuộc sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung thì phải do các đồng sở hữu chung thỏa thuận. Vì người phải thi hành án không tự nguyện nên việc tự thỏa thuận không thể đạt được, mà những người đồng sở hữu cũng không thực hiện việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án.
Trong trường hợp này, cần quy định chế tài khi người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu, sử dụng chung cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung phải thi hành án hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ ba, pháp luật thi hành án hiện tại chỉ quy định đương sự có quyền thỏa thuận trong thi hành án dân sự. Việc thỏa thuận này trong luật không quy định rõ là khi nào, trong giai đoạn tự nguyện hay giai đoạn cưỡng chế, trước hay sau khi có quyết định thi hành án. Chính vì điều này nên bản thân đương sự dù có quyền nhưng không biết thực hiện như thế nào cho phù hợp, cũng có trường hợp lợi dụng quy định chung chung như vậy để kéo dài thời gian thi hành án. Do vậy, cần phải quy định rõ về hiệu lực thỏa thuận thi hành án.

Thứ tư, trong thỏa thuận dân sự thi hành án, chấp hành viên có vai trò quan trọng, chấp hành viên là người động viên đương sự cùng nhau thỏa thuận thi hành án dân sự, giúp việc thi hành án được nhanh chóng. Chấp hành viên là người hướng dẫn để đương sự vừa thực hiện đúng quy định pháp luật vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực, trình độ của chấp hành viên là rất quan trọng.

Khi nhận được hồ sơ thi hành án, chấp hành viên phải nắm chắc đặc thù, đặc điểm bản án đang thi hành, phải hiểu rõ nhân than của các đương sự. Chấp hành viên còn phải nắm rõ những mâu thuẫn, tranh chấp nào đã phát sinh nhằm chứng minh được nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của đương sự và tính đúng đắn của các quy phạm pháp luật do Tòa án áp dụng để giải quyết vụ việc, từ đó, xây dựng được kế hoạch cho những bước tiếp theo.

Thứ năm, việc đương sự thỏa thuận thi hành án dân sự về bản chất là thỏa thuận dân sự, thỏa thuận này trên cơ sở tự nguyện, nên trong quá trình thi hành án mà một bên đương sự không thiện chí thi hành sẽ gây khó khăn cho quá trình thi hành án. Chính vì vậy, cần quy định rằng, sự thỏa thuận của đương sự được ghi nhận và có giá trị như một “vi bằng” do chấp hành viên lập, có như vậy mới đảm bảo quyền lợi cho các bên khi tiến hành thoả thuận.

Tài liệu tham khảo:
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
2. Nguyễn Thanh Thủy, Luận án tiến sỹ Luật học, Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008.
Nguyễn Nhàn, Bàn về vấn đề thỏa thuận thi hành án dân sự ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, đăng trên 3. https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=805, ngày 09/9/2016.
ThS. TRẦN TRUNG
Khoa Luật, Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Tạp chí Dân chủ & Pháp luật