/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Chiến lược số hóa quản lý công: Kinh nghiệm từ Cộng hòa Pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam

Chiến lược số hóa quản lý công: Kinh nghiệm từ Cộng hòa Pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam

25/02/2026 11:13 |

(LSVN) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, số hóa quản lý công không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật mà đã trở thành một chiến lược cải cách nhà nước mang tính cấu trúc.

Bài viết phân tích bản chất chiến lược của quá trình số hoá quản lý công tại Pháp, tập trung vào các trụ cột nền tảng như tư duy lấy công dân làm trung tâm, quản trị dựa trên dữ liệu, kiến trúc hệ thống liên thông và quản trị thay đổi trong khu vực công. Thay vì tiếp cận chuyển đổi số như một dự án công nghệ đơn lẻ, Pháp xem đây là quá trình tái cấu trúc phương thức vận hành của bộ máy hành chính, hướng đến tăng cường hiệu quả, minh bạch và chất lượng dịch vụ công. Thông qua việc phân tích chiến lược số hóa của Pháp, bài viết rút ra những bài học định hướng có giá trị tham khảo cho Việt Nam, đặc biệt trong việc xây dựng tầm nhìn dài hạn, chuẩn hóa dữ liệu quốc gia, nâng cao năng lực nhân sự công và bảo đảm sự thích ứng với bối cảnh thể chế trong nước.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Chiến lược số hóa quản lý công trên thế giới

Trong vài năm gần đây, số hóa quản lý công (digital government) đã trở thành một chiến lược cấp quốc gia ở nhiều nơi trên thế giới, không chỉ nhằm cung cấp dịch vụ trực tuyến mà còn tái cấu trúc bộ máy hành chính để tăng hiệu quả, minh bạch và tính phục vụ đối với người dân. Bất chấp những cuộc khủng hoảng toàn cầu chồng chéo và chồng chất trong những năm gần đây, các quốc gia và khu vực trên toàn thế giới đã đẩy nhanh cam kết của mình đối với các chiến lược chính phủ điện tử, theo Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc năm 2024 – Thúc đẩy chuyển đổi số vì phát triển bền vững.

Theo Báo cáo UN E-Government Survey 2024, trong số 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc, các quốc gia Bắc Âu và châu Á nổi bật với chỉ số phát triển chính phủ điện tử (EGDI) cao nhất, dẫn đầu là Đan Mạch, tiếp theo là Estonia và Singapore, cho thấy phạm vi và chất lượng dịch vụ trực tuyến, cơ sở hạ tầng viễn thông và năng lực con người ở mức vượt trội. Hàn Quốc, Iceland, Ả Rập Xê Út, Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Úc, Phần Lan, Hà Lan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Đức, Nhật Bản, Thụy Điển, Na Uy, New Zealand, Tây Ban Nha và Bahrain là những quốc gia xếp hạng cao thứ hai trong nhóm xếp hạng kỹ thuật số cao nhất. Các quốc gia dẫn đầu khu vực là Nam Phi (Châu Phi), Hoa Kỳ (Châu Mỹ), Singapore (Châu Á), Đan Mạch (Châu Âu) và Úc (Châu Đại Dương).

Chỉ số EGDI được xây dựng dựa trên ba trụ cột chính: Online Service Index (OSI) đánh giá chất lượng và phạm vi dịch vụ trực tuyến của chính phủ; Telecommunication Infrastructure Index (TII) đo lường mức độ tiếp cận hạ tầng viễn thông; và Human Capital Index (HCI) phản ánh năng lực con người trong sử dụng công nghệ số. Đây là một công cụ chuẩn mực quốc tế giúp các quốc gia hiểu rõ điểm mạnh và hạn chế trong chiến lược số hóa quản lý công của mình, từ đó định hướng chính sách phát triển phù hợp.

