Trên tinh thần đó, dự thảo Luật Luật sư sửa đổi hiện tập trung vào ba nhóm chính sách lớn: xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn; phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; đổi mới quản lý nhà nước, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và nâng cao trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Như vậy, điểm cốt lõi của lần sửa đổi này không phải chỉ là bổ sung thủ tục hay điều kiện hành nghề, mà là chuyển từ tư duy quản lý nghề luật sư bằng điều kiện hình thức sang quản trị nghề luật sư bằng chuẩn mực, dữ liệu, trách nhiệm giải trình và chất lượng phục vụ pháp quyền.

Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Người lao động.
1. Sửa đổi Luật Luật sư không chỉ là sửa một đạo luật nghề nghiệp
Luật sư là một nghề đặc biệt trong cấu trúc Nhà nước pháp quyền. Tính đặc biệt đó không nằm ở việc luật sư đứng ngoài hệ thống pháp luật, càng không phải ở việc luật sư có đặc quyền nghề nghiệp tách khỏi trách nhiệm xã hội. Luật sư đặc biệt vì luật sư hành nghề bằng tri thức pháp luật, bản lĩnh độc lập, đạo đức nghề nghiệp và năng lực sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thông qua hoạt động tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, trọng tài, hòa giải, thẩm định pháp lý, tư vấn tuân thủ và các dịch vụ pháp lý khác, luật sư góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền tài sản, quyền kinh doanh, quyền tiếp cận công lý và trật tự pháp luật.
Từ góc độ thể chế, luật sư không chỉ là người cung cấp dịch vụ pháp lý theo hợp đồng. Luật sư còn là một chủ thể tham gia vào quá trình vận hành pháp quyền: Giúp người dân hiểu đúng quyền của mình; giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro; giúp cơ quan tiến hành tố tụng có thêm đối trọng tranh tụng; giúp các chủ thể xã hội lựa chọn phương án xử sự hợp pháp; và thông qua từng vụ việc cụ thể, góp phần làm rõ ranh giới giữa quyền lực công, quyền tư, lợi ích công cộng và quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Chính vì vậy, sửa đổi Luật Luật sư không nên chỉ được nhìn ở tầng kỹ thuật lập pháp như sửa đổi về chứng chỉ hành nghề, thẻ luật sư, tập sự hành nghề, gia nhập Đoàn Luật sư, tổ chức hành nghề, hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc thủ tục quản lý. Những nội dung này cần thiết, nhưng mới là bề mặt của vấn đề. Ở tầng sâu hơn, sửa đổi Luật Luật sư là dịp đánh giá lại vị trí của nghề luật sư trong cấu trúc pháp quyền Việt Nam: Luật sư được bảo đảm quyền hành nghề đến đâu; nghĩa vụ nghề nghiệp cần được chuẩn hóa như thế nào; tiêu chuẩn đầu vào của nghề có đủ phản ánh bản lĩnh, đạo đức và năng lực hành nghề hay chưa; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư có đủ năng lực tự quản thực chất hay không; thị trường dịch vụ pháp lý có đủ minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và tương thích với hội nhập quốc tế hay chưa; quản lý nhà nước cần đổi mới ra sao để vừa bảo đảm kỷ cương, vừa không hành chính hóa nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi hiện tập trung vào ba nhóm chính sách lớn: xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn; phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; đổi mới quản lý nhà nước, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và nâng cao trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Ba nhóm chính sách này không nên được xem là ba phần rời rạc. Chúng tạo thành một chỉnh thể: chuẩn con người quyết định chất lượng nghề; quyền hành nghề quyết định khả năng bảo vệ khách hàng; nghĩa vụ nghề nghiệp quyết định niềm tin xã hội; thị trường dịch vụ pháp lý quyết định năng lực cạnh tranh; còn quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp quyết định kỷ cương, tính độc lập và sức bền của nghề luật sư.
