Gần đây, vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mà trong đó một bị cáo là luật sư đang hành nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Vụ việc không chỉ đặt ra vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, mà còn gióng lên hồi chuông cảnh báo nghiêm khắc về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư – một nghề nghiệp mang tính xã hội cao, gắn liền với công lý và pháp quyền.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Trách nhiệm hình sự: không có ngoại lệ đối với người hành nghề luật
Theo nội dung bản án, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội:
- Tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)[1];
- Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015[2].
Hành vi phạm tội không dừng lại ở việc sử dụng trái phép chất ma túy, mà thể hiện ở việc chủ động mua ma túy, chuẩn bị công cụ và tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng, qua đó đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Việc bị cáo là luật sư – người có kiến thức và nhận thức pháp luật đầy đủ – càng cho thấy mức độ nghiêm trọng của hành vi. Pháp luật hình sự không và không thể có “vùng miễn trừ” cho bất kỳ chủ thể nào, kể cả người hành nghề luật. Đây là biểu hiện sinh động của nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
Vi phạm nghiêm trọng Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư
Bên cạnh trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo còn là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng Luật sư toàn quốc.
Cụ thể:
- Quy tắc 2 (Tuân thủ pháp luật) quy định: “Luật sư có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được thực hiện bất kỳ hành vi nào vi phạm pháp luật.”[3];
- Quy tắc 5 (Giữ gìn uy tín, danh dự nghề nghiệp) quy định:“Luật sư phải giữ gìn danh dự, uy tín của nghề luật sư; không được thực hiện hành vi làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của luật sư và nghề luật sư trong xã hội” [4];
- Quy tắc 6 (Trách nhiệm xã hội của luật sư) nhấn mạnh:“Luật sư có trách nhiệm góp phần bảo vệ công lý, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”.[5].
Hành vi liên quan đến ma túy không chỉ xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước, mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín nghề luật sư, gây tác động tiêu cực đến niềm tin của xã hội đối với đội ngũ luật sư nói chung.
Về phương diện tổ chức nghề nghiệp, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, đây là căn cứ rõ ràng để xem xét áp dụng hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất, bao gồm thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Ranh giới giữa đời sống cá nhân và trách nhiệm nghề nghiệp một luật sư
Một vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn là: đối với luật sư, đời sống cá nhân không thể tách rời khỏi chuẩn mực nghề nghiệp. Luật sư không chỉ hành nghề trong phòng xử án hay văn phòng luật, mà còn là chủ thể đại diện cho pháp luật và công lý trong đời sống xã hội.
Mọi hành vi vi phạm pháp luật, kể cả phát sinh từ sinh hoạt cá nhân, đều có thể dẫn đến hậu quả pháp lý và hậu quả nghề nghiệp nghiêm trọng, thậm chí chấm dứt vĩnh viễn con đường hành nghề.
Cảnh báo và khuyến nghị
Từ vụ án nêu trên, có thể rút ra một số cảnh báo quan trọng đối với đội ngũ luật sư:
- Luật sư cần tuyệt đối tránh xa các hành vi liên quan đến ma túy và tệ nạn xã hội, dưới bất kỳ hình thức nào;
- Cần luôn ý thức rằng mỗi luật sư là hình ảnh đại diện cho nghề luật, không chỉ trong hoạt động hành nghề mà cả trong đời sống cá nhân;
- Các Đoàn luật sư cần tiếp tục tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, phòng ngừa vi phạm, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên và cốt lõi.
Kết luận
Vụ án là một bài học cảnh tỉnh sâu sắc đối với giới luật sư. Việc xử lý nghiêm minh của pháp luật là cần thiết, nhưng ý nghĩa lớn hơn nằm ở chỗ: đạo đức và ứng xử nghề nghiệp chính là nền tảng để bảo vệ danh dự, uy tín và sự phát triển bền vững của nghề luật sư trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Chú thích
[1] Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
[2] Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
[3] Quy tắc 2, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (ban hành kèm Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019).
[4] Quy tắc 5, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
[5] Quy tắc 6, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
Thạc sĩ, Luật sư PHAN VĂN VĨNH
Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh.