Estonia là một trong những ví dụ điển hình về chiến lược digital government thành công. Nước này liên tục nằm trong nhóm đứng đầu bảng xếp hạng toàn cầu, với thủ đô Tallinn cung cấp tới ≈93 % dịch vụ chính phủ trực tuyến hoàn chỉnh, cho phép công dân thực hiện hầu hết giao dịch hành chính từ khai sinh, nộp thuế đến đăng ký doanh nghiệp mà không cần giấy tờ truyền thống (2).

Trong khi đó, Singapore theo đuổi chiến lược Smart Nation, coi công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột phát triển quốc gia. Singapore được đánh giá cao ở xếp hạng số 3 trong 64 nền kinh tế về digital government theo dữ liệu của IMD World Competitiveness Center, phản ánh việc tích hợp chặt chẽ dịch vụ công số vào chiến lược phát triển quốc gia, cùng với cam kết hợp tác công – tư để mở rộng hệ sinh thái kỹ thuật số.

Ở châu Âu, Đan Mạch không chỉ đứng đầu bảng UN E-Government Rankings mà còn được xem là mô hình về chiến lược số hóa quốc gia toàn diện, với tầm nhìn đặt người dân làm trung tâm và tiêu chuẩn hoá dữ liệu liên thông giữa các cơ quan. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Hà Lan, Phần Lan và New Zealand cũng thường xuất hiện trong top 10 quốc gia phát triển chính phủ điện tử, minh chứng cho xu hướng số hóa mạnh mẽ và chiến lược đầu tư vào hạ tầng, con người và pháp luật.

Điểm chung trong các chiến lược thành công này là xây dựng tầm nhìn dài hạn về số hóa quản lý công, coi dữ liệu như tài sản chiến lược, tăng cường liên thông dịch vụ, và tập trung vào trải nghiệm người dân hơn là đơn thuần cung cấp dịch vụ trực tuyến. Những quốc gia như Estonia tiếp tục phát triển nền tảng dữ liệu mở và an toàn; Singapore ưu tiên đổi mới sáng tạo và hợp tác đa bên; còn Đan Mạch nhấn mạnh vào việc tái thiết kế quy trình hành chính để phù hợp với kỷ nguyên số. Sự tiến bộ này cũng thể hiện rõ ở mức độ EGDI toàn cầu tăng lên, với tỉ lệ dân số ở các nước đang phát triển tiếp cận được dịch vụ chính phủ điện tử nhiều hơn, từ 55 % cách đây vài năm giảm xuống còn khoảng 22 % theo khảo sát mới nhất.

Pháp đứng thứ 34 trên 193 quốc gia về phát triển chính phủ điện tử (EGDI) năm 2024, với EGDI ≈ 0.8744, thuộc nhóm các nước có chỉ số EGDI rất cao (Very High EGDI) (3). Pháp đứng ở vị trí thứ 34 cho thấy mặc dù nước này không thuộc nhóm đứng đầu như các quốc gia Bắc Âu hay Đông Á, nhưng vẫn có mức độ số hóa quản lý công rất cao so với phần lớn thế giới, với hạ tầng viễn thông tốt, dịch vụ trực tuyến phong phú và trình độ nguồn nhân lực ổn định, điều này phản ánh nỗ lực chiến lược lâu dài trong tái cấu trúc hành chính số. Đồng thời, vị trí này còn cung cấp một chuẩn tham chiếu quốc tế để các nước khác, trong đó có Việt Nam, tiến hành đánh giá, so sánh và hoạch định chiến lược số hóa quản lý công phù hợp với điều kiện phát triển của mình (4).

Bản chất chiến lược của chuyển đổi số trong quản lý công

Về phương diện lý luận, chuyển đổi số trong quản lý công gắn với quá trình tái cấu trúc toàn diện cách thức nhà nước tổ chức, vận hành và cung cấp dịch vụ công. Đây là sự chuyển dịch từ mô hình hành chính truyền thống sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, nền tảng số và tương tác đa chiều với công dân. Do đó, để làm rõ bản chất chiến lược của chuyển đổi số, cần phân tích sự khác biệt giữa tin học hóa và chuyển đổi số thực sự, đồng thời xác định các trụ cột chiến lược và điều kiện bảo đảm thành công trong thực tiễn triển khai.