Điều quan trọng là cách tiếp cận sửa luật phải hướng tới nang cao chất lượng hành nghề luật sư thực chất thay vì chỉ bổ sung thêm điều kiện hoặc thủ tục hành chính. Nếu chỉ bổ sung thêm điều kiện nhưng không làm rõ tiêu chí đánh giá, luật có thể tạo thêm thủ tục mà chưa chắc nâng chất lượng. Nếu chỉ mở rộng quyền nhưng không chuẩn hóa nghĩa vụ, nghề luật sư có thể phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững. Nếu chỉ siết quản lý nhưng không bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp, luật sư sẽ khó thực hiện chức năng xã hội. Nếu chỉ nói tự quản nhưng thiếu dữ liệu, thiếu kỷ luật nội bộ, thiếu cơ chế bảo vệ luật sư hành nghề đúng và xử lý luật sư hành nghề sai, tự quản sẽ khó đi vào thực chất.
Do đó, sửa đổi Luật Luật sư cần được nhìn như một bước hoàn thiện thể chế pháp quyền, trong đó nghề luật sư được đặt đúng vị trí: Độc lập nhưng không đứng ngoài pháp luật; bảo vệ khách hàng nhưng không bảo vệ lợi ích trái pháp luật; tự quản nghề nghiệp nhưng không buông lỏng kỷ luật; được Nhà nước bảo vệ khi hành nghề đúng nhưng phải chịu trách nhiệm nghiêm minh khi hành nghề sai chuẩn.
2. Tiêu chuẩn luật sư cần chuyển từ điều kiện hình thức sang năng lực, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp
Một trong những điểm then chốt của sửa đổi Luật Luật sư là tiêu chuẩn luật sư. Luật hiện hành quy định công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư và có sức khỏe bảo đảm hành nghề thì có thể trở thành luật sư. Cấu trúc tiêu chuẩn này về cơ bản là đúng, bởi nó kết hợp các yếu tố chính trị - pháp lý, đạo đức - nhân thân và chuyên môn - nghề nghiệp.
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, tiêu chuẩn đó cần được phát triển theo hướng thực chất hơn. Một người có bằng luật chưa chắc đã có tư duy hành nghề. Một người đã hoàn thành khóa đào tạo nghề chưa chắc đã đủ kỹ năng xử lý hồ sơ. Một người có kinh nghiệm pháp luật chưa chắc đã hiểu đầy đủ quan hệ luật sư - khách hàng, trách nhiệm bảo mật, xung đột lợi ích, thù lao, phạm vi dịch vụ, trách nhiệm nghề nghiệp và giới hạn đạo đức. Một người giỏi chuyên môn nhưng thiếu đạo đức, thiếu bản lĩnh độc lập hoặc thiếu khả năng từ chối yêu cầu sai trái của khách hàng có thể gây rủi ro lớn hơn cho khách hàng, cho hoạt động tư pháp và cho uy tín chung của nghề luật sư.
Vì vậy, tiêu chuẩn luật sư cần chuyển từ tư duy “đủ điều kiện” sang tư duy “đạt chuẩn”. Đủ điều kiện là yêu cầu tối thiểu về mặt thủ tục; đạt chuẩn là yêu cầu thực chất về năng lực hành nghề. Chuẩn luật sư trong giai đoạn mới phải bao gồm bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành, trách nhiệm xã hội, năng lực bảo mật, năng lực kiểm soát xung đột lợi ích, năng lực sử dụng công nghệ an toàn và khả năng thích ứng với môi trường pháp lý xuyên biên giới, số hóa và cạnh tranh cao.
Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị là định hướng cần thiết. Nhưng “bản lĩnh chính trị” là khái niệm có độ khái quát cao. Nếu chỉ ghi nhận ở mức khẩu hiệu hoặc điều kiện chung chung, quy định có thể khó áp dụng thống nhất, thậm chí tạo tâm lý e ngại vì không biết tiêu chí đánh giá cụ thể là gì. Do đó, vấn đề không phải là có nên đặt ra yêu cầu bản lĩnh chính trị hay không, mà là phải lượng hóa nội hàm này bằng ngôn ngữ pháp lý và chuẩn nghề nghiệp.
