/ Phân tích - Nghiên cứu
/ Tự chủ chiến lược và hệ sinh thái phát triển: Từ thông điệp nhậm chức đến tầm nhìn vận hành đất nước của Tổng Bí thư Tô Lâm

Tự chủ chiến lược và hệ sinh thái phát triển: Từ thông điệp nhậm chức đến tầm nhìn vận hành đất nước của Tổng Bí thư Tô Lâm

09/04/2026 10:10 |

(LSVN) - Trong bài phát biểu lúc nhậm chức Chủ tịch nước, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu định hướng: “Kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, thực hiện tự chủ chiến lược, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Chúng ta thấy rằng, nếu chỉ đọc như một câu chính trị thông thường sẽ thấy đó là một tổ hợp khái niệm quen thuộc: Phát triển, ổn định, bền vững, tự chủ. Nhưng nếu đọc kỹ theo logic của một người đứng đầu quốc gia, đây không chỉ là lời khẳng định mục tiêu, mà là một gợi mở về cách thiết kế lại trật tự ưu tiên của quốc gia trong giai đoạn mới.

Điểm đáng chú ý nhất là phát biểu này không nói theo lối liệt kê nhiệm vụ, mà hàm chứa một chuỗi tư duy khá rõ: Phải kiến tạo một hệ sinh thái phát triển mới; trên nền đó mới thực hiện được tự chủ chiến lược; và khi cấu trúc phát triển được tổ chức đúng, phát triển sẽ trở thành nguồn gốc của ổn định, còn ổn định sẽ trở thành điều kiện để phát triển nhanh hơn nhưng không đánh đổi sự bền vững. Ở đây, tư duy của người đứng đầu không dừng ở quản lý hiện trạng, mà nghiêng về thiết kế lại nền tảng vận hành.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Nguồn: Quochoi.vn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Nguồn: Quochoi.vn.

Sắp xếp lại thứ tự vận hành quốc gia

Trong tư duy điều hành truyền thống, ổn định thường được đặt lên trước, phát triển theo sau. Nói cách khác, ổn định được xem là điều kiện tiên quyết, còn phát triển là kết quả cần đạt tới. Cách tiếp cận đó có lý trong những giai đoạn cần giữ nền tảng, tránh xáo trộn và bảo đảm trật tự chung. Nhưng nếu kéo dài quá lâu dễ tạo ra một mô hình vận hành nặng về phòng thủ: Ưu tiên an toàn trước mắt, chậm chấp nhận thay đổi, ngại cải cách mạnh, và do đó nhiều khi giữ được sự yên ổn bề mặt nhưng không tạo ra sức bật đủ lớn cho tương lai.

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm cho thấy một cách đặt vấn đề khác. Ở đây, phát triển không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà được nâng lên thành công cụ tạo ra ổn định, đó là một chuyển dịch rất đáng chú ý. Bởi lẽ, nếu nhìn sâu vào bản chất của một quốc gia hiện đại, ổn định không thể chỉ được tạo ra bằng mệnh lệnh hành chính, bằng siết chặt quản lý hay bằng sự dè dặt trong thay đổi. Ổn định bền vững chỉ hình thành khi xã hội có cơ hội đi lên, doanh nghiệp có niềm tin đầu tư dài hạn, nguồn lực được phân bổ minh bạch hơn, thị trường vận hành đáng tin cậy hơn, và khi bộ máy công quyền tạo ra cảm giác dự báo được. Nói cách khác, tư duy này đang dịch chuyển từ “giữ ổn định để phát triển” sang “phát triển đúng để tạo ra ổn định thật”. Đó không phải một thay đổi nhỏ về ngôn từ mà là thay đổi về triết lý điều hành. Thừa nhận rằng nếu một quốc gia chỉ lo giữ cân bằng hiện tại mà không tạo động lực mới thì chính sự trì trệ ấy sẽ làm tích tụ bất ổn trong tương lai. Ngược lại, nếu quốc gia biết kiến tạo một cấu trúc phát triển đủ mạnh, đủ minh bạch, đủ liên kết, thì phát triển sẽ trở thành nền móng của ổn định. Đây là điểm mới đầu tiên và cũng là điểm có tầm nhìn nhất: Ổn định không còn được hiểu như trạng thái tĩnh, mà như sản phẩm của một cấu trúc phát triển được tổ chức đúng.