Chuyển đổi số không đồng nghĩa với tin học hóa

Trong nghiên cứu quản lý công, cần phân biệt rõ giữa tin học hóa, số hóa quy trình và chuyển đổi số. Điểm cốt lõi ở đây là thay đổi cách thức quản trị, chứ không chỉ thay đổi công cụ. Nếu chỉ dừng ở việc “đưa dịch vụ lên mạng”, chính phủ vẫn vận hành theo logic hành chính truyền thống. Ngược lại, chuyển đổi số chiến lược yêu cầu thiết kế lại quy trình theo hướng đơn giản hóa, tích hợp và tự động hóa, nhằm tạo ra giá trị công thực chất cho người dân và doanh nghiệp. Chuyển đổi số mang lại lợi ích từ vĩ mô đến vi mô, tác động sâu sắc ở quy mô toàn cầu, quy mô quốc gia, mỗi chính phủ đến từng doanh nghiệp, từng cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối với toàn cầu: Tạo ra một thế giới ngày càng phẳng, mọi thành phần đều có thể tham gia vào một mạng lưới khổng lồ, tiếp cận và sử dụng những tri thức để cùng hợp tác xử lý những vấn đề với tầm cao hơn quốc gia như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, cải thiện môi trường… Tầm quốc gia: Chuyển đổi số không chỉ là một xu thế về công nghệ trên toàn cầu mà còn tác động vô cùng sâu rộng trên các lĩnh vực của nền kinh tế - chính trị - xã hội; quyết định xem một quốc gia có theo kịp bước tiến của toàn cầu thậm chí những quốc gia phát triển sau có thể đi tắt đón đầu phá bỏ khoảng cách, tạo đột phá hay không; chuyển đổi số sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến vị thế của quốc gia trên thế giới trong thời kỳ mới. Chính phủ: Tạo dựng được niềm tin, nhờ năng lực quản lý và tạo ra tính minh bạch trong suốt của hệ thống điều hành. Xã hội: Người dân được phục vụ những lợi ích của công nghệ giúp tăng chất lượng cuộc sống, dễ dàng gia nhập mạng lưới toàn cầu, tiếp cận các cơ hội phát triển bản thân, dễ dàng tiếp thu tri thức mới vốn rất sẵn có và phong phú, và sẽ làm thay đổi phong cách sống, thích nghi với điều kiện mới. Các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục… được nâng cấp và đáp ứng tốt trong môi trường xã hội đan có những biến động thay đổi rất lớn. Kinh tế: Chuyển đổi số sẽ giúp tăng tốc độ thị trường tăng vị trí cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng doanh thu tăng năng suất nhân viên... Với từng cơ quan, tổ chức: Chuyển đổi số tác động mạnh mẽ và toàn diện trong cách thức hoạt động của toàn cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở tất cả những khía cạnh như cung ứng, sản xuất, hợp tác, mối quan hệ khách hàng hoặc thậm chí là tạo ra những đơn vị mới với cách thức hoạt động mới mẻ hoàn toàn.

Các trụ cột chiến lược của quản lý công số

Các tổ chức khu vực công tồn tại để phục vụ người dân. Trong thời đại kỹ thuật số, người dân có những kỳ vọng tương tự đối với các cơ quan chính phủ như đối với các nhà cung cấp khác – giải quyết vấn đề nhanh chóng hơn, truy cập dữ liệu dễ dàng, không bị gián đoạn và minh bạch, chất lượng dịch vụ cao và sự đáng tin cậy. Các dự án chuyển đổi cần đảm bảo đáp ứng được những yêu cầu này: việc sử dụng API, máy học và tự động hóa thông minh có thể làm cho các dịch vụ công hiệu quả và đáp ứng nhanh hơn. Các cổng thông tin hợp nhất dữ liệu chính phủ có thể phá vỡ các rào cản thông tin để tạo ra trải nghiệm liền mạch cho người dân trên nhiều kênh. Việc triển khai các chiến lược tương tác đa kênh có thể tăng cường hơn nữa khả năng tiếp cận, cho phép người dân tương tác với các dịch vụ chính phủ thông qua các kênh ưa thích của họ, dù trực tuyến, qua ứng dụng di động hay trực tiếp, đảm bảo trải nghiệm nhất quán và tích hợp. Các cơ quan khu vực công cũng nên triển khai cơ sở hạ tầng bảo mật mạnh mẽ và khung quản trị để đảm bảo với người dân rằng thông tin của họ được an toàn và sẽ không bị lạm dụng.

