Dựa trên phân tích pháp lý và nghiên cứu xã Quới Điền (Vĩnh Long) sau sáp nhập, bài viết làm rõ nội hàm “lấy dân làm gốc” trong CCHC.Thực tiễn cho thấy kết quả tích cực như tỉ lệ hồ sơ đúng hạn 97,45%, công khai ngân sách, tăng cường đối thoại và huy động đồng thuận xã hội. Tuy nhiên, vẫn tồn tại thách thức về quy mô quản trị, chuyển đổi số bao trùm và trách nhiệm giải trình.Từ đó, bài viết đề xuất các định hướng, giải pháp đổi mới hoạt động UBND cấp xã.Mục tiêu là xây dựng chính quyền gần dân, minh bạch, chuyên nghiệp, số hóa nhưng không xa dân, hiện thực hóa nguyên tắc “của dân, do dân, vì dân”.

Ảnh minh họa. Nguồn: VGP.
1. Đặt vấn đề
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng “lấy dân làm gốc” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm “Dân là gốc”, mà còn thể hiện bản chất của Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong điều kiện mới. Trong bối cảnh đẩy mạnh đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, việc cụ thể hóa tư tưởng này trong CCHC trở thành nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố niềm tin của Nhân dân [1].
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhân dân và Nhà nước pháp quyền XHCN. Trong đó, tư tưởng “lấy dân làm gốc” là nội dung cốt lõi cần được lan tỏa và cụ thể hóa mạnh mẽ, nhất là trong CCHC và xây dựng chính quyền cơ sở [2].
Qua các kỳ Đại hội, quan điểm này ngày càng được làm sâu sắc. Đại hội XII nhấn mạnh xây dựng Nhà nước “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, coi CCHC là khâu đột phá [3]. Đại hội XIII khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể”, mọi chính sách phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân [4]. Đến Đại hội XIV, tinh thần “Dân là gốc” tiếp tục được xác định là tiêu chí cao nhất để đánh giá quyết sách, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số quốc gia [5].
CCHC ở Việt Nam hiện chuyển từ cải tiến thủ tục đơn lẻ sang đổi mới toàn diện quản trị công, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo. Nghị quyết số 76/NQ-CP (2021) xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm gắn với hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, công vụ và chuyển đổi số. Giá trị thực chất của cải cách thể hiện ở việc giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao niềm tin xã hội [6].
Trong bối cảnh đó, tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã trở thành nguyên tắc nền tảng của nền hành chính, khẳng định người dân vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể tham gia, giám sát và thụ hưởng cải cách. Một nền hành chính lấy dân làm trung tâm phải bảo đảm quy trình dễ tiếp cận, minh bạch và có cơ chế để người dân tham gia, đánh giá, phù hợp với tinh thần dân chủ ở cơ sở [7].
Yêu cầu này càng cấp thiết khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 thiết lập mô hình chính quyền hai cấp, đưa cấp xã trở thành cấp gần dân nhất, chịu trách nhiệm trực tiếp trong giải quyết thủ tục hành chính và phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, Nghị định số 118/2025/NĐ-CP hoàn thiện cơ chế một cửa, đòi hỏi UBND cấp xã chuyển mạnh sang mô hình phục vụ hiện đại, minh bạch, trách nhiệm và số hóa nhưng vẫn gần dân [8].
Trong bối cảnh đó, xã Quới Điền (tỉnh Vĩnh Long) - đơn vị hình thành từ sáp nhập ba xã với diện tích 49,58 km², dân số 30.012 người - là trường hợp điển hình để phân tích. Từ thực tiễn địa phương, bài viết tập trung làm rõ: nội hàm tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong CCHC; kết quả và thách thức giai đoạn 2025 - 2026; và các giải pháp đổi mới hoạt động UBND cấp xã theo hướng gần dân, minh bạch, chuyên nghiệp và số hóa nhưng không xa dân [9].
