1. Kiến tạo quyền lực - sự phát triển biện chứng của tư duy cầm quyền
Quyền lực nhà nước, trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất là công cụ phục vụ nhân dân lao động thực hiện sứ mệnh lịch sử, xây dựng xã hội không có áp bức, bóc lột, hướng tới công bằng, dân chủ và văn minh, chứ không bao giờ là mục tiêu tự thân hay công cụ để một cá nhân, nhóm người thống trị xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng quyền lực nhà nước trong xã hội có giai cấp luôn mang tính giai cấp, và trong nhà nước XHCN, quyền lực phải thuộc về nhân dân lao động, do nhân dân làm chủ, vì lợi ích của nhân dân [6]. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm ấy vào điều kiện Việt Nam, nhấn mạnh rằng “tất cả quyền lực trong nước thuộc về Nhân dân”, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, cán bộ đảng viên chỉ là “công bộc” của dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, nếu xa rời nguyên tắc này sẽ dẫn đến tha hóa, biến chất [7]. Chính vì vậy, quyền lực không phải là đặc quyền đặc lợi mà là trách nhiệm nặng nề, là phương tiện để thực hiện khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Trong hành trình cầm quyền hơn 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi thành lập năm 1930 đến nay, tư duy về tổ chức, vận hành và kiểm soát quyền lực đã trải qua những giai đoạn phát triển biện chứng, phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, phản ánh sự trưởng thành về lý luận và thực tiễn lãnh đạo của một đảng cầm quyền Marxist - Leninist. Giai đoạn đầu, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (1930 - 1986), quyền lực chủ yếu được nhân dân trao cho Đảng thông qua cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, qua sự tín nhiệm lịch sử và tính chính danh cách mạng. Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, xây dựng nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, rồi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền lực thực sự thuộc về liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là cấp độ cơ bản: quyền lực được trao trên nền tảng chính danh cách mạng và sự hy sinh, tin tưởng của nhân dân.

Ảnh minh họa. Nguồn: VOV.
Sang giai đoạn Đổi mới từ Đại hội VI (1986) đến nay, đặc biệt từ Đại hội XII, XIII, trọng tâm tư duy cầm quyền chuyển mạnh sang kiểm soát quyền lực nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tha hóa, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu “kiểm soát chặt chẽ quyền lực”, xây dựng cơ chế để “quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị tha hóa”, đồng thời hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải trình, phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước [8]. Công cuộc PCTN, tiêu cực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định rõ nét tư duy này, với việc ban hành nhiều quy định mới về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống “chạy chức, chạy quyền” [9]. Tư duy kiểm soát quyền lực đã chứng minh hiệu quả lịch sử, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Tuy nhiên, trong điều kiện mới của thế kỷ XXI - khi đất nước đã đạt được những thành tựu cơ bản về ổn định chính trị - xã hội, kinh tế phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng, đồng thời đối mặt với những thách thức lớn từ cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, cạnh tranh địa chính trị và những nguy cơ nội tại từ suy thoái, tư duy cầm quyền cần tiếp tục phát triển biện chứng lên một trình độ cao hơn: từ kiểm soát quyền lực sang kiến tạo quyền lực phục vụ nhân dân. Kiến tạo quyền lực ở đây không phải là phủ định giản đơn những thành tựu của giai đoạn kiểm soát quyền lực, mà là sự kế thừa, nâng tầm và phát triển tất yếu theo quy luật biện chứng: kiểm soát là điều kiện cần để bảo đảm quyền lực không bị tha hóa, giữ cho quyền lực trong sạch, liêm chính; kiến tạo là điều kiện đủ để quyền lực thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sáng tạo, đổi mới, phát triển đất nước và mang lại hạnh phúc thực chất cho nhân dân. Nếu kiểm soát tập trung vào phòng ngừa sai phạm, hạn chế lạm quyền thì kiến tạo chủ động tổ chức, thiết kế quyền lực ngay từ gốc rễ - từ việc lựa chọn, bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực, dám nghĩ dám làm, đến xây dựng cơ chế khuyến khích trách nhiệm, sáng tạo, bảo vệ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung -, biến quyền lực từ “vật cần kiểm soát” thành “nguồn năng lượng phát triển” của dân tộc.