“Tự chủ chiến lược” và kỳ vọng nâng cấp năng lực quốc gia

Trong không gian chính trị và chính sách, “tự chủ” là một từ thường xuyên được nhắc đến. Nhưng nhiều khi bị hiểu khá hẹp như: Giảm lệ thuộc, tăng tự lực, cố gắng tự làm nhiều hơn. Cách hiểu đó không sai, nhưng chưa đủ cho một thời đại mà một quốc gia không thể tách mình khỏi thế giới, chuỗi cung ứng, công nghệ, tài chính, dữ liệu và các tương tác quyền lực toàn cầu.

Nếu đặt phát biểu của Tổng Bí thư vào đúng tầm, ta phải hiểu rằng “tự chủ chiến lược” ở đây không phải lời kêu gọi đóng cửa, càng không phải tư duy tự cô lập. Đó là yêu cầu xây dựng năng lực chủ động quốc gia trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau. Nghĩa là hội nhập nhưng không để mất quyền định đoạt; mở cửa nhưng không để các mắt xích sống còn của nền kinh tế bị đặt hoàn toàn ngoài khả năng kiểm soát; phát triển nhưng không dựa chủ yếu vào những nguồn lực vay mượn, dễ đảo chiều và ít tạo nền nội sinh. Vì thế, khái niệm “tự chủ chiến lược” trong tư duy này phải được đọc như một yêu cầu ở cấp độ cấu trúc. Quốc gia muốn tự chủ thì phải có doanh nghiệp nội đủ sức cạnh tranh, phải có thể chế đủ nhất quán để tạo niềm tin lâu dài, phải có dữ liệu đủ mạnh để điều hành, phải có nguồn nhân lực đủ chất lượng để hấp thụ công nghệ, phải có thị trường đủ minh bạch để vốn và nguồn lực chảy đúng hướng, và phải có bộ máy đủ kỷ luật để biến ý chí chính trị thành kết quả thực tế. Nếu thiếu những điều đó, nói tự chủ nhiều mấy cũng vẫn dễ rơi vào tình trạng tăng trưởng có nhưng nền tảng yếu, hội nhập sâu nhưng sức chống chịu thấp, phát triển nhanh nhưng lệ thuộc lớn. Một quốc gia như vậy có thể đạt thành tích ngắn hạn, nhưng rất khó giữ được thế chủ động khi môi trường bên ngoài thay đổi.

Bởi vậy, tầm nhìn của Tổng Bí thư ở đây không phải chỉ là phát triển đất nước theo nghĩa tăng thêm các chỉ tiêu. Sâu hơn, đó là kỳ vọng nâng cấp năng lực quốc gia từ bên trong. Tức là làm cho Việt Nam không chỉ lớn hơn về quy mô, mà vững hơn về thế đứng; không chỉ tăng trưởng cao hơn, mà có quyền lựa chọn nhiều hơn; không chỉ hội nhập rộng hơn, mà có sức chống chịu tốt hơn. Nếu tư duy này đi đến cùng, Việt Nam sẽ được dẫn theo hướng của một nền kinh tế không sống dựa vào quán tính tăng trưởng rẻ và phân tán, mà từng bước chuyển sang một mô hình phát triển coi trọng năng lực nội sinh, năng lực tổ chức và năng lực kiểm soát những điểm tựa chiến lược.