Trong nghề luật sư, bản lĩnh chính trị cần được cụ thể hóa thành các tiêu chí có thể nhận diện: Trung thành với Tổ quốc; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tôn trọng sự thật khách quan; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng trong khuôn khổ pháp quyền; không lợi dụng danh nghĩa luật sư để xâm hại lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; không bị chi phối bởi lợi ích sai lệch; bảo vệ khách hàng bằng biện pháp hợp pháp; giữ gìn đạo đức, danh dự, uy tín nghề nghiệp; có khả năng từ chối yêu cầu trái pháp luật hoặc trái đạo đức nghề nghiệp.
Nếu được thiết kế như vậy, yêu cầu về bản lĩnh chính trị không làm khó nghề luật sư, mà làm cho nghề luật sư vững vàng hơn, chính danh hơn và được xã hội tin cậy hơn. Bản lĩnh chính trị trong nghề luật sư, xét đến cùng, phải được chuyển hóa thành bản lĩnh nghề nghiệp: Dám bảo vệ cái đúng bằng con đường hợp pháp; dám nói không với yêu cầu sai trái; dám giữ độc lập trước áp lực lợi ích; dám tôn trọng sự thật khách quan; dám đặt danh dự nghề nghiệp lên trên lợi ích tức thời; dám góp phần bảo vệ pháp quyền bằng phương pháp nghề nghiệp chuẩn mực.
Cũng từ yêu cầu chuẩn hóa tiêu chuẩn luật sư, cần nhìn lại cơ chế miễn đào tạo, miễn hoặc giảm thời gian tập sự. Người từng là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, giảng viên, nhà nghiên cứu, tiến sĩ luật hoặc người có thời gian công tác pháp luật lâu năm đều là nguồn nhân lực có giá trị. Họ có kinh nghiệm pháp lý, hiểu thiết chế nhà nước, hiểu phương pháp áp dụng pháp luật và có nền tảng chuyên môn nhất định. Tuy nhiên, không nên đồng nhất kinh nghiệm tư pháp, học thuật hoặc công tác pháp luật với năng lực hành nghề luật sư.
Nghề luật sư có tính chất và yêu cầu nghề nghiệp riêng. Thẩm phán xét xử, kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, điều tra viên tiến hành điều tra theo thẩm quyền, giảng viên và nhà nghiên cứu phát triển tri thức pháp lý. Luật sư lại đứng trong quan hệ dịch vụ pháp lý với khách hàng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng bằng biện pháp hợp pháp, chịu trách nhiệm về bảo mật thông tin, xung đột lợi ích, thù lao, hợp đồng dịch vụ pháp lý, truyền thông nghề nghiệp, đạo đức ứng xử và giới hạn của tư vấn. Những kinh nghiệm pháp lý khác rất đáng quý, nhưng không tự động thay thế năng lực hành nghề luật sư.
Vì vậy, cơ chế miễn, giảm cần theo hướng công nhận kinh nghiệm nhưng không bỏ qua đặc thù nghề luật sư. Có thể miễn một phần, giảm một phần, nhưng vẫn cần chương trình chuyển đổi nghề hoặc kiểm tra bắt buộc về đạo đức luật sư, kỹ năng tiếp nhận khách hàng, kỹ năng tư vấn, kỹ năng tranh tụng ở vị trí luật sư, bảo mật, xung đột lợi ích, hợp đồng dịch vụ pháp lý, thù lao, trách nhiệm với khách hàng và giới hạn hành nghề. Cách tiếp cận này vừa tôn trọng kinh nghiệm đã có, vừa bảo vệ chất lượng nghề luật sư.
Đào tạo nghề luật sư cũng cần chuyển từ tư duy hoàn thành chương trình sang tư duy chuẩn đầu ra. Chuẩn đầu ra không chỉ là hiểu quy định pháp luật, mà là biết hành nghề: Đọc hồ sơ, xác định vấn đề pháp lý, phân tích chứng cứ, tư vấn rủi ro, soạn thảo văn bản, trình bày luận cứ, thương lượng, hòa giải, bảo mật dữ liệu, nhận diện xung đột lợi ích, quản lý thời hạn, giao tiếp với khách hàng và ứng xử đúng chuẩn mực trong môi trường số. Một chương trình đào tạo nghề luật sư hiện đại phải đào tạo người hành nghề có khả năng chịu trách nhiệm, không chỉ đào tạo người vượt qua kỳ kiểm tra.