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích pháp lý kết hợp nghiên cứu trường hợp điển hình và tổng hợp dữ liệu công khai từ các cơ quan có thẩm quyền. Qua đó, góp phần bổ sung luận cứ lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục đổi mới chính quyền cơ sở, hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước “của dân, do dân, vì dân” trong giai đoạn phát triển mới.
2. Cơ sở lý luận, pháp lý và tiêu chí tiếp cận
2.1. Nội hàm của tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong quản lý công
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống chính trị - văn hóa dân tộc Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển thành hệ thống lý luận khoa học, cách mạng, trở thành nền tảng tư tưởng cốt lõi của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, “Dân là gốc”, quyền lực nhà nước xuất phát từ Nhân dân, Nhà nước tồn tại để phục vụ Nhân dân và mọi cán bộ, công chức đều là “công bộc của dân”. Tính chính danh của bộ máy công quyền không chỉ dựa trên tính hợp pháp của thẩm quyền mà còn được kiểm chứng qua chất lượng phục vụ thực tế của người dân, qua sự hài lòng và niềm tin của Nhân dân [10].
Trong bối cảnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII, việc cụ thể hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong quản lý công chính là nhiệm vụ quan trọng, góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ góc nhìn quản lý công hiện đại, tư tưởng này bao hàm ba tầng ý nghĩa sâu sắc và biện chứng: (1) Người dân là mục tiêu tối thượng của mọi cải cách - mọi chính sách, mọi chương trình hành động phải trả lời được câu hỏi cốt lõi “dân được lợi gì?”, “dân được thuận lợi hơn ở đâu?”, “quyền tiếp cận dịch vụ công của dân được cải thiện ra sao?”; (2) Người dân là nguồn lực chủ yếu, quyết định của cải cách - sự đồng thuận, hợp tác, tham gia tích cực và giám sát chặt chẽ của Nhân dân chính là yếu tố then chốt quyết định thành bại của mọi chính sách ở cơ sở; (3) Người dân là chủ thể đánh giá khách quan, toàn diện nhất cải cách - trải nghiệm thực tế, cảm nhận cụ thể của người dân khi tiếp cận cơ quan công quyền là thước đo chân thực, vượt trội hơn bất kỳ hệ thống chỉ số nội bộ nào, thể hiện rõ bản chất “của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta [11].
Qua các kỳ Đại hội Đảng, tư tưởng này được không ngừng làm sâu sắc và cụ thể hóa. Đại hội XII (2016) nhấn mạnh xây dựng NNPQ XHCN “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, coi CCHC là khâu đột phá chiến lược để phục vụ Nhân dân. Đại hội XIII (2021) khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Đến Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục nâng tầm tư tưởng “Dân là gốc” lên vị trí then chốt, coi đây là “thước đo cao nhất của mọi quyết sách”, là bài học kinh nghiệm quan trọng trong toàn bộ quá trình lãnh đạo, cầm quyền, đặc biệt trong bối cảnh triển khai chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số quốc gia toàn diện [12].
2.2. Khung pháp lý và yêu cầu CCHC ở cấp xã
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới” đã khẳng định rõ bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; nhấn mạnh phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và bảo đảm cơ chế giám sát, phản biện xã hội. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 đã cụ thể hóa thành các quyền cơ bản của Nhân dân: “được biết, được bàn, được tham gia, được kiểm tra, giám sát và được thụ hưởng”, biến tư tưởng “lấy dân làm gốc” từ định hướng chính trị thành nghĩa vụ pháp lý cụ thể, bắt buộc đối với chính quyền cơ sở [13].
Đặc biệt, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 và Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã tạo khung pháp lý hoàn chỉnh, buộc cấp xã phải chuyển mình mạnh mẽ, toàn diện: từ quản lý hành chính truyền thống sang phục vụ công hiện đại; từ thủ tục giấy tờ sang số hóa liên thông thời gian thực; từ tiếp dân thụ động sang đối thoại chủ động, trách nhiệm giải trình rõ ràng trước Nhân dân. Chuyển đổi số quốc gia - được cụ thể hóa qua Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử; Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 23/6/2022 phê duyệt Bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; cùng Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia - phải được triển khai gắn liền với nguyên tắc bao trùm xã hội, tránh tạo rào cản mới đối với người cao tuổi, người dân nông thôn, các nhóm yếu thế và người dân ở vùng sâu, vùng xa [14].
Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp được xác lập, cấp xã trở thành cấp gần dân nhất, chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn diện hơn về giải quyết TTHC, tổ chức thực thi pháp luật, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Đây chính là cơ hội lịch sử để cụ thể hóa sâu sắc hơn tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đồng thời là thách thức đòi hỏi cấp xã phải vượt qua quán tính quan liêu, hành chính hóa để trở thành chính quyền phục vụ thực sự, minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả [15].
2.3. Tiêu chí tiếp cận từ góc nhìn quản lý công
Để đánh giá một cách khoa học, khách quan và toàn diện mức độ hiện thực hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong hoạt động của UBND cấp xã, bài viết sử dụng hệ thống tiêu chí tiếp cận từ góc nhìn quản lý công hiện đại, được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo của Đảng và pháp luật Nhà nước. Hệ thống tiêu chí gồm sáu nhóm chính sau:
Thứ nhất, mức độ thuận tiện và giảm chi phí tuân thủ của TTHC: đánh giá qua số lần người dân phải đi lại, số lần bổ sung hồ sơ, thời gian thực tế giải quyết, mức độ đơn giản hóa biểu mẫu và hướng dẫn.
Thứ hai, mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình: thể hiện qua công khai thông tin, ngân sách, tiến độ xử lý kiến nghị, cơ chế đối thoại trực tiếp và phản hồi kịp thời cho Nhân dân.
Thứ ba, chất lượng thực thi dân chủ ở cơ sở: đo lường qua việc thực hiện đầy đủ các quyền “được biết, được bàn, được tham gia, được kiểm tra, giám sát và được thụ hưởng” theo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Thứ tư, năng lực, thái độ và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã: tập trung vào thái độ phục vụ, trình độ chuyên môn, kỷ luật công vụ và tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”.
Thứ năm, năng lực chuyển đổi số gắn với hỗ trợ người dân: không chỉ dừng ở tỉ lệ hồ sơ trực tuyến mà phải bảo đảm tính bao trùm, có cơ chế hỗ trợ cụ thể cho các nhóm dân cư khó tiếp cận công nghệ.
Thứ sáu, mức độ gắn kết chặt chẽ giữa CCHC với phát triển kinh tế - xã hội địa phương: cải cách phải trở thành công cụ tháo gỡ nút thắt, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xây dựng nông thôn mới nâng cao và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân [16].
Hệ thống tiêu chí này không chỉ là công cụ phân tích thực tiễn xã Quới Điền mà còn là kim chỉ nam để tiếp tục đổi mới hoạt động của UBND cấp xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới.
3. Thực tiễn xã Quới Điền, tỉnh Vĩnh Long
3.1. Bối cảnh quản trị sau sắp xếp
Xã Quới Điền, tỉnh Vĩnh Long được hình thành trên cơ sở sáp nhập ba xã cũ là Hòa Lợi, Mỹ Hưng và Quới Điền theo tinh thần sắp xếp, tinh gọn bộ máy hành chính mà Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và tiếp tục được cụ thể hóa tại Đại hội XIII, XIV đã đề ra. Đây là một trong những đơn vị hành chính cấp xã điển hình của tỉnh Vĩnh Long sau khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025 theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 [18]. Với diện tích tự nhiên 49,58 km², dân số 30.012 người và quy mô 17 ấp, xã Quới Điền hiện là địa bàn nông thôn rộng lớn, có vị trí quan trọng trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà quy mô quản trị sau sáp nhập đã tăng gấp nhiều lần so với từng xã cũ trước đây. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới” [17]. - tinh thần này từ Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã trở thành kim chỉ nam để địa phương vừa ổn định tổ chức bộ máy, vừa đảm bảo không để gián đoạn chất lượng phục vụ Nhân dân trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng.
