/ Phân tích - Nghiên cứu
/ Định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

Định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

17/05/2026 06:10 |

(LSVN) - Trên thế giới, định hướng phát triển văn hóa pháp quyền đã được các quốc gia phát triển thực hiện từ lâu. Ở Việt Nam, hoạt động này mới chỉ được triển khai trong thời gian gần đây. Việt Nam đã và đang hội nhập sâu, rộng với thế giới nên việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 trong bối cảnh hội nhập sâu, rộng không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc.

Một số khái niệm liên quan đến văn hóa pháp quyền

Trước khi đi sâu phân tích các vấn đề về văn hóa pháp quyền, chúng ta cần tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan, đó là “văn hóa” và “pháp quyền”. Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm về “văn hóa” và “pháp quyền” được các học giả đưa ra ở cả bình diện trong nước và quốc tế. Liên quan đến thuật ngữ “văn hóa”, đây là một khái niệm có nội hàm rất rộng với nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa lại phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá riêng. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới (1).

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Theo đó, văn hóa là một thuật ngữ chung bao gồm hành vi xã hội, thể chế và chuẩn mực có trong xã hội loài người, cũng như kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luật pháp, phong tục, khả năng và thói quen của các cá nhân trong các nhóm này(2). Văn hóa được hiểu là những giá trị vật chất và tinh thần còn lại sau thời gian, được cộng đồng xã hội tự nguyện lưu truyền từ đời này sang đời khác thông qua các chuỗi sự kiện trong đời sống hàng ngày(3) hay “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”(4)…

Như vậy, có thể hiểu văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử, được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn gắn liền với một cộng đồng dân cư, một khu vực, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định. “Pháp quyền” là một thuật ngữ chính trị, pháp lý và khái niệm này đã được nhiều học giả quốc tế đưa ra từ lâu nhưng chưa có một định nghĩa chung. Tùy thuộc vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và pháp luật ở mỗi quốc gia cũng như quan niệm chính trị - pháp lý của từng học giả mà khái niệm pháp quyền được đưa ra có nội hàm rộng hay hẹp.

Các nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng cụm từ này bắt nguồn từ nước Anh vào thế kỷ thứ 16. Vào thế kỷ sau đó, nhà thần học người Scotland Samuel Rutherford đã sử dụng nó để lập luận chống lại quyền lực thần thánh của các vị vua(5). Pháp quyền hay pháp trị (tiếng Anh: rule of law nghĩa đen - sự thống trị của pháp luật) là một triết lý chính trị mà theo đó, mọi công dân và thể chế trong một quốc gia, nhà nước, hoặc cộng đồng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như nhau, bao gồm cả các nhà lập pháp và các nhà lãnh đạo(6). Thuật ngữ rule of law được nhà Hiến pháp học người Anh, Dicey, lần đầu tiên trình bày một cách hệ thống trong tác phẩm Introduction to the Study of the Law of Constitution (Giới thiệu về nghiên cứu luật hiến pháp), với ba biểu hiện đặc trưng: (i) Thứ nhất (và là cốt lõi), sự bình đẳng trước pháp luật và trước quyền tài phán của tòa án: không ai đứng trên pháp luật; tất cả mọi người, bất kể địa vị hay điều kiện, đều là đối tượng của pháp luật và chịu sự xét xử của cơ quan tư pháp; (ii) Thứ hai, sự đối ngược với quyền lực tùy tiện: Không ai bị trừng phạt hoặc phải chịu tổn hại về thân thể hay lợi ích trừ khi có sự vi phạm pháp luật rõ ràng theo các thủ tục pháp lý trước tòa án; (iii) Thứ ba, các nguyên tắc hiến pháp, dựa trên nền tảng rule of law, không phải là nguồn gốc, mà là kết quả của các quyền con người, hình thành qua án lệ của tòa án(7). William H. Neukom - đồng sáng lập và giám đốc điều hành dự án Công lý thế giới định nghĩa “Pháp quyền là nền tảng cho những cộng đồng lành mạnh về công lý, cơ hội và hòa bình”(8)… Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng tựu chung lại, các học giả đều có chung một nhận thức cốt lõi về pháp quyền đó là: Pháp luật có tính tối thượng mà mọi chủ thể bao gồm cả người dân và nhà nước đều bị điều chỉnh bởi pháp luật và đều phải tuân thủ pháp luật; pháp luật đó phải là pháp luật bảo vệ công lý, công bằng và lẽ phải, bảo vệ quyền con người; pháp luật đó được hình thành một cách dân chủ chứa đựng các giá trị của quốc gia, dân tộc và quốc tế.