3. Luật sư tập sự cần được thực hành nghề có kiểm soát
Chất lượng luật sư không chỉ được quyết định bởi tiêu chuẩn đầu vào và chương trình đào tạo, mà còn phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn tập sự. Tập sự hành nghề luật sư là cầu nối giữa đào tạo nghề và hành nghề độc lập. Nếu cầu nối này chắc, đội ngũ luật sư trẻ sẽ có nền tảng tốt hơn. Nếu cầu nối này hình thức, nghề luật sư sẽ phải trả giá bằng khoảng trống kỹ năng, khoảng trống đạo đức và khoảng trống trách nhiệm nghề nghiệp.
Luật hiện hành quy định người tập sự được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp, nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật. Cách thiết kế này thể hiện sự thận trọng cần thiết, bởi người tập sự chưa phải là luật sư hành nghề độc lập. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nếu tập sự chủ yếu là quan sát, đi cùng, hỗ trợ hành chính hoặc chờ đủ thời gian thì khó tạo ra năng lực hành nghề thực chất.
Dự thảo sửa đổi theo hướng chuyển từ “người tập sự hành nghề luật sư” sang “luật sư tập sự”, cho gia nhập Đoàn Luật sư từ giai đoạn tập sự và mở rộng phạm vi công việc được làm là một bước tiến. Tên gọi mới không chỉ có ý nghĩa ngôn ngữ. Nó phản ánh cách nhìn mới: Người tập sự đã bước vào quỹ đạo nghề nghiệp, cần được đặt trong môi trường nghề luật sư, chịu sự quản lý, rèn luyện, giám sát và đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp, nhưng chưa được hành nghề độc lập như luật sư chính thức.
Tuy nhiên, mở rộng thực hành phải đi cùng kiểm soát. Luật sư tập sự cần được tiếp xúc với hồ sơ thật, khách hàng thật, tình huống thật, áp lực thật và trách nhiệm thật. Họ cần được nghiên cứu hồ sơ, dự thảo văn bản, chuẩn bị phương án tư vấn, hỗ trợ luật sư trong tố tụng, tham gia buổi làm việc với khách hàng, học cách bảo mật thông tin, nhận diện xung đột lợi ích và xử lý tình huống đạo đức. Nhưng mọi hoạt động đó phải được đặt trong cơ chế hướng dẫn, giới hạn và chịu trách nhiệm rõ ràng.
Trước hết, luật sư hướng dẫn phải là người truyền nghề, không chỉ là người ký xác nhận. Luật sư hướng dẫn cần lập kế hoạch tập sự, phân công công việc phù hợp, kiểm tra sản phẩm, hướng dẫn đạo đức nghề nghiệp, kiểm soát bảo mật, đánh giá định kỳ và xác nhận trung thực quá trình tập sự. Một luật sư có đủ số năm hành nghề chưa chắc đã đủ năng lực hướng dẫn. Hướng dẫn tập sự đòi hỏi trách nhiệm, thời gian, phương pháp đào tạo, chuẩn mực đạo đức và ý thức bảo vệ khách hàng. Nếu luật sư hướng dẫn làm hình thức, quá trình tập sự sẽ khó thực chất.
Tiếp theo, khách hàng phải được tôn trọng quyền được biết và quyền đồng ý. Khi luật sư tập sự tham gia xử lý vụ việc, đặc biệt là khi tiếp cận thông tin mật, tài liệu quan trọng hoặc tham gia các hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền lợi của khách hàng, cần có thông báo rõ ràng và sự đồng ý phù hợp. Điều này không làm nặng thủ tục, mà bảo vệ niềm tin trong quan hệ luật sư - khách hàng. Khách hàng có quyền biết ai được tiếp cận hồ sơ, ai dự thảo văn bản, ai tham gia buổi làm việc và trách nhiệm cuối cùng thuộc về ai.