Đây chính là bước tiến về chất trong tư duy cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên Đại hội XIV, phản ánh rõ nét bản lĩnh lý luận sắc bén, tầm nhìn chiến lược sâu rộng và năng lực tự đổi mới không ngừng của một đảng cầm quyền Marxist - Leninist trong điều kiện xây dựng CNXH ở một quốc gia đang phát triển [10]. Sự chuyển hóa này không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn của giai đoạn cách mạng mới mà còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới, khẳng định rằng Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân làm trung tâm, luôn lấy hạnh phúc nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động cầm quyền.
2. Các cấp độ tổ chức và vận hành quyền lực
Trong khoa học chính trị Marxist - Leninist, Tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận xây dựng đảng cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền lực nhà nước luôn được nhìn nhận như một hiện tượng xã hội phức hợp, mang bản chất giai cấp, là công cụ để giai cấp cầm quyền thực hiện sứ mệnh lịch sử, đồng thời phải được tổ chức, vận hành và kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng trong nhà nước XHCN, quyền lực phải được trao cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, không để rơi vào tay cá nhân hay nhóm lợi ích, tránh nguy cơ tha hóa, quan liêu, tham nhũng [11]. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm ấy, nhấn mạnh rằng “cán bộ là công bộc của dân”, quyền lực nhà nước phải được kiểm soát bằng cơ chế dân chủ thực chất, bằng sự giám sát của nhân dân, bằng đạo đức cách mạng và kỷ luật nghiêm minh của Đảng, để quyền lực luôn hướng tới mục tiêu “làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [12].
Từ nền tảng lý luận ấy, trong lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt qua các văn kiện Đại hội từ khóa XII đến XIII và các nghị quyết Trung ương, quyền lực có thể được phân tích một cách biện chứng qua ba cấp độ phát triển liên tục, phản ánh quá trình trưởng thành về nhận thức và thực tiễn cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng CNXH và hội nhập quốc tế. Ba cấp độ này không phải là các giai đoạn tách biệt mà là sự kế thừa, phát triển tất yếu, trong đó cấp độ cao hơn bao hàm và nâng tầm các cấp độ trước, phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng.
Cấp độ đầu tiên là quyền lực được trao - đây là cấp độ cơ bản nhất, nền tảng của mọi hệ thống quyền lực chính trị. Quyền lực ở cấp độ này dựa trên tính chính danh lịch sử, trên sự tín nhiệm cách mạng và sự hy sinh, tin tưởng của nhân dân dành cho đảng cầm quyền. Không có sự trao quyền tự nguyện, tự giác từ nhân dân, thông qua đấu tranh cách mạng, qua bầu cử dân chủ và qua sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, mọi cơ chế tổ chức quyền lực sau này đều trở nên hình thức, thiếu sức sống và dễ bị tha hóa. Trong lịch sử Việt Nam, cấp độ này được thể hiện rõ nét qua việc nhân dân trao quyền lực cho Đảng Cộng sản trong Cách mạng Tháng Tám 1945, xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á -, và tiếp tục củng cố qua các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong giai đoạn đầu Đổi mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “tất cả quyền lực trong nước thuộc về nhân dân”, quyền lực được trao không phải là đặc quyền mà là trách nhiệm nặng nề, cán bộ chỉ là “đày tớ trung thành của dân” [13]. Không có nền tảng chính danh này, mọi nỗ lực kiểm soát hay kiến tạo quyền lực đều thiếu cơ sở thực tiễn và lý luận.