Vai trò của tầm nhìn chiến lược và quản trị thay đổi

Chuyển đổi số trong quản lý công chỉ thành công khi được đặt trong một tầm nhìn chiến lược dài hạn ở cấp quốc gia. Tầm nhìn chiến lược dài hạn ở cấp quốc gia là điều kiện quyết định để chuyển đổi số đạt được mục tiêu chiến lược thực chất. Một tầm nhìn như vậy cần xác định rõ mục tiêu, lộ trình triển khai, các tiêu chí đo lường hiệu quả và cơ chế giám sát. Nếu thiếu định hướng chiến lược, các dự án số hóa dễ rơi vào tình trạng manh mún, phân tán và thiếu liên kết, không khai thác được tối đa các lợi ích của công nghệ và dữ liệu.

Tầm nhìn chiến lược dài hạn ở cấp quốc gia là điều kiện quyết định để chuyển đổi số đạt được mục tiêu chiến lược thực chất. Một tầm nhìn như vậy cần xác định rõ mục tiêu, lộ trình triển khai, các tiêu chí đo lường hiệu quả và cơ chế giám sát. Nếu thiếu định hướng chiến lược, các dự án số hóa dễ rơi vào tình trạng manh mún, phân tán và thiếu liên kết, không khai thác được tối đa các lợi ích của công nghệ và dữ liệu (5).

Chiến lược số hóa quản lý công tại Pháp

Theo Báo cáo UN E-Government Survey 2024, Pháp đạt chỉ số EGDI khoảng 0,87 và thuộc nhóm quốc gia có mức phát triển chính phủ điện tử “rất cao”. Pháp đứng trong nhóm trên của thế giới, mặc dù chưa thuộc top dẫn đầu như Đan Mạch, Estonia hay Singapore. Chỉ số này phản ánh mức độ phát triển dịch vụ trực tuyến, hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực số tương đối mạnh.

Tuy nhiên, Pháp vẫn đối mặt với những thách thức như khoảng cách số trong một bộ phận dân cư, đặc biệt là người cao tuổi hoặc nhóm có thu nhập thấp. Theo một số báo cáo quốc gia, hàng triệu người dân Pháp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận hoặc sử dụng dịch vụ công trực tuyến, cho thấy chuyển đổi số không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn liên quan đến kỹ năng số và bao trùm xã hội. Điểm nổi bật của chiến lược số hóa quản lý công tại Pháp là sự kết hợp giữa cải cách hành chính truyền thống và chuyển đổi số, với cách tiếp cận tương đối thận trọng, chú trọng tính bền vững và tuân thủ pháp lý. Pháp không ưu tiên tốc độ triển khai bằng mọi giá, mà tập trung vào chuẩn hóa quy trình, bảo mật dữ liệu và nâng cao chất lượng dịch vụ. Cách tiếp cận này cho thấy chiến lược số hóa tại Pháp mang tính cải cách cấu trúc hơn là đổi mới đột phá. Dù có thể không đạt tốc độ nhanh như một số quốc gia châu Á, mô hình Pháp nhấn mạnh tính ổn định, tính pháp lý và sự tin cậy trong quản trị công số.