Bối cảnh quản trị mới đặt ra thách thức kép mang tính chiến lược: vừa hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực theo yêu cầu của Nghị quyết Đại hội XIV, vừa nâng cao năng lực thực thi chính sách ở cơ sở để cụ thể hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Việc sáp nhập không chỉ là thay đổi về địa giới hành chính mà còn là cơ hội để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng chính quyền cơ sở gần dân, sát dân, đáp ứng yêu cầu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được pháp lý hóa trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và chính quyền hai cấp, xã Quới Điền đã nhanh chóng kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt, thành lập và đưa vào vận hành Trung tâm Phục vụ hành chính công, đồng thời ký cam kết trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBND xã - một bước đi thể hiện rõ quyết tâm thực hiện đường lối của Đảng về xây dựng chính quyền phục vụ, minh bạch và trách nhiệm.
3.2. Kết quả bước đầu trong CCHC và dân chủ ở cơ sở
Thông tin công khai, minh bạch trên Cổng thông tin điện tử xã Quới Điền và Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2025 - 2026 đã phản ánh những chuyển biến tích cực, sinh động, góp phần khẳng định giá trị thực tiễn của tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp. Địa phương đã vận hành hiệu quả Trung tâm Phục vụ hành chính công, triển khai máy bốc số tự động, đẩy mạnh tuyên truyền sử dụng tài khoản định danh điện tử VNeID và các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Những nỗ lực này không chỉ nâng cao tỉ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn mà còn thể hiện rõ ý thức trách nhiệm phục vụ Nhân dân theo tinh thần “công bộc của dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.
Bảng 1. Một số chỉ dấu thực tiễn của xã Quới Điền giai đoạn 2025 - 2026:
![Nguồn: Tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long và UBND xã Quới Điền (2025 - 2026) [19].](https://img.lsvn.vn/resize/th/upload/2026/04/24/untitled-22405410.png)
Nguồn: Tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long và UBND xã Quới Điền (2025 - 2026) [19].
Với 4.583 hồ sơ TTHC được tiếp nhận, trong đó 4.467 hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn (đạt tỉ lệ cao 97,45%), cùng kết quả đánh giá xếp hạng 91,34/100 điểm, xã Quới Điền đã khẳng định bước tiến rõ nét trong CCHC. Đặc biệt, việc tổ chức các hội nghị đối thoại trực tiếp giữa Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã với Nhân dân, công khai dự toán ngân sách nhà nước đầu năm 2026 và công khai lịch tiếp công dân, người phát ngôn trên cổng thông tin điện tử đã tạo không gian dân chủ cơ sở thực chất, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII [20]. Hơn nữa, phong trào huy động nguồn lực xã hội trong xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật: Nhân dân tự nguyện hiến trên 7.550 m² đất và đóng góp hơn 2.200 ngày công lao động để nâng cấp hạ tầng; xã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới và cơ bản đạt 13/19 tiêu chí nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%. Những kết quả này chính là minh chứng sinh động cho việc cụ thể hóa “lấy dân làm gốc” - khi chính quyền gần dân, minh bạch và trách nhiệm thì Nhân dân sẵn sàng đồng hành, góp sức xây dựng quê hương.
3.3. Những vấn đề đặt ra
Bên cạnh những kết quả bước đầu đáng khích lệ, thực tiễn xã Quới Điền cũng bộc lộ những sức ép mới, điển hình cho cấp xã sau sắp xếp trong bối cảnh chính quyền hai cấp và chuyển đổi số quốc gia. Thứ nhất là sức ép về quy mô quản trị: địa bàn rộng, dân số đông, nhu cầu hành chính đa dạng đòi hỏi năng lực điều phối, liên thông và tiếp dân phải được nâng cao hơn rất nhiều so với trước. Thứ hai là sức ép chuyển đổi số chưa đồng đều: mặc dù đã đẩy mạnh tuyên truyền VNeID và dịch vụ công trực tuyến, nhưng một bộ phận người dân - đặc biệt là người cao tuổi, người dân ở các ấp xa trung tâm - vẫn cần được hỗ trợ trực tiếp để tránh tình trạng “số hóa nhưng xa dân”. Thứ ba là sức ép đồng bộ hóa văn hóa công vụ sau sáp nhập: bộ máy mới hình thành từ ba đơn vị cũ với thói quen xử lý công việc khác nhau đòi hỏi phải nhanh chóng thống nhất quy trình, chuẩn mực đạo đức công vụ theo tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”. Thứ tư là thách thức nâng chất lượng trách nhiệm giải trình từ hình thức sang thực chất: việc tổ chức đối thoại và công khai thông tin đã có nhưng cần tiếp tục cải thiện tốc độ xử lý kiến nghị, theo dõi kết quả và phản hồi kịp thời cho Nhân dân, tránh tình trạng “nói nhiều làm ít”.
