Lời mở đầu
Sự bùng nổ của các nền tảng công nghệ số đã làm thay đổi sâu sắc cách thức con người tương tác và tạo ra giá trị kinh tế. Một xu hướng đáng lo ngại là hình ảnh người chưa thành niên ngày càng bị khai thác như một tài sản thương mại, thể hiện qua các chiến dịch quảng cáo và hoạt động xây dựng thương hiệu cá nhân cho trẻ từ khi còn nhỏ. Điều này vừa mang lại giá trị kinh tế nhất định, vừa làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xâm phạm quyền của người chưa thành niên. Hiện nay, các nghiên cứu tại Việt Nam về vấn đề này chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ quyền hình ảnh và mối quan hệ với các quyền nhân thân khác mà chưa phản ánh được dưới góc độ sử dụng hình ảnh vì mục đích thương mại. Trong khi đó, các nghiên cứu tại một số quốc gia đã dần làm rõ hơn những mâu thuẫn pháp lý tồn tại trong pháp luật điều chỉnh vấn đề này, đặc biệt là việc cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp sử dụng hình ảnh của con cái để phục vụ các hoạt động kinh doanh, quảng cáo hoặc xây dựng thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu nhằm nhận diện khoảng trống pháp lý trong quy định về quyền hình ảnh của người chưa thành niên khi bị khai thác thương mại trên nền tảng số tại Việt Nam.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Bài viết hướng đến phân tích những khoảng trống đó và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, tập trung vào đối tượng người chưa thành niên trên các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng chia sẻ nội dung và thương mại điện tử. Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh luật học và nghiên cứu tình huống. Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài viết gồm ba phần chính: cơ sở lý luận về quyền hình ảnh và khai thác thương mại trên nền tảng số; thực trạng pháp luật Việt Nam và những bất cập còn tồn tại; và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế.
Một số vấn đề lý luận về khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên trên các nền tảng công nghệ số
Quyền đối với hình ảnh và khả năng khai thác thương mại hình ảnh
Quyền đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người, được ghi nhận và bảo vệ trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như trong các văn bản pháp lý quốc tế. Về bản chất, quyền đối với hình ảnh là quyền của cá nhân được kiểm soát việc tạo ra, sử dụng, lưu trữ và phổ biến hình ảnh của mình, bao gồm quyền cho phép hoặc từ chối người khác chụp ảnh, quay phim, đăng tải hay khai thác hình ảnh bản thân dưới bất kỳ hình thức nào. Trong khoa học pháp lý, quyền đối với hình ảnh được xem là một bộ phận của quyền riêng tư, gắn liền với quyền về danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân. Đây là quyền mang tính tuyệt đối, nghĩa là mọi chủ thể khác đều có nghĩa vụ tôn trọng và không được xâm phạm nếu không có sự đồng ý của người có quyền. Theo pháp luật Việt Nam, quyền này được quy định tại Điều 32 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (BLDS 2015).
Trong thực tiễn, khi hình ảnh được sử dụng nhằm tạo ra một lợi ích kinh tế nhất định sẽ dẫn đến việc hình thành hoạt động khai thác thương mại quyền hình ảnh. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khai thác thương mại hình ảnh của người khác được pháp luật đề cập gián tiếp qua khoản 1 Điều 32 BLDS 2015 với cụm từ “sử dụng”: “Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý” và “Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Quy định này đặt ra nguyên tắc nền tảng là sự đồng ý, phản ánh quan điểm lập pháp coi hình ảnh cá nhân là tài sản nhân thân không thể bị xâm phạm tùy tiện. Đồng thời, quy định cũng đồng thuận với tình huống hình ảnh của một người có thể được người khác sử dụng, miễn là phải xin phép và khi khai thác thương mại thì phải có một khoản thù lao nhất định. Đây chính là căn cứ pháp lý cho việc khai thác thương mại hình ảnh của một cá nhân.