Tầm nhìn chiến lược và định hướng quốc gia

Lộ trình chiến lược của Pháp cho Thập kỷ số do Chính phủ Pháp xây dựng đã vạch ra các mục tiêu chiến lược cần đạt được vào năm 2030, theo dõi việc thực hiện các mục tiêu đó, đồng thời đề ra các lộ trình mục tiêu và các biện pháp chính. Báo cáo này sử dụng dữ liệu trong Báo cáo Thập kỷ Kỹ thuật số năm 2023 về Giá trị Cơ sở Quốc gia của các Mục tiêu Thập kỷ Kỹ thuật số, giá trị cơ sở của EU cho các Mục tiêu Thập kỷ Kỹ thuật số năm 2023 và giá trị mục tiêu của EU cho năm 2030. Tại Pháp, 62% người dân có ít nhất các kỹ năng kỹ thuật số cơ bản, cao hơn mức trung bình của EU là 54%. Pháp cũng cao hơn mức trung bình của EU về số lượng cá nhân có kỹ năng kỹ thuật số trên mức cơ bản (31% ở Pháp so với 26% ở EU) và ít nhất các kỹ năng cơ bản để tạo nội dung kỹ thuật số (76% so với 66% ở cấp độ EU). Lộ trình phát triển của Pháp gồm 4 chương: Kỹ năng số Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số Chuyển đổi số của doanh nghiệp Số hóa các dịch vụ công Các ưu tiên cho việc phát triển kỹ năng số Hiện tại, Pháp đang triển khai một số biện pháp nhằm nâng cao trình độ kỹ năng số cơ bản. Sáng kiến ​​"Kỹ năng và Việc làm của Tương lai" có tổng ngân sách 2,5 tỉ euro và nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu việc làm hoặc kỹ năng, đồng thời đẩy nhanh việc thực hiện đào tạo liên quan đến các chiến lược Nghiên cứu và Phát triển quốc gia trong các lĩnh vực trọng điểm. Các dự án thành công sẽ đánh giá nhu cầu về kỹ năng và đào tạo trong giai đoạn 2021-2025. Các dự án tập trung vào đào tạo ở các trường trung học phổ thông, giáo dục đại học và thông qua học tập suốt đời, phù hợp với nhu cầu đào tạo được xác định trong chiến lược "Nước Pháp 2030". Nằm trong khuôn khổ Chiến lược Số hóa cho Giáo dục , Pháp đang đầu tư vào việc phát triển các kỹ năng số tiên tiến, phù hợp với các ưu tiên nghiên cứu được hỗ trợ trong lĩnh vực số trọng điểm. Bên cạnh việc đầu tư vào các chuyên gia CNTT, nhu cầu nâng cao và đào tạo lại kỹ năng cho lực lượng lao động trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế để khai thác tiềm năng của các giải pháp số đang ngày càng tăng (6).

Các trụ cột chiến lược trong số hóa quản lý công

Chiến lược số hóa quản lý công tại Pháp được xây dựng dựa trên một số trụ cột chính. Thứ nhất, lấy công dân làm trung tâm. Pháp phát triển các nền tảng dịch vụ công tích hợp như Service-public.fr và hệ thống định danh số FranceConnect, cho phép người dân sử dụng một tài khoản duy nhất để truy cập nhiều dịch vụ hành chính khác nhau. Cách tiếp cận này hướng tới đơn giản hóa thủ tục và cải thiện trải nghiệm người dùng thay vì duy trì cấu trúc hành chính phân tán. Thứ hai, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu. Pháp thúc đẩy xây dựng kiến trúc hệ thống số thống nhất giữa các bộ, ngành thông qua cơ quan điều phối liên ngành là DINUM (Direction Interministérielle du Numérique). Cơ quan này chịu trách nhiệm thiết kế kiến trúc số chung, bảo đảm khả năng chia sẻ dữ liệu và hạn chế tình trạng phát triển hệ thống rời rạc. Thứ ba, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư. Là một thành viên của Liên minh châu Âu, Pháp tuân thủ nghiêm ngặt quy định GDPR về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Điều này khiến chiến lược số hóa tại Pháp có xu hướng thận trọng hơn, nhưng đồng thời bảo đảm mức độ tin cậy và tính pháp lý cao trong triển khai dịch vụ công số (7).