“Hệ sinh thái phát triển mới” là tín hiệu cho thấy tư duy điều hành đang thay đổi

Đây có lẽ là cụm từ giàu hàm ý nhất trong toàn bộ phát biểu. Bởi lẽ, một quốc gia có thể có rất nhiều chính sách, rất nhiều chương trình, rất nhiều khẩu hiệu cải cách, nhưng vẫn không cất cánh nếu các thành tố ấy vận hành rời rạc. Đó là căn bệnh không hiếm: mỗi ngành làm việc theo logic của mình, mỗi cấp quản lý giữ dữ liệu của mình, mỗi khâu bảo vệ lợi ích của mình, và cuối cùng cả hệ thống có đủ bộ phận nhưng không tạo ra được sức mạnh tổng hợp.

Nói “kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới” nghĩa là người đứng đầu không muốn chỉ sửa từng mắt xích riêng lẻ, mà muốn nhìn cả hệ thống như một chỉnh thể cần được tổ chức lại. “Hệ sinh thái” ở đây phải được hiểu là mạng lưới liên kết giữa thể chế, thị trường, hạ tầng, dữ liệu, doanh nghiệp, khoa học công nghệ, nhân lực và bộ máy thực thi. Khi các thành tố này liên thông với nhau, chúng sẽ không chỉ cộng dồn, mà hỗ trợ và khuếch đại lẫn nhau. Ngược lại, nếu mỗi thành tố tồn tại theo kiểu mạnh ai nấy chạy, thì tăng trưởng dù có xuất hiện cũng khó bền, khó lan tỏa và khó nâng cấp chất lượng.

Điểm rất đáng suy nghĩ là chữ “mới”. Nó cho thấy người đứng đầu không chỉ nói về phát triển, mà nói về một mô hình phát triển khác với quán tính cũ. Quán tính cũ là gì? Là phát triển theo kiểu chia cắt ngành dọc, thủ tục chồng lấn, chính sách thiếu ăn khớp, dữ liệu như những “ốc đảo”, trách nhiệm nhiều nơi bị hòa tan trong tập thể, đổi mới sáng tạo được nhắc đến nhiều nhưng cơ chế lại chưa thật sự mở đường. Quán tính đó có thể giúp vận hành một giai đoạn nhất định, nhưng không còn đủ cho một giai đoạn đòi hỏi tốc độ, chất lượng, tính liên kết và sức chống chịu cao hơn.

Một “hệ sinh thái phát triển mới” vì vậy không thể chỉ là thêm một vài ưu đãi đầu tư hay một vài chương trình hỗ trợ doanh nghiệp. Nó phải là một cuộc tái tổ chức lớn hơn: thể chế phải minh bạch hơn, dữ liệu phải liên thông hơn, thị trường phải phát tín hiệu thật hơn, bộ máy phải chịu trách nhiệm rõ ràng, doanh nghiệp tư nhân phải được đặt vào vai trò lớn, khoa học công nghệ phải được kết nối với sản xuất và quản trị, còn người dân phải được nhìn thấy cơ hội phát triển của mình gắn với sự vận hành tốt lên của cả hệ thống.

Nếu hiểu như vậy, tư duy của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ở đây mang màu sắc kiến tạo rất rõ. Nhà nước không chỉ là chủ thể quản lý, mà phải trở thành người tổ chức lại cấu trúc phát triển quốc gia. Và một khi Nhà nước chấp nhận vai trò đó, thì cách điều hành cũng phải thay đổi: không thể chỉ giải quyết vụ việc, mà phải giải quyết bằng cấu trúc; không thể chỉ tháo gỡ từng điểm nghẽn, mà phải thiết kế để hệ thống ít sinh ra điểm nghẽn hơn; không thể chỉ nói cải cách, mà phải tạo ra một cơ chế khiến cải cách tự nó trở thành động lực của vận hành.

Một niềm hy vọng mới

Một tư duy chính trị chỉ có sức sống khi nó đi từ diễn đàn vào thực tiễn. Vì vậy, câu hỏi quan trọng nhất không phải là phát biểu hay đến đâu, mà là nếu tư duy ấy trở thành đường hướng chỉ đạo lâu dài, xã hội có thể chờ đợi điều gì.