Cấp độ thứ hai là quyền lực được kiểm soát - đây là cấp độ mà nhiều hệ thống chính trị hiện đại, đặc biệt các nhà nước pháp quyền XHCN, hướng tới như một yêu cầu cấp thiết trong điều kiện cầm quyền lâu dài. Ở cấp độ này, trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện các cơ chế phân công, phối hợp, giám sát, cân bằng quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời áp dụng chế tài nghiêm minh để phòng ngừa lạm quyền, tha hóa, tham nhũng, tiêu cực. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định rõ ràng yêu cầu “kiểm soát chặt chẽ quyền lực bằng cơ chế”, “quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm”, hoàn thiện cơ chế để “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và “không muốn tham nhũng” [14]. Tư duy kiểm soát quyền lực ở cấp độ này mang tính phản ứng và phòng ngừa là chính: phát hiện và ngăn chặn sai phạm, bảo đảm quyền lực không bị lạm dụng, giữ vững tính trong sạch, liêm chính của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những thành tựu nổi bật trong công cuộc PCTN, tiêu cực hơn một thập kỷ qua chính là minh chứng sống động cho hiệu quả của cấp độ này, khi Đảng đã kiên quyết xử lý nhiều vụ việc nghiêm trọng, không có vùng cấm, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ.
Cấp độ thứ ba, cao nhất và mang tính chiến lược lâu dài, là quyền lực được kiến tạo - cấp độ mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang hướng tới trong kỷ nguyên Đại hội XIV như một bước phát triển biện chứng tất yếu. Khác biệt căn bản với cấp độ kiểm soát, vốn chủ yếu mang tính phản ứng, phòng ngừa sai phạm, kiến tạo quyền lực là tư duy chủ động, mang tính chiến lược hệ thống: chủ động thiết kế, tổ chức quyền lực ngay từ gốc rễ để quyền lực tự thân trở thành nguồn lực sáng tạo, động lực phát triển mạnh mẽ và công cụ hiệu quả nhất phục vụ nhân dân, phục vụ khát vọng dân tộc. Kiến tạo không chỉ dừng lại ở việc “không để sai” mà hướng tới việc khuyến khích “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, từ khâu tuyển chọn, bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực, tầm nhìn chiến lược, đến xây dựng cơ chế vận hành minh bạch, khoa học, khuyến khích đổi mới, bảo vệ cán bộ dám đột phá sáng tạo, đồng thời tạo môi trường để mọi chủ thể quyền lực đều hướng tới mục tiêu phát triển đất nước và hạnh phúc nhân dân [15]. Đây chính là sự chuyển hóa từ tư duy “quản lý - kiểm soát” sang “kiến tạo - phát triển”, như một số phân tích lý luận gần đây đã chỉ ra, nhằm giải phóng năng lượng sáng tạo của hệ thống chính trị trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh toàn cầu gay gắt [16].
Kiến tạo quyền lực đòi hỏi một tư duy hệ thống toàn diện, biện chứng, trong đó Đảng không chỉ kiểm soát mà còn chủ động kiến thiết thể chế, xây dựng môi trường chính trị lành mạnh để quyền lực trở thành “nguồn năng lượng phát triển” của dân tộc, thay vì chỉ là “vật cần kiểm soát” để tránh sai phạm. Đây chính là bước tiến mới về chất trong lý luận cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, khẳng định tầm vóc lý luận và bản lĩnh chính trị của một đảng cầm quyền Marxist - Leninist trong thế kỷ XXI [17].