Chiến lược số hóa quản lý công tại Việt Nam

Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030". Mục tiêu chiến lược của đề án chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025 và định hướng tới năm 2030 như sau: 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được triển khai trên môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; 80% dịch vụ công trực tuyến mức 4, được cung cấp trên nhiều nền tảng, phương tiện khác nhau, bao gồm thiết bị di động; 90% hồ sơ công việc cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc cấp huyện; 60% hồ sơ công việc cấp xã được xử lý trên không gian mạng (trừ hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước); 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế – xã hội phục vụ sự điều hành của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ được tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; 100% cơ sở dữ liệu quốc gia là nền tảng phát triển Chính phủ điện tử. Bao gồm cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm, tài chính được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc. Đồng thời từng bước mở dữ liệu của cơ quan nhà nước nhằm cung cấp dịch vụ công nhanh chóng, kịp thời, một lần khai báo, trọn vòng đời phục vụ người dân, phát triển kinh tế xã hội; Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).

Việt Nam đã tăng một bậc, xếp hạng 71 trong số 193 quốc gia trong Khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 của Liên Hợp Quốc (UN) – Thúc đẩy chuyển đổi số vì phát triển bền vững, được Liên Hợp Quốc công bố hôm thứ Tư. Theo báo cáo, Việt Nam đạt 0,7709 điểm trong Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI), nằm trong nhóm EGDI rất cao. Nước này xếp thứ năm trong số 11 thành viên ASEAN. Việc Việt Nam và nhiều quốc gia khác chuyển từ nhóm cao lên nhóm rất cao phản ánh những thành công của họ trong việc tăng cường cơ sở hạ tầng số, mở rộng kết nối Internet và triển khai các khuôn khổ chính phủ số mạnh mẽ, Liên Hợp Quốc cho biết, đồng thời khẳng định rằng những đầu tư đáng kể của Việt Nam vào dịch vụ công số được phản ánh trong vị thế EGDI được cải thiện của nước này (8).

Tóm lại, chiến lược số hóa quản lý công tại Việt Nam thể hiện tầm nhìn dài hạn nhằm transform (chuyển đổi) bộ máy hành chính theo hướng hiện đại, dữ liệu-trung tâm và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn trong thực thi ở một số địa phương và năng lực nguồn lực, chiến lược này đã đặt nền tảng vững chắc để Việt Nam tiếp tục tăng tốc trong giai đoạn đến năm 2030 và hướng tới mục tiêu trở thành một quốc gia số hiện đại.

Giá trị tham khảo và định hướng chiến lược

Từ phân tích chiến lược số hóa quản lý công tại Pháp có thể thấy rằng thành công của chuyển đổi số không đến từ công nghệ đơn lẻ, mà từ cách một quốc gia thiết kế tầm nhìn, thể chế và cơ chế thực thi một cách đồng bộ và dài hạn. Mô hình của Pháp cho thấy chuyển đổi số cần được đặt trong tổng thể cải cách hành chính, gắn với chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm pháp lý và nâng cao năng lực con người. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh đang đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số và cải cách thể chế, việc tham khảo kinh nghiệm Pháp không nhằm sao chép mô hình, mà để rút ra những nguyên tắc chiến lược có thể điều chỉnh phù hợp với điều kiện chính trị – hành chính và trình độ phát triển trong nước. Trên cơ sở đó, một số định hướng chiến lược có thể được đề xuất nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi số trong quản lý công của Việt Nam vừa hiệu quả, vừa bền vững và có chiều sâu cải cách.