Cuối cùng, cần có nhật ký tập sự hoặc hồ sơ tập sự điện tử để chống tập sự hình thức. Việc đánh giá tập sự không nên chỉ dựa vào thời gian, mà phải dựa vào loại việc đã tham gia, kỹ năng đã rèn, sản phẩm đã thực hiện, tình huống đạo đức đã được xử lý, nhận xét của luật sư hướng dẫn và chuẩn đầu ra nghề nghiệp. Nhật ký tập sự cần phản ánh quá trình rèn nghề thực tế: Hồ sơ đã nghiên cứu, văn bản đã dự thảo, buổi làm việc đã tham gia, vấn đề bảo mật đã được hướng dẫn, xung đột lợi ích đã được nhận diện, kỹ năng đã được đánh giá.
Cần phân tầng công việc của luật sư tập sự theo mức độ rủi ro. Có nhóm công việc luật sư tập sự có thể thực hiện dưới sự kiểm tra sau, như nghiên cứu hồ sơ, lập bảng sự kiện, tra cứu pháp luật, dự thảo ghi chú pháp lý. Có nhóm công việc phải được luật sư hướng dẫn duyệt trước, như dự thảo thư tư vấn, đơn, hợp đồng, luận cứ. Có nhóm công việc cần luật sư hướng dẫn trực tiếp giám sát, như làm việc với khách hàng, tham gia hoạt động tố tụng hoặc trao đổi với cơ quan, tổ chức. Có nhóm công việc chưa nên giao cho luật sư tập sự nếu liên quan đến quyết định chiến lược, ký văn bản chính thức hoặc cam kết pháp lý thay mặt khách hàng.
Tập sự không phải là chờ được hành nghề. Tập sự là học cách hành nghề đúng. Một chế định luật sư tập sự tốt phải tạo ra môi trường thực hành nghề có kiểm soát, trong đó người tập sự được làm việc thật nhưng không bị đẩy vào trách nhiệm vượt quá năng lực; khách hàng được bảo vệ; luật sư hướng dẫn phải chịu trách nhiệm; Đoàn Luật sư có dữ liệu để giám sát; và kỳ kiểm tra tập sự có cơ sở đánh giá năng lực thực chất.
4. Mở rộng quyền hành nghề phải đi cùng bảo mật, xung đột lợi ích và trách nhiệm với khách hàng
Một đạo luật tiến bộ về luật sư phải bảo vệ tốt hơn quyền hành nghề hợp pháp của luật sư. Quyền hành nghề của luật sư không phải là đặc quyền cá nhân, mà là điều kiện để luật sư bảo vệ quyền của khách hàng. Nếu luật sư không được bảo đảm quyền tiếp cận hồ sơ, gặp khách hàng, thu thập tài liệu hợp pháp, trình bày quan điểm, tranh luận, tư vấn, đại diện, bảo vệ bí mật nghề nghiệp và thực hiện các dịch vụ pháp lý hợp pháp, thì quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng cũng khó được bảo vệ đầy đủ.
Tuy nhiên, quyền càng rõ thì nghĩa vụ càng phải rõ. Một nghề luật sư mạnh không phải là nghề có quyền không giới hạn, mà là nghề có quyền rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng, đạo đức rõ ràng và cơ chế xử lý vi phạm rõ ràng. Vì vậy, sửa Luật Luật sư không chỉ là mở rộng quyền cho luật sư, mà còn phải nâng chuẩn trách nhiệm của luật sư; không chỉ bảo vệ luật sư khi hành nghề đúng, mà còn phải bảo vệ khách hàng và niềm tin xã hội khỏi hành vi hành nghề sai chuẩn.
Trước hết là nghĩa vụ bảo mật. Điều 9 Luật Luật sư hiện hành đã nghiêm cấm luật sư tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Quy định này đúng, nhưng cần được phát triển trong bối cảnh số. Bảo mật ngày nay không chỉ là không nói ra thông tin khách hàng. Bảo mật còn là không sử dụng thông tin khách hàng sai mục đích, không đưa dữ liệu khách hàng vào công cụ thiếu an toàn, không chia sẻ hồ sơ qua nền tảng không bảo mật, không để nhân sự không có trách nhiệm tiếp cận tài liệu, không khai thác hồ sơ làm chất liệu quảng bá.