3. Đánh giá thực tiễn Việt Nam: Thành tựu nổi bật, giới hạn cấu trúc và yêu cầu chuyển hóa tư duy cầm quyền
Trong hơn một thập kỷ qua, đặc biệt từ Đại hội XII (2016) đến nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021 - 2026), công cuộc PCTN, tiêu cực, lãng phí và xây dựng, chỉnh đốn Đảng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Phú Trọng và tiếp nối bởi đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, đã đạt được những thành tựu đặc biệt xuất sắc, mang tính đột phá lịch sử, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN. Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII (tháng 12/2025), đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định rõ ràng rằng cuộc đấu tranh này đã tạo đột phá toàn diện, xử lý kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, với việc thi hành kỷ luật 174 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có cả một số đồng chí nguyên là lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước [18]. Những vụ việc lớn, phức tạp như các vụ án liên quan đến Việt Á, FLC, Vạn Thịnh Phát, các sai phạm trong lĩnh vực y tế, chứng khoán, đất đai đã được phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm minh, thu hồi hàng nghìn tỷ đồng tài sản cho Nhà nước, đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ chế kiểm soát quyền lực ngày càng chặt chẽ, từ việc ban hành các quy định về trách nhiệm nêu gương, kiểm soát tài sản, thu nhập đến đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai minh bạch và ứng dụng công nghệ số trong phòng ngừa tham nhũng [19]. Những thành tựu này không chỉ nâng cao rõ rệt ý thức liêm chính, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn nhận được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ từ nhân dân - thể hiện qua các cuộc khảo sát dư luận xã hội cho thấy niềm tin vào Đảng và Nhà nước đạt mức cao nhất trong nhiều năm - đồng thời được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, với chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam cải thiện đáng kể, khẳng định rằng chống tham nhũng, tiêu cực không kìm hãm mà trái lại thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, tạo môi trường đầu tư lành mạnh và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế [20].
Tuy nhiên, với tinh thần chính luận khoa học biện chứng, khách quan và tự phê bình của một đảng cầm quyền Marxist - Leninist, cần nhận diện rõ ràng rằng tư duy cầm quyền “chủ yếu kiểm soát quyền lực” - dù đã chứng minh hiệu quả lịch sử trong giai đoạn phòng ngừa tha hóa - cũng bộc lộ những giới hạn mang tính cấu trúc nội tại, đặc biệt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu bứt phá mạnh mẽ. Khi trọng tâm quá nghiêng về phòng ngừa sai phạm, chế tài nghiêm khắc và giám sát chặt chẽ, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên dễ rơi vào tâm lý “an toàn hóa quyền lực”, né tránh trách nhiệm, sợ quyết định lớn, dẫn đến hiện tượng “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm cũng không sai” - một biểu hiện tiêu cực đã được lãnh đạo Đảng chỉ ra tại nhiều hội nghị Trung ương và được phản ánh trong các phân tích lý luận gần đây [21]. Hậu quả của giới hạn này là làm giảm tính năng động, sáng tạo của hệ thống chính trị, kìm hãm tiềm năng đổi mới đột phá ở các lĩnh vực then chốt như cải cách thể chế, thu hút đầu tư chiến lược, ứng phó cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, các thách thức từ biến đổi khí hậu, già hóa dân số và địa chính trị phức tạp. Nếu chỉ dừng lại ở kiểm soát để “không sai”, quyền lực sẽ thiếu sức sống sáng tạo, không phát huy được vai trò động lực phát triển, dẫn đến nguy cơ chậm lại đà tăng trưởng, bỏ lỡ cơ hội lịch sử để Việt Nam vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI [22].
Chính thực tiễn phong phú và sinh động ấy đang đặt ra yêu cầu cấp thiết, tất yếu phải chuyển hóa tư duy cầm quyền một cách căn bản, sâu sắc: từ trọng tâm kiểm soát quyền lực chống tha hóa sang chủ động kiến tạo quyền lực phục vụ nhân dân, nhằm giải phóng tối đa năng lượng sáng tạo của hệ thống chính trị, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời bảo vệ những người dám đổi mới, đột phá sáng tạo. Sự chuyển hóa này không phải phủ nhận thành tựu kiểm soát quyền lực mà là sự kế thừa, phát triển biện chứng, như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh tại các hội nghị gần đây rằng PCTN phải quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn, nhưng đồng thời cần kết hợp với xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, thúc đẩy đổi mới tư duy và hành động để đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới [23]. Đây chính là yêu cầu thực tiễn khách quan để quyền lực thực sự trở thành nguồn lực phục vụ nhân dân hiệu quả nhất, góp phần thực hiện thành công mục tiêu Đại hội XIV sắp tới: định hình tầm nhìn chiến lược, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, thịnh vượng [24].