Đặc thù của việc khai thác thương mại quyền hình ảnh của người chưa thành niên trên các nền tảng công nghệ số
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội trong những thập niên gần đây đã làm cho quyền đối với hình ảnh trở nên phức tạp hơn và đặt ra nhiều thách thức mới trong việc bảo vệ quyền này. Từ đó, việc khai thác thương mại người chưa thành niên xuất hiện những đặc thù riêng biệt như sau:
Đầu tiên, đặc thù của hoạt động này đến từ sự hạn chế về năng lực hành vi của người chưa thành niên. Việc khai thác thương mại quyền hình ảnh của nhóm đối tượng này mang những đặc thù riêng xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và hạn chế về năng lực hành vi. Người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ em ở độ tuổi nhỏ, chưa có đầy đủ khả năng nhận thức về hậu quả của việc hình ảnh của mình bị sử dụng, chia sẻ hay khai thác. Ngoài ra, căn cứ vào độ tuổi mà họ sẽ có mức độ năng lực hành vi nhất định để có thể xác lập các giao dịch dân sự với bên thứ ba. Về phương diện quyền nhân thân, người chưa thành niên là chủ thể đầy đủ của quyền đối với hình ảnh theo quy định tại BLDS 2015; trước hết là chủ thể quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình, đồng thời là chủ thể có lợi ích phát sinh từ hợp đồng khai thác hình ảnh được xác lập bởi người đại diện theo pháp luật và là đối tượng được pháp luật thiết lập cơ chế bảo vệ đặc biệt nhằm bảo đảm nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em. Đặc thù này làm cho pháp luật điều chỉnh hoạt động này trở nên phức tạp hơn khi cần phải gia tăng chức năng bảo vệ cho người chưa thành niên, từ đó có sự giao thoa với ngành luật trẻ em với các quy định siết chặt hơn.
Tiếp đến, chính vì sự hạn chế về năng lực hành vi mà nhóm độ tuổi này có sự phụ thuộc nhất định vào quyết định của người đại diện hợp pháp. Điều này dẫn đến một vấn đề bất cập trong mối quan hệ sử dụng hình ảnh này, khi mà chủ thể quyền và chủ thể đồng ý có thể không đồng nhất: khi người chưa thành niên chưa đạt đến độ tuổi có thể tự định đoạt, cha mẹ và người giám hộ sẽ đóng vai trò là chủ thể đồng ý. Quyền tự đồng ý của người chưa thành niên đối với hình ảnh của mình sẽ thay đổi theo độ tuổi:

Bảng 1. Quyền đồng ý theo độ tuổi. (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp).
Ngoài ra, hoạt động khai thác hình ảnh người chưa thành niên thường có sự tham gia của bên thứ ba, bao gồm các nhãn hàng, đại lý quảng cáo, nền tảng số và các đơn vị trung gian thương mại. Các chủ thể này được thúc đẩy bởi lợi ích thương mại, trong đó các nền tảng mạng xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng và phức tạp. Không đơn thuần là môi trường trung gian thụ động, các nền tảng như YouTube, TikTok hay Instagram chủ động thiết kế các cơ chế thuật toán nhằm ưu tiên hiển thị nội dung có tỷ lệ tương tác cao, trong đó nội dung liên quan đến trẻ em thường thu hút lượng người xem đáng kể. Thông qua các chương trình chia sẻ doanh thu quảng cáo và công cụ kiếm tiền từ nội dung, các nền tảng này tạo ra động lực tài chính trực tiếp khuyến khích cha mẹ liên tục sản xuất và đăng tải hình ảnh, video của con em mình. Bên cạnh đó, dữ liệu hành vi mà các nền tảng thu thập được từ lượng người xem nội dung liên quan đến trẻ em, bao gồm thói quen tiêu dùng, sở thích và nhân khẩu học, bản thân đã là một nguồn giá trị thương mại độc lập. Như vậy, các nền tảng mạng xã hội vừa là người hưởng lợi gián tiếp từ việc khai thác hình ảnh người chưa thành niên, vừa là nhân tố khuếch đại và duy trì hoạt động đó, song lại chưa phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương xứng với vai trò thực tế của mình trong chuỗi khai thác thương mại này.