Từ những phân tích ở trên, có thể định nghĩa, rule of law là việc lấy pháp luật và tinh thần thượng tôn pháp luật làm yếu tố cơ sở, định hướng, chi phối hoạt động của một xã hội. Nói cách khác, rule of law buộc mọi chủ thể trong xã hội (nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân) vào một “luật chơi” chung, trong đó pháp luật là chuẩn mực đối chiếu(9). Trong khi đó, thuật ngữ “văn hóa pháp quyền” đã được nhiều học giả quốc tế và trong nước nghiên cứu, định nghĩa khác nhau. Văn hóa pháp quyền có nguồn gốc từ một lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa và môi trường thực tế nhất định, được tích lũy tương đối, ổn định ở một quốc gia, khu vực sau quá trình xã hội hóa lâu dài, tức là lối suy nghĩ, ứng xử của một quốc gia, khu vực, quốc gia và xã hội đối với đời sống pháp luật, trong đó lấy các giá trị làm cốt lõi, trong đó có nhận thức của người dân về nhà nước pháp quyền, khái niệm nhà nước pháp quyền, tư duy nhà nước pháp quyền và giá trị pháp luật(10).

“Văn hóa pháp quyền” không phải là một thuật ngữ pháp lý chuẩn mực, đó là sự kết hợp của hai khái niệm: Pháp quyền và văn hóa pháp lý. Pháp quyền là một nguyên tắc mà mọi người, bao gồm cả chính phủ, đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật công, được thực thi bình đẳng và độc lập. Văn hóa quyền đề cập đến niềm tin, giá trị và thái độ tập thể của một xã hội về luật pháp, những yếu tố có thể ảnh hưởng đến hành vi, chẳng hạn như việc mọi người có lựa chọn kiện tụng hay không và cách họ tương tác với hệ thống pháp luật...

Văn hóa pháp quyền - đó là toàn bộ những giá trị do con người tạo ra, được kết tinh và thẩm thấu trong toàn bộ lĩnh vực pháp quyền. Nói cụ thể thì có thể hiểu, đó là: trình độ văn minh cao trong hoạt động pháp lý và các quan hệ pháp quyền; tính hiện thực của các giá trị văn hóa trong hoạt động pháp lý và các quan hệ pháp quyền; tính nhân văn được thực hiện trong lĩnh vực pháp quyền và các quan hệ pháp quyền(11). Văn hóa pháp quyền là toàn bộ những giá trị mà con người tạo ra, được biểu hiện và thẩm thấu trong hoạt động xây dựng nhà nước pháp quyền(12)…

Từ những định nghĩa ở trên, có thể hiểu chung nhất thì văn hóa pháp quyền bao gồm toàn bộ các giá trị, tri thức, niềm tin, tình cảm và hành vi pháp lý thực tiễn mà con người tạo ra trong việc xây dựng và thực thi pháp luật. Nó thể hiện sự quản lý xã hội bằng pháp luật, thể hiện bản chất của một nhà nước pháp quyền, nơi mà pháp luật được tôn trọng và là nền tảng cho hoạt động của nhà nước và xã hội.

Một số định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035

Văn hóa pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm và khi nói đến văn hóa pháp quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến cái hay, cái đẹp, các giá trị bền vững trong hoạt động xây dựng, tổ chức quyền lực nhà nước; tổ chức, điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thuật ngữ “chế độ pháp trị”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca”, Người khẳng định: “Bảy xin hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(13). Đây là tư tưởng đặc sắc, nhất quán, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cho đến nay, chưa có một văn bản chi tiết, cụ thể nào của Việt Nam về “Định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035” mà nội dung của các định hướng này nằm trong nhiều văn bản khác nhau, thể hiện chủ trương, đường lối lớn của Đảng và Nhà nước, được xây dựng trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.

Định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 tập trung vào việc xây dựng một hệ thống văn hóa pháp quyền có nền tảng vững chắc, với mục tiêu nâng cao nhận thức và hành vi tuân thủ pháp luật, tạo dựng niềm tin vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi công dân, tổ chức đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Hoàn thiện cơ chế giám sát việc tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và tăng cường hợp tác quốc tế về pháp lý.

Về cơ bản, định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:

Thứ nhất, quán triệt, nhận thức đầy đủ về văn hóa pháp quyền đối với các đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và người dân

Cần quán triệt để các đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và người dân nhận thức đúng và đầy đủ về văn hóa pháp quyền. Coi văn hóa pháp quyền là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa dân tộc, bảo đảm cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Thứ hai, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật

Việc xây dựng và hoàn thiện hiện thống pháp luật là điều kiện tiên quyết để phát triển văn hóa pháp quyền. Hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi; bảo đảm tính công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước; tạo cơ sở, nền tảng vững chắc cho việc hình thành và phát triển văn hóa pháp quyền trong toàn xã hội.