Những vấn đề trên không chỉ là thách thức riêng của xã Quới Điền mà còn phản ánh bức tranh chung của cấp xã trong giai đoạn mới, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW và đường lối Đại hội XIV của Đảng [21]. Nếu khắc phục được những hạn chế này, xã Quới Điền sẽ tiếp tục là điển hình sáng tạo trong việc cụ thể hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc” vào đời sống thực tiễn.
4. Yêu cầu đổi mới hoạt động của UBND cấp xã từ thực tiễn Quới Điền
Từ những kết quả bước đầu và những vấn đề còn tồn tại tại xã Quới Điền, tỉnh Vĩnh Long - một điển hình sinh động của cấp xã sau sáp nhập trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp - có thể thấy rõ rằng việc đổi mới hoạt động của UBND cấp xã không còn là yêu cầu chung chung mà đã trở thành nhiệm vụ cấp thiết, mang tính chiến lược để cụ thể hóa sâu sắc tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong giai đoạn mới. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, “Dân là gốc” phải được quán triệt triệt để như một thước đo cao nhất của mọi quyết sách, là nguyên tắc chỉ đạo hành động xuyên suốt trong công tác xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [22]. Thực tiễn Quới Điền khẳng định rằng chỉ khi UBND cấp xã thực sự chuyển mình đồng bộ về tư duy, quy trình, phương thức phục vụ và chuẩn mực công vụ thì mới đáp ứng được kỳ vọng của Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.
4.1. Đổi mới tư duy từ quản lý hành chính sang phục vụ công
Yêu cầu đổi mới tư duy hoạt động của UBND cấp xã phải được đặt lên hàng đầu, chuyển mạnh mẽ từ “quản lý mệnh lệnh” sang “phục vụ công”, từ tư duy hành chính hóa sang tư duy lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo chính, làm mục tiêu tối thượng. Trong bối cảnh chính quyền hai cấp được xác lập theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, cấp xã không còn là cấp “thực thi mệnh lệnh từ trên xuống” mà trở thành cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan đến đời sống hằng ngày của Nhân dân [23]. Tại Quới Điền, tư duy phục vụ cần được cụ thể hóa bằng việc lấy sự hài lòng của người dân làm trọng tâm trong đánh giá hoạt động của từng bộ phận, từng cán bộ, công chức. Không thể dừng lại ở việc tự chấm điểm bằng số lượng hồ sơ tiếp nhận hay số văn bản ban hành; thước đo quan trọng hơn là người dân có giảm số lần đi lại, có tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, có cảm nhận được thái độ tôn trọng, tận tình khi đến làm việc với cơ quan công quyền hay không. Đây chính là sự cụ thể hóa sinh động quan điểm “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới” mà Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh [22].