Cuối cùng, những yếu tố trên dẫn đến một đặc thù là nguy cơ xung đột lợi ích rất lớn. Xung đột lợi ích này có thể đến từ bên ngoài và cũng có thể xuất hiện từ bên trong mối quan hệ đồng ý. Về xung đột lợi ích từ bên ngoài, các nhãn hàng và đơn vị quảng cáo theo đuổi mục tiêu thương mại có thể mâu thuẫn trực tiếp với quyền và lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, đặc biệt khi nội dung được yêu cầu sản xuất có tính chất nhạy cảm hoặc can thiệp vào đời sống riêng tư của trẻ. Về xung đột lợi ích từ bên trong quan hệ đồng ý, đây là chiều cạnh phức tạp và tiềm ẩn hơn. Những người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên được kỳ vọng sẽ xác lập quan hệ pháp luật vì lợi ích của người chưa thành niên; tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, họ được thúc đẩy bởi lợi ích kinh tế mà phía người sử dụng hình ảnh của người chưa thành niên mang lại. Hoặc, chính họ, đồng thời là người sử dụng hình ảnh của người chưa thành niên tự xác lập giao dịch với chính mình. Nói cách khác, cha mẹ hoặc người giám hộ, với tư cách là người đại diện hợp pháp, có thể đồng thời là người thụ hưởng lợi ích tài chính từ chính việc khai thác hình ảnh của con em mình, từ đó tạo ra xung đột giữa vai trò bảo hộ và vai trò khai thác trong cùng một chủ thể.
Quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến việc khai thác thương mại hình ảnh người chưa thành niên trên các nền tảng công nghệ số
Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, việc khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên có thể làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý. Tại Việt Nam, quy định về việc khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên trên các nền tảng công nghệ số không được điều chỉnh bởi một văn bản pháp luật duy nhất mà được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Một là, quy định về quyền đối với hình ảnh của người chưa thành niên. Ở Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đối tượng người chưa thành niên hiện nay có Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, thuộc lĩnh vực hình sự. Những vấn đề dân sự như quyền hình ảnh chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015 và nhóm chủ thể người chưa thành niên do Luật Trẻ em 2016 điều chỉnh. Luật Trẻ em 2016 là văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền và bảo vệ trẻ em tại Việt Nam. Theo đó, Điều 21 Luật này quy định “Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư”; tức là thừa nhận quyền đối với hình ảnh của trẻ em là quyền về đời sống riêng tư. Trẻ em là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương do sự phát triển về mặt thể chất, nhận thức và tâm sinh lý còn hạn chế. Chính vì vậy, việc bảo vệ thông tin và hình ảnh của nhóm chủ thể này nhằm tránh các nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư, đảm bảo sự phát triển lành mạnh cho trẻ. Điều luật này đã tiệm cận với quy định của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Cụ thể, khoản 1 Điều 16 Công ước quy định “Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín cũng như những sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của các em”. Cách tiếp cận của Việt Nam khi coi hình ảnh trẻ em là một phần của đời sống riêng tư nhìn chung phù hợp với tinh thần của Công ước, bởi việc sử dụng hình ảnh cá nhân của chủ thể này mà không có sự đồng ý thì bị coi là hành vi xâm phạm đời sống riêng tư. Ngoài ra, khoản 11 Điều 6 Luật này nghiêm cấm việc “Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em”. Quy định nêu trên thừa nhận quyền tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến đời sống cá nhân của mình.
Hai là, quy định về hoạt động khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên. Trong một số trường hợp, việc khai thác hình ảnh của người chưa thành vì mục đích thương mại có thể được xem là một một dạng lao động trong lĩnh vực nghệ thuật hoặc quảng cáo. Pháp luật Việt Nam mặc dù chưa thừa nhận lao động trẻ em nhưng ở một vài lĩnh vực đặc thù, người chưa đủ 15 tuổi có thể làm những công việc nhất định. Theo đó, khoản 2 Điều 145 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “Người sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật này”. Khoản 3 Điều 145 Bộ luật này nhấn mạnh: “Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”. Về cơ bản, các nhà lập pháp Việt Nam đưa ra những quy định để bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong hoạt động thương mại, bao gồm khai thác thương mại hình ảnh.