4. Đại hội XIV - dấu mốc lịch sử chuyển hóa tư duy cầm quyền
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, khai mạc ngày 19 tháng 01 năm 2026 và diễn ra trong khoảng 7 ngày tại Thủ đô Hà Nội với sự tham gia của khoảng 1.586 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 5 triệu đảng viên trên cả nước, không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại nhất của Đảng và nhân dân ta trong năm 2026 mà còn là dấu mốc lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn phát triển lớn lao của dân tộc [25]. Đại hội diễn ra đúng vào thời điểm đất nước đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu chiến lược đề ra tại Đại hội XIII (2021), với những thành tựu toàn diện sau 40 năm Đổi mới (1986 - 2026), 35 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo hướng hiện đại, phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, công dân số, phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN [26].
Trong bối cảnh ấy, Đại hội XIV không chỉ là dịp tổng kết sâu sắc những bài học kinh nghiệm từ nhiệm kỳ khóa XIII, kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà còn là diễn đàn trí tuệ cao nhất của toàn Đảng để định hướng chiến lược dài hạn, đưa ra những quyết sách đột phá nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Đặc biệt, Đại hội diễn ra khi đất nước đang đối mặt với những thách thức chưa từng có tiền lệ từ bối cảnh quốc tế và trong nước: cách mạng công nghiệp lần thứ tư với chuyển đổi số sâu rộng đòi hỏi đổi mới căn bản mô hình tăng trưởng; biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, tài nguyên nước và phát triển bền vững; cạnh tranh địa chính trị phức tạp giữa các cường quốc, cùng với những rủi ro từ suy thoái kinh tế toàn cầu hậu đại dịch, già hóa dân số và các nguy cơ an ninh phi truyền thống [27]. Những thách thức này đòi hỏi Đảng cầm quyền phải có tầm nhìn chiến lược vượt trước, bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực lãnh đạo sáng tạo để biến thách thức thành cơ hội, đưa dân tộc Việt Nam vững bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, “kỷ nguyên phát triển hùng cường, thịnh vượng” như phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển mà Đại hội XIV xác lập [28].
Chính vì vậy, Đại hội XIV không chỉ dừng lại ở việc tổng kết thành tựu và bài học kinh nghiệm mà sẽ tập trung định hướng một giai đoạn phát triển mới với trọng tâm chuyển hóa sâu sắc tư duy cầm quyền: từ nhấn mạnh phòng ngừa, kiểm soát tha hóa quyền lực - một yêu cầu cấp thiết và đã đạt những thành tựu đột phá trong nhiệm kỳ khóa XII, XIII - sang chủ động tổ chức, thiết kế và vận hành quyền lực một cách chiến lược, hệ thống nhằm phục vụ trực tiếp cho phát triển đất nước nhanh và bền vững, vì hạnh phúc thực chất và phồn vinh của nhân dân. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, đặc biệt Báo cáo chính trị, đã thể hiện rõ những thông điệp lịch sử này với tính hành động cao, đột phá rõ ràng trong đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng mới, đồng thời nhấn mạnh việc kiến tạo một hệ thống quyền lực năng động, hiệu quả, khuyến khích dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung [29]. Sự chuyển hóa này, như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh trong các phát biểu chỉ đạo chuẩn bị Đại hội, đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực, biến quyền lực nhà nước thành nguồn lực kiến tạo phát triển, thay vì chỉ tập trung phòng ngừa sai phạm [30].
Đây chính là bước tiến có ý nghĩa lịch sử - chính trị sâu sắc, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam - với gần 96 năm lãnh đạo cách mạng - không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền phù hợp với yêu cầu của thời đại, luôn đặt lợi ích của nhân dân và dân tộc lên trên hết. Đại hội XIV sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận về xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong điều kiện CNXH và hội nhập quốc tế, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [31].