Thứ nhất, xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn và lộ trình rõ ràng. Kinh nghiệm của Pháp cho thấy chuyển đổi số chỉ hiệu quả khi được đặt trong một tầm nhìn quốc gia dài hạn, có mục tiêu cụ thể và cơ chế đo lường rõ ràng. Pháp không triển khai số hóa theo từng dự án rời rạc mà gắn với chiến lược tổng thể cải cách hành chính và chương trình Digital Decade 2030 của Liên minh châu Âu. Từ đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện chiến lược Chính phủ số với các chỉ tiêu định lượng cụ thể về mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, mức độ hài lòng của người dân, hiệu quả xử lý hồ sơ và mức độ tích hợp dữ liệu. Quan trọng hơn, cần xây dựng hệ thống đánh giá định kỳ để tránh tình trạng số hóa hình thức hoặc chạy theo thành tích kỹ thuật.

Thứ hai, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư. Pháp đặc biệt chú trọng khung pháp lý trong chuyển đổi số, nhất là bảo vệ dữ liệu cá nhân theo chuẩn GDPR. Điều này giúp tăng niềm tin của người dân đối với dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm tính bền vững của hệ thống. Từ kinh nghiệm này, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản trị dữ liệu, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, bảo mật thông tin cá nhân và an ninh mạng. Dữ liệu cần được xác định là tài sản chiến lược quốc gia, nhưng đồng thời phải có cơ chế giám sát và bảo vệ rõ ràng để tạo sự tin tưởng trong xã hội. Một hệ thống pháp lý ổn định và minh bạch sẽ là nền tảng quan trọng cho phát triển chính phủ số.

Thứ ba, tăng cường cơ chế điều phối liên ngành và xây dựng kiến trúc số thống nhất. Pháp thành lập cơ quan điều phối liên bộ về chuyển đổi số (DINUM) để bảo đảm các bộ, ngành không phát triển hệ thống riêng lẻ, mà tuân thủ kiến trúc số chung của quốc gia. Cách làm này giúp tránh trùng lặp đầu tư, giảm chi phí và tăng khả năng liên thông dữ liệu. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm này bằng cách củng cố cơ quan điều phối trung ương về chuyển đổi số, xây dựng kiến trúc Chính phủ số thống nhất và bắt buộc các hệ thống công nghệ mới phải tương thích với nền tảng dữ liệu quốc gia. Điều này đặc biệt quan trọng để tránh tình trạng “cát cứ công nghệ” giữa các địa phương và bộ ngành.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực và quản trị thay đổi trong khu vực công. Kinh nghiệm của Pháp cho thấy thách thức lớn nhất trong chuyển đổi số không nằm ở công nghệ mà ở con người và văn hóa tổ chức. Việc đào tạo kỹ năng số cho công chức, thu hút nhân tài công nghệ vào khu vực công và thay đổi tư duy quản lý là điều kiện tiên quyết để chiến lược thành công. Vì vậy, Việt Nam cần coi phát triển nguồn nhân lực số là ưu tiên chiến lược, bao gồm đào tạo liên tục cho cán bộ công chức, xây dựng cơ chế đãi ngộ phù hợp để thu hút chuyên gia công nghệ và cải cách quy trình nội bộ theo hướng số hóa. Đồng thời, cần có chiến lược truyền thông để người dân nâng cao kỹ năng số và sẵn sàng sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Nhận xét

Qua phân tích chiến lược số hóa quản lý công trên thế giới, đặc biệt là trường hợp của Pháp và Việt Nam, có thể thấy rằng chuyển đổi số trong khu vực công không còn là một xu hướng công nghệ đơn thuần mà đã trở thành một chiến lược cải cách nhà nước mang tính hệ thống. Các quốc gia dẫn đầu như Đan Mạch, Estonia hay Singapore cho thấy thành công không đến từ việc triển khai nhiều dịch vụ trực tuyến, mà từ việc xây dựng kiến trúc dữ liệu thống nhất, tầm nhìn dài hạn và cơ chế điều phối hiệu quả. Trong bối cảnh đó, Pháp nổi bật với cách tiếp cận thận trọng, chú trọng tính pháp lý, bảo vệ dữ liệu cá nhân và cải cách cấu trúc hành chính song song với số hóa. Mặc dù không thuộc nhóm đứng đầu tuyệt đối về chỉ số EGDI, Pháp vẫn nằm trong nhóm quốc gia có mức phát triển rất cao, cho thấy chiến lược của nước này thiên về tính bền vững và độ tin cậy hơn là tốc độ đột phá.