4.2. Đổi mới quy trình giải quyết TTHC
Tiếp tục đổi mới quy trình giải quyết TTHC theo hướng đơn giản hóa, minh bạch hóa, liên thông và thân thiện với người dân là yêu cầu then chốt. Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để cấp xã chuẩn hóa quy trình nội bộ, liên thông dữ liệu, giảm giấy tờ trùng lặp và tăng cường công khai từng khâu tiếp nhận, xử lý, trả kết quả [24]. Từ thực tiễn Quới Điền, nơi đã tiếp nhận 4.583 hồ sơ với tỉ lệ đúng hạn cao 97,45%, cần tập trung rà soát sâu các thủ tục có tần suất phát sinh cao như hộ tịch, chứng thực, xác nhận thông tin, chính sách xã hội, đất đai... theo góc nhìn “người sử dụng dịch vụ”. Mỗi biểu mẫu phải dễ hiểu, tài liệu hướng dẫn phải dễ đọc và làm theo ngay, thông tin phải được niêm yết cả trực tiếp lẫn trực tuyến, cán bộ phải chủ động hướng dẫn từ đầu để tránh tình trạng người dân phải bổ sung, sửa chữa nhiều lần. Tinh thần “lấy dân làm gốc” đòi hỏi giảm tối đa các chi phí vô hình mà người dân phải gánh chịu - thời gian, công sức và cảm giác bị gây phiền hà - góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ thực sự minh bạch, hiệu quả.
4.3. Thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với trách nhiệm giải trình
Thực hiện dân chủ ở cơ sở phải được gắn chặt với trách nhiệm giải trình thực chất, tránh hình thức. Quới Điền đã có những bước đi tích cực như tổ chức đối thoại trực tiếp, công khai dự toán ngân sách và lịch tiếp công dân. Tuy nhiên, để các hoạt động này phát huy giá trị thực sự, cần xây dựng chu trình phản hồi rõ ràng, khoa học: tiếp nhận kiến nghị - phân công trách nhiệm cụ thể - xử lý đúng tiến độ - công khai kết quả - thông tin lại cho Nhân dân biết. Điều cốt lõi không phải chỉ là “dân được nói” mà là dân thấy lời nói của mình được tiếp nhận nghiêm túc và được phản hồi bằng hành động cụ thể. Đây chính là sự cụ thể hóa tinh thần “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 thể chế hóa và được Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định là nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng chính quyền cơ sở [25].
4.4. Chuyển đổi số đi đôi với bao trùm xã hội
Chuyển đổi số phải được triển khai theo nguyên tắc “hai chân”: một chân là số hóa quy trình nội bộ của chính quyền, chân còn lại là hỗ trợ trực tiếp, kiên trì cho người dân, nhất là các nhóm yếu thế. Tại Quới Điền, dù đã tuyên truyền mạnh mẽ VNeID và dịch vụ công trực tuyến, vẫn còn một bộ phận người dân cần hỗ trợ thực tế để tránh tình trạng “số hóa nhưng xa dân”. Trung tâm Phục vụ hành chính công cần có bộ phận hỗ trợ chuyên trách, với khung giờ cố định, cán bộ kiên nhẫn “cầm tay chỉ việc” cho người cao tuổi, người dân ở ấp xa. Chuyển đổi số thành công không phải khi mọi người đều bị buộc phải thao tác trên điện thoại mà là khi đa số người dân cảm thấy thuận lợi hơn và không bị bỏ rơi trong quy trình mới - đây chính là yêu cầu bao trùm xã hội mà Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về chuyển đổi số quốc gia đã chỉ rõ.
4.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là yếu tố quyết định thành bại của mọi cải cách. Công nghệ có thể hỗ trợ, quy trình có thể chuẩn hóa, nhưng trải nghiệm của người dân cuối cùng vẫn phụ thuộc vào con người. Việc Quới Điền tổ chức ký cam kết trách nhiệm với Chủ tịch UBND xã là bước đi tích cực, song cần tiếp tục xây dựng hệ thống đánh giá định kỳ, gắn với đầu ra phục vụ dân: tỉ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân, thái độ phục vụ... Kiên trì giáo dục đạo đức công vụ theo tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là yêu cầu thường xuyên, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền hai cấp đòi hỏi cán bộ cấp xã phải vừa chuyên nghiệp, vừa gần gũi với dân.