Ba là, quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân của người chưa thành niên trên các nền tảng số. Việc thu thập, lưu trữ và chia sẻ hình ảnh, video của người chưa thành niên trên môi trường trực tuyến còn liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân của chủ thể này và trách nhiệm pháp lý khi các dữ liệu bị khai thác hoặc sử dụng trái phép. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 ra đời đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân, đặc biệt trong bối cảnh dữ liệu cá nhân đang phải đối mặt với nhiều rủi ro bị đánh cắp, xâm phạm trên môi trường số. Liên quan tới người chưa thành niên, quyền đối với hình ảnh không chỉ là quyền nhân thân mà được coi là quyền bí mật đời sống riêng tư. Dữ liệu cá nhân là “dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân”. Hình ảnh của người chưa thành niên được coi là dữ liệu cá nhân vì có khả năng nhận diện một cá nhân cụ thể. Chủ thể dữ liệu cá nhân là người được dữ liệu cá nhân phản ánh, đối với vấn đề hình ảnh của người chưa thành niên, người chưa thành niên là chủ thể của dữ liệu này. Theo đó, người chưa thành niên có các quyền sau đây đối với hình ảnh của mình theo quy định tại Điều 4 Luật này. Không chỉ vậy, Luật An ninh mạng 2025 đặt ra quy định về phòng, chống xâm hại trẻ em trên không gian mạng. Khoản 1 Điều 16 Luật An ninh mạng 2025 quy định “Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin, tham gia hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí, bảo vệ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác trên không gian mạng theo quy định của pháp luật”. Khoản 3 Điều này đặt ra các trách nhiệm đối với chủ quản hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet trong việc kiểm soát nội dung liên quan đến trẻ em. Có thể nói, người chưa thành niên nói chung và trẻ em nói riêng là nhóm chủ thể đặc biệt đòi hỏi cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt trên môi trường phi truyền thống phức tạp này.
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý để bảo vệ quyền đối với hình ảnh của người chưa thành niên trong hoạt động thương mại trên không gian số. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi cấp thiết của xã hội, hệ thống pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng thống nhất, cụ thể và bám sát với thực tiễn đời sống, đặc biệt là các quy định về khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên trên nền tảng mạng xã hội.
Thực tiễn khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên trên nền tảng công nghệ số tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện tượng khai thác thương mại hình ảnh của người chưa thành niên trên các nền tảng công nghệ số như TikTok, YouTube, Instagram và Facebook đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt từ giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025. Các kênh family vlog, tài khoản kid influencers (người có sức ảnh hưởng là trẻ em) hay các hoạt động bán hàng có sự tham gia của người chưa thành niên không chỉ thu hút hàng triệu lượt xem mà còn tạo nguồn thu nhập đáng kể từ quảng cáo, tài trợ. Tuy nhiên, thực tiễn này đồng thời bộc lộ nhiều mặt trái nghiêm trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong môi trường số.
Một vụ việc nổi bật gần đây là trường hợp bé P - một người có sức ảnh hưởng là trẻ em khá nổi tiếng trên các nền tảng mạng xã hội tại Việt Nam. Nhờ các video đời thường đáng yêu do gia đình chia sẻ thường xuyên, bé nhanh chóng thu hút lượng lớn người theo dõi và trở thành gương mặt trong nhiều hoạt động quảng cáo, sự kiện truyền thông. Tuy nhiên, sự nổi tiếng sớm này đồng thời làm lộ rõ mặt trái của việc thương mại hóa hình ảnh trẻ em trong môi trường số: em trở thành đối tượng của các bình luận tiêu cực, thậm chí xuất hiện các nhóm anti trên mạng xã hội.
Từ góc độ pháp luật, hành vi này rõ ràng đi ngược nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em được quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật Trẻ em 2016. Trẻ em vốn là nhóm dễ bị tổn thương nhất theo quy định pháp luật, phải được bảo vệ đặc biệt, chăm sóc toàn diện. Quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em phải là điều ưu tiên hàng đầu nay lại xếp sau lợi ích thương mại của cha mẹ. Sự khai thác từ phía cha mẹ không chỉ làm gia tăng nguy cơ bị xâm phạm đời sống riêng tư mà còn có thể gây ra những hệ quả tiêu cực về mặt tâm lý khi trẻ bị khai thác thương mại quá sớm. Việc phơi bày hình ảnh, cảm xúc và sinh hoạt hàng ngày trước hàng triệu người lạ đã đẩy trẻ vào môi trường rủi ro cực cao, gây tổn hại nghiêm trọng về tâm lý như lo âu, tự ti, tổn thương tinh thần lâu dài, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách, danh dự và quyền được tôn trọng đời sống riêng tư của trẻ. Đây chính là những rủi ro nghiêm trọng, khó khắc phục và có thể kéo dài suốt tuổi thơ cũng như giai đoạn trưởng thành khi trẻ bị khai thác thương mại hóa quá sớm.
Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đã quy định khá đầy đủ cơ sở để bảo vệ quyền hình ảnh và đòi bồi thường thiệt hại, song đến nay vẫn chưa tồn tại bất kỳ bản án công khai nào của Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến việc khởi kiện khai thác thương mại hình ảnh người chưa thành niên. Thực trạng này có thể được nhìn nhận từ hai khía cạnh. Thứ nhất, trong các trường hợp bên thứ ba sử dụng hình ảnh trẻ em trái pháp luật, mặc dù pháp luật cho phép cha mẹ với tư cách là người đại diện theo pháp luật có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho con. Tuy nhiên, phần lớn các vụ việc trên thực tế chỉ dùng ở mức khiếu nại hoặc thỏa thuận riêng thay vì đưa ra tòa. Điều này phần nào phản ánh tâm lý chung là muốn giải quyết nhanh gọn, tránh va chạm và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ cũng như gia đình. Thứ hai, phức tạp hơn là các trường hợp chính cha mẹ là người chia sẻ hoặc khai thác hình ảnh của con. Khi việc chia sẻ vượt ra ngoài mục đích đời sống gia đình và mang yếu tố truyền thông hoặc lợi ích khác, nguy cơ xung đột lợi ích bắt đầu xuất hiện, nhưng pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng để xử lý. Ngoài ra, yếu tố văn hóa cũng đóng vai trò đáng kể. Quan niệm coi trọng gia đình khiến các vấn đề liên quan đến trẻ em ít khi được đưa ra giải quyết bằng con đường tố tụng. Vì vậy, nhiều vụ việc chỉ dừng lại ở tranh luận trên mạng xã hội hoặc được xử lý không chính thức, ngoài tòa án. Điều này đặt ra yêu cầu cho các nhà lập pháp cần cân đối giữa quan điểm truyền thống về gia đình, quyền của cha mẹ trước những nguy cơ đe dọa quyền trẻ em trong kỷ nguyên số ngày nay.
Nhìn chung, từ những phân tích trên, có thể thấy một khoảng cách nhất định giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh việc sử dụng hình ảnh trẻ em trên môi trường số ngày càng phổ biến.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
Từ những phân tích về thực trạng và bất cập nêu trên, bài viết đề xuất một số kiến nghị theo ba nhóm giải pháp có tính hệ thống như sau.
Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm đảm bảo quyền của người chưa thành niên. Pháp luật Việt Nam cần bổ sung định nghĩa rõ ràng về "khai thác thương mại hình ảnh người chưa thành niên" trong Luật Trẻ em hoặc ban hành văn bản chuyên biệt điều chỉnh hoạt động này trên không gian mạng, từ đó xác lập phạm vi điều chỉnh thống nhất, tránh tình trạng áp dụng pháp luật rời rạc như hiện nay. Song song với đó, cần xây dựng các cơ chế chuyên biệt cho kid influencers - nhóm đối tượng đang hoạt động thương mại với cường độ cao nhưng lại hoàn toàn vắng mặt trong các quy định pháp luật hiện hành trong Luật Quảng cáo. Ngoài ra, pháp luật cũng cần đặt ra giới hạn về thời gian và tần suất xuất hiện của trẻ trên nền tảng số nhằm bảo vệ sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ, đồng thời ghi nhận quyền được lãng quên như một quyền nhân thân độc lập, cho phép người chưa thành niên yêu cầu xóa bỏ toàn bộ nội dung liên quan đến hình ảnh của mình khi đến tuổi thành niên. Bên cạnh đó, cần xác định rõ trách nhiệm pháp lý của nền tảng trung gian trong việc kiểm soát, giám sát và ngăn chặn các nội dung có dấu hiệu khai thác thương mại hình ảnh người chưa thành niên trái pháp luật.