Thứ ba, đề cao vai trò của Hiến pháp và pháp luật

Hiến pháp là đạo luật gốc và có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, việc xây dựng ý thức tôn trọng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật một cách tự giác đối với các đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và người dân là điều kiện tiên quyết để thực hiện văn hóa pháp quyền, coi công việc này là chuẩn mực đạo đức, là hành vi ứng xử chủ yếu trong đời sống xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tăng cường hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đưa pháp luật đến gần người dân hơn, giúp người dân hiểu biết đúng, đầy đủ pháp luật, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật. Hơn thế nữa, việc người dân hiểu biết pháp luật cũng giúp họ có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, đồng thời đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong xã hội. Việc thực hiện tốt các hoạt động trên sẽ là tiền đề quan trọng để phát triển văn hóa pháp quyền trong xã hội.

Thứ năm, nâng cao năng lực cán bộ làm việc trong lĩnh vực pháp luật

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác pháp luật, tư pháp có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, liêm chính, bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Thứ sáu, cải cách thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp

Đẩy mạnh hoạt động cải cách thủ tục hành chính, cải cách thủ tục tư pháp theo hướng đơn giản hóa, bảo đảm tính công khai, dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận công lý, giảm các tiêu cực, tham nhũng. Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp để giải quyết nhanh chóng các yêu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Thứ bảy, phát huy dân chủ gắn với kỷ cương

Việc mở rộng dân chủ phải luôn đi đôi với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ là để người dân được tham gia, đóng góp ý kiến, làm chủ, còn kỷ cương là để những đóng góp đó được thực hiện một cách có tổ chức, hiệu quả, không biến thành tự do tùy tiện, trái với đường lối, nguyên tắc. Sự kết hợp này tạo ra một môi trường dân chủ thực chất, vừa phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhân dân, vừa bảo đảm sự ổn định, đúng định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam. Hơn thế nữa, việc phát huy dân chủ gắn với kỷ cương còn nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xã hội, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ tám, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật

Việt Nam đã và đang hội nhập sâu, rộng với thế giới, việc mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực pháp luật là hết sức cần thiết. Do đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, qua đó học hỏi những kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Việt Nam để từ đó phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam bắt nhịp với xu thế chung của thế giới. Những định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 nêu trên hướng tới việc xây dựng một xã hội Việt Nam thượng tôn pháp luật, trong đó pháp luật thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trở thành thói quen, nếp sống văn hóa của mỗi người dân nhằm xây dựng một xã hội Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh, và hội nhập quốc tế.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035

Để nâng cao hiệu quả thực hiện các định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, cần nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của người dân. Để nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của người dân thì cần tiến hành thường xuyên, liên tục các hoạt động truyền thông pháp luật. Để hoạt động truyền thông pháp luật đạt hiệu quả, cần phải đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật như: Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, các hoạt động văn hóa cộng đồng,… để có thể tiếp cận đông đảo các tầng lớp nhân dân. Triển khai giáo dục pháp luật trong nhà trường bằng việc tích hợp kiến thức pháp luật vào chương trình giáo dục ở mọi cấp học, từ đó hình thành ý thức pháp luật cho người dân ngay từ khi còn nhỏ. Xây dựng thói quen, văn hóa ứng xử văn minh, lịch sự, đúng pháp luật. Khuyến khích, động viên, khen thưởng các tổ chức, cá nhân điển hình có ý thức tuân thủ pháp luật thông qua các chương trình, chiến dịch tuyên truyền sâu, rộng, được thực hiện từ địa phương đến Trung ương; gắn quyền và nghĩa vụ của công dân với trách nhiệm xã hội.

Hai là, tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật. Sự tham gia của người dân vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật cần được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các phương thức: Tham vấn ý kiến, xây dựng cơ chế để có thể lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân, các chuyên gia và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật; giám sát cộng đồng nhằm phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với việc thi hành pháp luật thông qua các hình thức như: Phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp tham gia vào các hoạt động tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho người dân, doanh nghiệp và cho chính thành viên của mình.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu, tận tụy với công việc. Phát triển văn hóa pháp quyền cần phải bắt đầu từ con người. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu, tận tụy với công việc là nhân tố quyết định sự thành công. Về vấn đề này, Đảng ta đã khẳng định: Nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam(14). Hầu hết trong các kỳ đại hội, Đảng ta đều dành một lượng thời gian nhất định bàn về con người, khẳng định con người là trung tâm, chủ thể của mọi hoạt động. Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”(15). Đặc biệt, Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định chủ trương trọng tâm cơ bản, xuyên suốt phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển”(16). Do đó, cần tiến hành thường xuyên, liên tục các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là những người làm công tác pháp luật. Bên cạnh đó, cần rèn luyện đạo đức công vụ, xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, và liêm chính cho cán bộ, công chức, viên chức. Cần đẩy mạnh các hoạt động cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ công, giảm thiểu nhũng nhiễu, tiêu cực.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế giám sát và thực thi pháp luật thông qua cơ chế tăng cường trách nhiệm giải trình. Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực để hạn chế việc lạm quyền, bảo đảm trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thi hành pháp luật. Xây dựng cơ chế phù hợp để nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước thực thi pháp luật như: công an, viện kiểm sát, tòa án. Việc hoàn thiện cơ chế giám sát và thực thi pháp luật cần hướng tới mục tiêu bảo đảm sự bình đẳng trong việc thực thi pháp luật bằng việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ,...