4.6. Gắn CCHC với phát triển kinh tế - xã hội
CCHC phải được gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội địa phương, trở thành công cụ tháo gỡ nút thắt thực tế. Tại Quới Điền, với mục tiêu phát triển dừa hữu cơ, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và xây dựng nông thôn mới nâng cao, UBND xã cần nhìn nhận CCHC như một động lực trực tiếp: thủ tục rõ ràng hơn để người dân, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư; thông tin minh bạch hơn để tiếp cận chính sách; phối hợp tốt hơn để rút ngắn thời gian thực hiện các chương trình phát triển. Khi hành chính gắn liền với đời sống, người dân sẽ thấy rõ lợi ích cụ thể của cải cách và mức độ đồng hành với chính quyền sẽ bền vững hơn.
4.7. Một số giải pháp quản trị cụ thể cho Quới Điền
Từ thực tiễn Quới Điền, có thể đề xuất một số giải pháp quản trị cụ thể, khả thi: (1) Chuẩn hóa và công khai chỉ số phục vụ thời gian thực trên cổng thông tin điện tử để Nhân dân theo dõi, giám sát; (2) Thiết lập “hỗ trợ số tại chỗ” với khung giờ cố định, tài liệu hướng dẫn dễ hiểu và cán bộ chuyên trách hỗ trợ các nhóm dân cư yếu thế; (3) Xây dựng hệ thống theo dõi kiến nghị sau đối thoại, bảo đảm mỗi ý kiến của người dân đều có đầu mối chịu trách nhiệm và thời hạn trả lời rõ ràng; (4) Tăng cường tập huấn toàn diện về giao tiếp hành chính, đạo đức công vụ, kỹ năng số và phối hợp liên thông cho toàn thể cán bộ, công chức; (5) Gắn chặt CCHC với các mục tiêu phát triển cụ thể của xã như dừa hữu cơ, doanh nghiệp nhỏ và nông thôn mới nâng cao, tránh tình trạng cải cách tách rời đời sống thực tiễn của Nhân dân [26].
5. Kết luận
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là kim chỉ nam chiến lược, là nền tảng tư tưởng cốt lõi cho CCHC và đổi mới hoạt động của UBND cấp xã trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp được xác lập theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 và chuyển đổi số quốc gia được đẩy mạnh. Thực tiễn sinh động của xã Quới Điền, tỉnh Vĩnh Long đã chứng minh một cách thuyết phục rằng khi chính quyền gần dân hơn, minh bạch hơn, trách nhiệm hơn thì Nhân dân sẵn sàng đồng hành, hiến đất, góp công, chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp. Tuy nhiên, những kết quả bước đầu chỉ là nền tảng. Giai đoạn tới đòi hỏi cấp xã phải thực hiện cải cách đồng bộ, sâu sắc, toàn diện hơn: số hóa nhưng không xa dân, tinh gọn nhưng không giảm trách nhiệm, công khai nhưng phải đi đôi với giải trình thực chất, phục vụ nhưng không xa rời thực tiễn đời sống. Chỉ khi đó, tư tưởng “lấy dân làm gốc” mới thực sự trở thành hiện thực sống động, máu thịt trong đời sống của mỗi người dân Việt Nam, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết số 35-NQ/TW, thực hiện thành công đường lối Đại hội XIV của Đảng về xây dựng NNPQ XHCN “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [27].
Tài liệu tham khảo
[1], [10] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011 (các tác phẩm liên quan đến tư tưởng “Dân là gốc”).
[2], [11], [21], [27] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.
[3] Đảng CSVN. Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XII, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2016.
[4], [17] Đảng CSVN. Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2021.
[5] Đảng CSVN. Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIV, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2026.
[6] Chính phủ. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030.
[7] Quốc hội. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15 ngày 10/11/2022.
[8], [14], [18], [23], [24] Quốc hội. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025; Chính phủ. Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
[9] [19], [26] Cổng thông tin điện tử UBND xã Quới Điền và Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long. Các thông tin công khai về tổ chức bộ máy, CCHC, đối thoại với Nhân dân và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2025 - 2026.
[12], [22] Đảng CSVN. Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIV, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2026.
[13], [20], [25] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
[15] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử; Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 23/6/2022 phê duyệt Bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
[16] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
PHAN HỒNG NHUNG
Phó Chủ tịch UBND xã Quới Điền, tỉnh Vĩnh Long.