5. Mô hình quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân trong điều kiện kiến tạo quyền lực phục vụ nhân dân
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ là nền tảng bất biến, cốt lõi của hệ thống chính trị Việt Nam theo định hướng XHCN, được khẳng định xuyên suốt trong các văn kiện Đảng từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991, bổ sung, phát triển năm 2011) đến Văn kiện Đại hội XIII và tiếp tục được nhấn mạnh, hoàn thiện trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV [32]. Nguyên tắc này không chỉ phản ánh bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN, mà còn thể hiện rõ triết lý nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: quyền lực nhà nước bản chất thuộc về nhân dân, Đảng là đội tiên phong lãnh đạo nhưng không làm thay, không bao cấp cho Nhà nước và xã hội, mà phải thông qua đường lối đúng đắn, cơ chế phù hợp để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, biến sức mạnh của nhân dân thành động lực phát triển đất nước [33]. Trong gần 40 năm Đổi mới và đặc biệt trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nguyên tắc này đã được cụ thể hóa qua việc hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội, tăng cường giám sát quyền lực và xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần quan trọng vào những thành tựu toàn diện của đất nước.
Khi tư duy cầm quyền chuyển hóa lên trình độ kiến tạo quyền lực phục vụ nhân dân - một bước phát triển biện chứng tất yếu trong kỷ nguyên Đại hội XIV -, mối quan hệ ba chủ thể Đảng - Nhà nước - Nhân dân được nâng tầm một cách căn bản, sâu sắc, từ cách tiếp cận chủ yếu phòng ngừa tha hóa, kiểm soát lạm quyền sang tổ chức, thiết kế và vận hành quyền lực một cách chủ động, hệ thống, nhằm biến quyền lực thành nguồn lực sáng tạo mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững và mang lại hạnh phúc thực chất cho nhân dân. Sự nâng tầm này không làm thay đổi bản chất nguyên tắc nền tảng, mà ngược lại, làm cho nguyên tắc ấy trở nên sống động, thực chất hơn, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, chuyển đổi số và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng [34].
Trước hết, Đảng lãnh đạo bằng đường lối đúng đắn, khoa học, sát thực tiễn, bằng việc tuyển chọn, bố trí cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực nổi bật, tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời chủ động thiết kế cơ chế vận hành quyền lực sao cho mọi quyết sách đều hướng tới nhân dân, xuất phát từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Trong tư duy kiến tạo, vai trò lãnh đạo của Đảng không còn dừng lại ở việc ban hành nghị quyết, chỉ đạo chung chung, mà phải trở thành “nhà kiến trúc sư” của hệ thống quyền lực: xây dựng thể chế khuyến khích sáng tạo, bảo vệ cán bộ dám đột phá, đồng thời ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm để quyền lực luôn trong sạch, liêm chính. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã nhấn mạnh rõ yêu cầu này khi đề cập đến việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện cơ chế để Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước, không bao biện xã hội, mà tập trung vào định hướng chiến lược, giám sát quyền lực và phát huy dân chủ [35].
Thứ hai, Nhà nước quản lý phải chuyên nghiệp hóa, hiệu quả hóa, thực sự trở thành Nhà nước phục vụ nhân dân, kiến tạo phát triển, với bộ máy tinh gọn, hành chính hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, công khai minh bạch và tạo môi trường thuận lợi nhất cho nhân dân tham gia xây dựng chính sách cũng như giám sát việc thực thi quyền lực. Trong điều kiện kiến tạo quyền lực, Nhà nước không chỉ là công cụ quản lý hành chính mà phải là “cầu nối” thực chất giữa Đảng và nhân dân, biến đường lối của Đảng thành các chính sách cụ thể, khả thi, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, đồng thời tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước qua các kênh như Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội đồng nhân dân các cấp và các nền tảng dân chủ trực tuyến ngày càng phát triển [36]. Sự chuyển hóa này đòi hỏi Nhà nước phải vượt qua tư duy “quản lý kiểu cũ”, hướng tới quản trị hiện đại, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả.