Năm là, cần mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp lý. Trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng với thế giới, việc mở rộng hợp tác quốc tế về pháp lý để văn hóa pháp quyền Việt Nam bắt nhịp với các chuẩn mực quốc tế là tất yếu. Việt Nam cần tăng cường hơn nữa trong việc hợp tác pháp lý với các quốc gia, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các quốc gia tiên phong trong việc xây dựng và phát triển văn hóa pháp quyền để học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng văn hóa pháp quyền thông qua việc tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tiến bộ, hợp lý và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tận dụng các cơ hội phát sinh từ hoạt động hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, làm tiền đề tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế.

Kết luận

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát triển văn hóa pháp quyền là tất yếu nhằm bắt nhịp xu thế chung. Tuy nhiên, để việc phát triển văn hóa pháp quyền đạt hiệu quả cao thì cần phải có những định hướng khoa học, có tính khả thi và phải phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Mặc dù Việt Nam chưa có một văn bản cụ thể, chi tiết nào về “Định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035” nhưng nội dung của các định hướng này được phản ánh trong các chủ trương, đường lối lớn của Đảng và Nhà nước. Để các định hướng phát triển văn hóa pháp quyền Việt Nam đến năm 2035 đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả, cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp và trên hết, các hoạt động này cần có sự chung tay của toàn xã hội, đặc biệt là sự quan tâm của Đảng, sự đầu tư của Nhà nước cũng như sự nỗ lực của toàn dân.

1. Lương Văn Kế, Thế giới đa chiều, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2007, tr. 313.

2. Tylor, Edward (1871), Primitive Culture. Vol1. New York: J.P. Putnam' sSon.

3. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

4. Nguyễn Như Ý - chủ biên, Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo,Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998.

5. Rutherford, Samuel. Lex, rex: The law and the prince, a dispute for the just prerogative of king and people, containing thereasons and causes of the defensive wars of the kingdom of Scotland, and of their expedition for the ayd and help of theirbrethren of England, p. 237 (1644): “The prince remaineth, even being a prince, a social creature, a man, as well as a king;one who must buy, sell, promise, contract, dispose: ergo, he is not regula regulans, but under rule of law,...”.

6. Society, National Geographic (2019), Rule of law, https://www.nationalgeographic. com/magazine/article/4-countries-wherewomen-have-gained-political-power-and-the-obstacles-they-still-face-feature, access dated November 20, 2025.

7. Nguyễn Công Giao, Nguyễn Minh Tâm, Pháp quyền trong mối quan hệ với quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam hiện nay,https://quochoi.vn/hoatdongcuaquochoi/cackyhopquochoi/quochoikhoaXIII/Pages/danh-sach-ky-hop.aspx? ItemID=45218& CategoryId=0, ngày 18/11/2025.

8. The World Justice Project, What is the Rule of Law?, https://worldjusticeproject.org/ about-us/overview/what-rule-law, accesed date November 21, 2025.

9. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4% 83n_ h%C3%B3a, ngày 14/11/2025.

10. Dong Bangjun (2019), On the Construction of Rule of Law Culture Centered on Harmonious Society, https://www.heraldopenaccess.us/ openaccess/on-the-construction-of-rule-of-law-culture-centered-on-harmonious-society, access dated November 16, 2025.

11. Trần Kim Cúc, Về xây dựng văn hóa pháp quyền, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/21303/vexay-dung-van-hoa-phap-quyen.as px, ngày 15/11/2025.

12. Nguyễn Tùng Lâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa pháp quyền, https://tcnn.vn/news/detail/37749/ Tu_tuong_Ho_Chi_Minh_ve_ van_hoa_phap_quyenall.html, ngày 19/11/2025.

13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 473.

14. Đoàn Nam Đàn, Quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước, https://xaydungdang.org.vn/ dien-dan/quan-diem-cua-dang-ve-phat-huy-nhan-to-con-nguoi-trong-phat-trien-dat-nuoc-12380, ngày 17/11/2025.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 126-127.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 215

TS.LS NGÔ VĂN HIỆP

Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.

Các tin khác