Thứ hai, cần tăng cường các cơ chế thực thi. Bên cạnh việc hoàn thiện quy phạm thực định, hiệu quả bảo vệ người chưa thành niên còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực thực thi của các cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra nội dung số có sự tham gia của người chưa thành niên, đặc biệt đối với các kênh có lượng người theo dõi lớn và doanh thu thương mại rõ ràng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các nền tảng kỹ thuật số, bao gồm nghĩa vụ báo cáo, cung cấp dữ liệu và thực hiện gỡ bỏ nội dung vi phạm theo yêu cầu, nhằm khắc phục tình trạng khoảng trống giám sát vốn đang tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm tồn tại mà không bị xử lý. Mức chế tài hành chính và hình sự hiện hành cũng cần được xem xét nâng lên tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và giá trị thương mại thu được, từ đó bảo đảm tính răn đe thực sự của pháp luật.
Thứ ba, kết hợp các giải pháp bổ trợ. Ngoài các giải pháp pháp lý và hành chính, cần chú trọng đến nhóm giải pháp bổ trợ mang tính bền vững lâu dài. Cụ thể, cần đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho cha mẹ về quyền nhân thân của trẻ em trong môi trường số, xóa bỏ quan niệm sai lầm rằng cha mẹ có toàn quyền định đoạt hình ảnh của con cái vì mục đích thương mại. Về phía trẻ em, cần xây dựng cơ chế để người chưa thành niên, đặc biệt ở độ tuổi có khả năng nhận thức, có tiếng nói thực chất trong các quyết định liên quan đến hình ảnh của chính mình, thay vì chỉ là đối tượng thụ động chịu sự định đoạt của người lớn. Cuối cùng, nhà nước cần thúc đẩy và khuyến khích các nền tảng kỹ thuật số xây dựng bộ quy tắc tự quản lý ngành có tính ràng buộc cao, trong đó quy định rõ tiêu chuẩn bảo vệ người chưa thành niên như một điều kiện hoạt động tại thị trường Việt Nam.
Kết luận
Khai thác thương mại hình ảnh người chưa thành niên trên các nền tảng công nghệ số là một thực trạng đầy mâu thuẫn. Hoạt động này mang lại cơ hội phát triển kinh tế và thể hiện bản thân, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro bóc lột và xâm phạm quyền riêng tư nghiêm trọng. Tại Việt Nam, hệ thống đã bước đầu thiết lập các nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ quyền về hình ảnh, quyền riêng tư và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của môi trường số, các quy định này vẫn còn tồn tại những khoảng trống nhất định, đặc biệt liên quan đến cơ chế kiểm soát việc sử dụng hình ảnh trẻ em cho mục đích thương mại, trách nhiệm của cha mẹ hoặc người giám hộ, cũng như nghĩa vụ của các nền tảng trung gian. Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà nước hay nhà sản xuất nền tảng, mà là sự phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội. Một môi trường mạng an toàn, lành mạnh và văn minh chỉ có thể được xây dựng khi chúng ta đặt quyền lợi và sự phát triển tự nhiên của trẻ em lên trên các mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn. Việc thực thi nghiêm túc các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, kết hợp với các bộ quy tắc ứng xử đạo đức, sẽ là nền tảng để trẻ em Việt Nam có thể tận dụng lợi thế của công nghệ mà không bị trở thành nạn nhân của nền kinh tế dữ liệu.
Tài liệu tham khảo
- An Chi, Em bé quốc dân Pam òa khóc tại sự kiện: Đừng để tuổi thơ con em trở thành, https://congthuong.vn/em-be-quoc-dan-pam-oa-khoc-tai-su-kien-dung-de-tuoi-tho-con-em-tro-thanh-content-348371.html, truy cập ngày 09/03/2026.
- Quốc hội, Bộ luật dân sự 2015 số 91/2015/QH13.
- Quốc hội, Bộ luật Lao động 2019 số 45/2019/QH14.
- Quốc hội, Luật An ninh mạng 2025 số 116/2025/QH15.
- Quốc hội, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 số 91/2025/QH15.
- Quốc hội, Luật Quảng cáo 2012 (sửa đổi, bổ sung 2025) số 75/2025/QH15.
- Vũ Hồng Minh, Quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Donell Holloway, Surveillance capitalism and children’s data: the Internet of toys and things for children, Media International Australia, 2019, vol.170(1), tr.27-36.
- Iskül, A-M., Kristi, J, 2021, Child Right to Privacy and Social Media – Personal Information Oversharing Parents, https://doi.org/10.2478/bjlp-2021-0012, truy cập ngày 18/03/2026.
PHAN LÊ NA - VŨ BẢO NHI - CHỬ LINH TRANG
Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương.