Đối với Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đang diễn ra với quyết tâm chính trị mạnh mẽ và tốc độ triển khai tương đối nhanh. Việc tăng hạng trong bảng xếp hạng EGDI năm 2024 phản ánh những nỗ lực đáng ghi nhận trong xây dựng Chính phủ số, phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia và cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao. Tuy nhiên, thách thức của Việt Nam không chỉ nằm ở hạ tầng công nghệ mà còn ở tính đồng bộ giữa các cấp chính quyền, năng lực nhân sự số và mức độ sử dụng thực tế của người dân.

Từ kinh nghiệm của Pháp, có thể rút ra một nhận xét quan trọng: thành công của chiến lược số hóa quản lý công phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng thể chế, quản trị thay đổi và sự tin cậy xã hội hơn là vào đầu tư công nghệ thuần túy. Việt Nam có lợi thế về khả năng tập trung nguồn lực và tốc độ ra quyết định, nhưng để phát triển bền vững, cần chú trọng hơn đến chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ thông tin cá nhân và nâng cao kỹ năng số toàn dân.

Nhìn chung, chuyển đổi số trong quản lý công là một quá trình dài hạn, đòi hỏi sự kết hợp giữa tầm nhìn chiến lược, cải cách thể chế và đổi mới tổ chức. Kinh nghiệm của Pháp cung cấp những bài học giá trị về cách cân bằng giữa đổi mới và ổn định, giữa tốc độ và tính pháp lý. Đối với Việt Nam, thách thức không phải là có nên chuyển đổi số hay không, mà là chuyển đổi theo mô hình nào để vừa phù hợp với bối cảnh thể chế trong nước, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

Tài liệu tham khảo

  1. European Commission. (2023). France – Digital Decade strategic roadmap. Retrieved from https://digital-skills-jobs.europa.eu
  2. Interministerial Digital Directorate (DINUM). (2023). France Digital Government Strategy. Government of France. Retrieved from https://www.numerique.gouv.fr
  3. OECD. (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a Digital Government. OECD Publishing.
  4. OECD. (2023). Digital Government Index 2023: Results and key findings. OECD Publishing.
  5. United Nations Department of Economic and Social Affairs (UN DESA). (2024). United Nations E-Government Survey 2024: Accelerating digital transformation for sustainable development. New York: United Nations.
  6. World Bank. (2022). GovTech Maturity Index: The state of digital transformation in the public sector. World Bank Group.
  7. IMD World Competitiveness Center. (2023). IMD World Digital Competitiveness Ranking 2023. Lausanne: IMD.
  8. Quốc hội Pháp. (2016). Loi pour une République numérique. République Française.
  9. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
  10. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số đến năm 2030.
  11. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2023). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia Việt Nam. Hà Nội.

 

[1] https://e-estonia.com/estonia-is-at-the-top-of-the-un-e-government-ranking/?

[2] https://publicadministration.un.org/egovkb/en-us/Data-Center

[3] https://publicadministration.un.org/egovkb/en-us/Data-Center

[4] https://www.rtinsights.com/rethinking-digital-transformation-in-the-public-sector/?

[5] https://digital-skills-jobs.europa.eu/en/actions/national-initiatives/national-strategies/france-national-digital-decade-strategic-roadmap?

[6] https://digital-skills-jobs.europa.eu/en/actions/national-initiatives/national-strategies/france-national-digital-decade-strategic-roadmap?

[7] DINUM. (2023). Stratégie numérique de l’État. Gouvernement français.

[8] https://vietnamnews.vn/society/1663252/viet-nam-climbs-one-place-in-un-e-government-index.html

KHUẤT THÙY TRANG

Văn phòng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

Các tin khác