Thứ ba, Nhân dân là trung tâm thực sự của mọi thiết kế và vận hành quyền lực: không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà thực sự là chủ thể sáng tạo, tham gia trực tiếp, thực chất vào xây dựng đường lối, thực thi và giám sát quyền lực thông qua các kênh dân chủ ngày càng mở rộng, thực chất. Trong tư duy kiến tạo quyền lực, vị trí trung tâm của nhân dân được nâng lên một trình độ mới: nhân dân không chỉ giám sát mà còn đồng sáng tạo quyền lực, thông qua việc khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân tham gia đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc [37]. Đây chính là sự cụ thể hóa Tư tưởng Hồ Chí Minh “dân là gốc”, quyền lực nhà nước là của dân, do dân, vì dân, và chỉ khi nhân dân thực sự làm chủ thì quyền lực mới trở thành nguồn năng lượng vô tận cho phát triển.
So với một số mô hình chính trị khác trên thế giới - nơi quyền lực thường được tổ chức chủ yếu theo nguyên tắc phân quyền, cân bằng quyền lực giữa các nhánh để hạn chế lẫn nhau, nhằm ngăn ngừa lạm quyền nhưng đôi khi dẫn đến tình trạng trì trệ, thiếu thống nhất trong hành động -, mô hình Việt Nam nổi bật ở tính thống nhất lãnh đạo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kết hợp hài hòa giữa tập trung dân chủ và phát huy dân chủ rộng rãi, với tính nhân văn sâu sắc: quyền lực không vì hạn chế quyền lực mà vì phục vụ nhân dân, vì mục tiêu chung của dân tộc, vì hạnh phúc và phồn vinh của mọi người dân [38]. Tính thống nhất này bảo đảm hành động nhanh chóng, quyết liệt trong những thời điểm then chốt, đồng thời tính nhân văn - lấy con người làm trung tâm, làm mục tiêu phát triển - giúp mô hình Việt Nam tránh được những bất cập của các mô hình khác, khẳng định bản sắc riêng của CNXH khoa học ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Tóm lại, trong điều kiện tư duy kiến tạo quyền lực phục vụ nhân dân mà Đại hội XIV định hướng, mô hình quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân được nâng tầm thành một hệ thống quyền lực năng động, sáng tạo, thống nhất và nhân văn, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
6. Kết luận
Tư duy kiến tạo quyền lực phục vụ nhân dân mà Đại hội XIV định hướng không chỉ đáp ứng yêu cầu một nhiệm kỳ mà mang giá trị lý luận lâu dài, góp phần làm phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong điều kiện CNXH.
Với bước phát triển tư duy này, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, bản lĩnh chính trị và trí tuệ lãnh đạo, củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tương lai phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc. Trong kỷ nguyên Đại hội XIV, tư duy cầm quyền mới sẽ là nguồn động lực mạnh mẽ để Việt Nam vươn lên, thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước vì lợi ích nhân dân và vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
Tài liệu tham khảo, trích dẫn:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB CTQGST, Hà Nội.
[2] Nguyễn Phú Trọng (2022). Xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (xuất bản lần thứ ba, có chỉnh sửa, bổ sung), NXB CTQGST, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, NXB CTQGST, Hà Nội (phần mục tiêu phát triển đến năm 2030 và 2045).
[4] “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới” (2024), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn.
[5] “Đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam” (2023), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn.
[6] Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhiệm vụ của Đảng cầm quyền và nhà nước trong thực hiện quyền lực của nhân dân (2019), Tạp chí Lý luận chính trị, truy cập tại: https://lyluanchinhtri.vn.
[7] Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và yêu cầu củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân trong giai đoạn hiện nay (2020), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1-2, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về kiểm soát quyền lực và đổi mới phương thức lãnh đạo).
[9] Vấn đề kiểm soát quyền lực trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2022), Nội chính, truy cập tại: https://noichinh.vn.
[10] Quan điểm tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ qua tác phẩm của Tổng Bí thư - giá trị thực tiễn đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ở nước ta hiện nay (2023), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn.
[11] “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước trong công tác cán bộ và định hướng vận dụng hiện nay” (2024), Tạp chí Lý luận chính trị, truy cập tại: https://lyluanchinhtri.vn.