Điều đầu tiên người dân có thể chờ đợi là một cách điều hành ít phân mảnh hơn. Tức là các quyết sách lớn không dừng ở từng ngành, từng cấp, mà được kết nối theo mục tiêu chung; bộ máy không chỉ làm đúng quy trình, mà phải chịu trách nhiệm rõ ràng về kết quả; và phát triển không còn được nhìn như nhiệm vụ riêng của khu vực kinh tế, mà trở thành trục trung tâm liên kết chính sách, an ninh, đối ngoại, xã hội và quản trị.

Điều thứ hai là một Nhà nước đòi hỏi kỷ luật thực thi cao hơn. Bởi nếu muốn kiến tạo hệ sinh thái phát triển, thì không thể để tình trạng chính sách trên nóng dưới lạnh, chủ trương lớn nhưng triển khai chậm, trách nhiệm tập thể nhưng hiệu quả cá nhân mờ nhạt tiếp tục kéo dài. Người dân có quyền kỳ vọng rằng một tư duy lớn đi kèm với yêu cầu lớn về trách nhiệm công vụ: ai làm chậm, ai làm méo, ai cản trở dòng chảy phát triển phải bị nhận diện rõ ràng cụ thể.

Điều thứ ba là một mô hình phát triển đặt trọng tâm vào năng lực quốc gia, chứ không chỉ vào con số tăng trưởng. Nếu đi theo hướng này, câu chuyện phát triển sẽ không dừng ở GDP, mà mở rộng ra thành chất lượng thể chế, mức độ minh bạch của thị trường, năng lực liên thông dữ liệu, sức lớn lên của doanh nghiệp Việt Nam, khả năng chống chịu của nền kinh tế và cơ hội đi lên thực chất của người dân. Đây là kỳ vọng lớn nhất, bởi nó liên quan trực tiếp tới cảm nhận của xã hội: đất nước có thật sự đang đi lên bằng nội lực hay không.

Nhưng cũng phải nói thẳng: Tầm nhìn nào cũng chỉ trở thành lịch sử khi đi qua được thử thách của thực thi, chính ở đây dấu ấn lãnh đạo sẽ được đo lường. Một nguyên thủ quốc gia có thể nêu ra định hướng lớn, nhưng để định hướng ấy chuyển thành năng lực quốc gia thì cần một điều khó hơn nhiều: Biến ý chí chính trị thành kỷ luật hệ thống. Nếu làm được điều đó, tư duy của Tổng Bí thư Tô Lâm sẽ không chỉ là một thông điệp nhậm chức, mà có thể trở thành dấu mốc chuyển pha trong cách đất nước tự tổ chức mình cho một giai đoạn phát triển mới.

Phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư Tô Lâm như là sự phác thảo một mô hình điều hành mới. Trong mô hình đó, tự chủ chiến lược là đích đến; hệ sinh thái phát triển mới là phương thức tổ chức nguồn lực; còn quan hệ giữa phát triển và ổn định được đặt lại trên một nền tảng tư duy khác: phát triển không đi sau ổn định, mà trở thành điều kiện để tạo ra ổn định bền vững.

Điểm sâu nhất của tư duy này nằm ở chỗ không bằng lòng với việc quản lý cái đang có mà hàm ý một yêu cầu cao hơn là phải kiến tạo cái đất nước cần có. Mặt khác phải tổ chức lại nền tảng vận hành quốc gia theo hướng liên kết hơn, kỷ luật hơn, chủ động hơn và có năng lực tự cường cao hơn.

Nếu đó là trục chỉ đạo xuyên suốt trong thời gian tới, thì Việt Nam có thể được dẫn dắt theo hướng của một quốc gia không chỉ phát triển nhanh hơn, mà còn biết mình muốn đi đâu, bằng cách nào và trên nền sức mạnh nào của chính mình. Và đó mới là dấu hiệu của một tư duy nguyên thủ: Không chỉ xử lý hiện tại, mà định hình tương lai.

PHAN VĂN LÂM

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế Asean, Hội Luật gia Việt Nam.

Các tin khác