[12] “Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ‘vị thế công bộc’ của người cán bộ lãnh đạovà giá trị tham khảo trong công tác cán bộ hiện nay” (2023), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-vi-the-cong-boc-cua-nguoi-can-bo-lanh-dao-va-gia-tri-tham-khao-trong-cong-tac-can-bo-hien-nay.aspx.
[13] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 5, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về cán bộ là công bộc của dân).
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về kiểm soát quyền lực và PCTN).
[15] “Đổi mới tư duy, tầm nhìn chiến lược, kiến tạo đất nước” (2026), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://dangcongsan.org.vn.
[16] “Đổi mới tư duy và hành động của Đảng - Bước phát triển mới về năng lực cầm quyền trong kỷ nguyên phát triển đất nước” (2025), Báo Thanh Hóa, truy cập tại: https://baothanhhoa.vn.
[17] “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Nền tảng quyết định đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên hùng cường thịnh vượng” (2026), Báo Công an Nhân dân, truy cập tại: https://cand.com.vn.
[18] Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng (2025), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn (ngày 11/12/2025).
[19] Tổng Bí thư Tô Lâm: PCTN, lãng phí, tiêu cực tuyệt đối không làm kiểu phong trào (2026), Báo Tuổi Trẻ, truy cập tại: https://tuoitre.vn (ngày 05/01/2026).
[20] Đột phá trong PCTN, lãng phí, tiêu cực (2025), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn (ngày 11/12/2025).
[21] Một số cán bộ có tư tưởng ‘làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít’ (2025), Báo Thanh Niên, truy cập tại: https://thanhnien.vn (ngày 01/12/2025).
[22] Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam: Thuận lợi và khó khăn, thách thức (2025), Tạp chí Lý luận chính trị, truy cập tại: https://lyluanchinhtri.vn (ngày 13/11/2025).
[23] Tổng Bí thư Tô Lâm: PCTN, lãng phí phải quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn (2025), VnEconomy, truy cập tại: https://vneconomy.vn (ngày 26/12/2025).
[24] Đổi mới tư duy, tầm nhìn chiến lược, kiến tạo đất nước (2026), Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, truy cập tại: https://dangcongsan.org.vn (ngày gần nhất trước Đại hội XIV).
[25] Trang thông tin chính thức về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), truy cập tại: https://daihoidangtoanquoc.vn (ngày 14/01/2026).
[26] Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Đổi mới tư duy phát triển - trụ cột đột phá (2026), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn (ngày gần nhất trước Đại hội).
[27] Đại hội XIV của Đảng: Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc Việt Nam trong bối cảnh thách thức mới (2026), Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, truy cập tại: https://dangcongsan.vn.
[28] Phương châm Đại hội XIV: Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển (2026), Báo Chính phủ, truy cập tại: https://baochinhphu.vn.
[29] Một số vấn đề mới, quan trọng trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng (2026), Tạp chí Công Thương, truy cập tại: https://tapchicongthuong.vn.
[30] Tổng Bí thư Tô Lâm: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực (2026), Báo Nhân Dân, truy cập tại: https://nhandan.vn.
[31] Đại hội XIV - Mốc son mở ra chặng đường phát triển mới của Việt Nam (2026), Báo Thanh Hóa, truy cập tại: https://baothanhhoa.gov.vn.
[32] Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (2025), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn/du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv.
[33] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011, bổ sung 2021). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, NXB CTQGST, Hà Nội.
[34] “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới” (2025), Tạp chí Lý luận chính trị, truy cập tại: https://lyluanchinhtri.vn.
[35] Tổng Bí thư Tô Lâm: Phát biểu về Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV tại Quốc hội (2025), Báo Nhân Dân, truy cập tại: https://nhandan.vn.
[36] “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (2025), Tạp chí Cộng sản, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn.
[37] “Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (2026), Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, truy cập tại: https://dangcongsan.vn.
[38] “Bản sắc mô hình chính trị Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (2025), Tạp chí Lý luận chính trị, truy cập tại: https://lyluanchinhtri.vn.
LÊ HÙNG
BÙI QUỐC TUẤN
Học viện Chính trị khu vực I