Nghĩa vụ bảo mật cần được hiểu theo vòng đời dữ liệu: Tiếp nhận, lưu trữ, phân quyền truy cập, sử dụng, chia sẻ nội bộ, gửi cho bên thứ ba, nộp cho cơ quan có thẩm quyền, sao lưu, chuyển giao, hủy bỏ và xử lý sự cố lộ lọt. Trong môi trường số, một sơ suất nhỏ như gửi nhầm email, lưu hồ sơ vào thiết bị cá nhân, dùng ứng dụng nhắn tin không an toàn hoặc đưa tài liệu khách hàng vào các công cụ công nghệ hiện đại có thể tạo ra rủi ro lớn. Vì vậy, Luật cần đặt nền tảng nguyên tắc, còn tổ chức hành nghề luật sư phải xây dựng quy trình nội bộ tương ứng.
Tiếp theo là xung đột lợi ích. Luật hiện hành đã cấm luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập trong cùng vụ việc. Nhưng thực tiễn phức tạp hơn. Xung đột có thể phát sinh từ khách hàng cũ, khách hàng hiện tại, khách hàng liên quan, lợi ích tài chính của luật sư, quan hệ cá nhân, tổ chức hành nghề hoặc thông tin mật mà luật sư đã biết. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy chỉ “cấm” sang tư duy quản trị xung đột lợi ích: Kiểm tra trước khi nhận vụ việc, thông báo khi phát sinh, từ chối hoặc chấm dứt dịch vụ khi cần thiết, bảo vệ thông tin và minh bạch với khách hàng.
Một nội dung khác là hợp đồng dịch vụ pháp lý, thù lao và chi phí. Quan hệ luật sư - khách hàng dựa trên niềm tin, nhưng niềm tin không thay thế được sự minh bạch. Phạm vi công việc, thù lao, chi phí, trách nhiệm báo cáo, nghĩa vụ phối hợp, bảo mật, xung đột lợi ích, chấm dứt dịch vụ và giải quyết tranh chấp cần được xác định rõ. Việc công nhận hợp đồng dịch vụ pháp lý điện tử là cần thiết, nhưng phải đi cùng yêu cầu xác thực, lưu trữ, bảo vệ dữ liệu và khả năng chứng minh giao kết.
Cũng cần chuẩn hóa vấn đề quảng cáo, truyền thông, cam kết kết quả và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Luật sư có thể giới thiệu năng lực, phổ biến pháp luật, sử dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả hành nghề. Nhưng luật sư không được quảng cáo sai sự thật, cam kết chắc thắng, dùng thông tin khách hàng để truyền thông trái phép, lạm dụng mạng xã hội để gây áp lực thay cho lập luận pháp lý, hoặc sử dụng AI xử lý dữ liệu mật mà không kiểm soát được rủi ro. Công nghệ có thể hỗ trợ luật sư, nhưng không thay thế trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa cam kết về chất lượng công việc và cam kết về kết quả vụ việc. Luật sư có thể cam kết về phạm vi công việc, thời hạn, trách nhiệm báo cáo, bảo mật, mức độ tận tâm và việc sử dụng biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Nhưng luật sư không thể cam kết chắc chắn kết quả của vụ án, thủ tục hành chính, đàm phán, trọng tài hoặc tranh chấp khi kết quả đó phụ thuộc vào chứng cứ, pháp luật, cơ quan có thẩm quyền và hành vi của bên thứ ba. Chuẩn hóa nội dung này là cách bảo vệ khách hàng khỏi kỳ vọng sai lệch và bảo vệ nghề luật sư khỏi cạnh tranh thiếu lành mạnh.
5. Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý phải gắn với chuyển đổi số, FDI, kinh tế tư nhân và cải cách tư pháp
Thị trường dịch vụ pháp lý không phải là thị trường phụ trợ theo nghĩa hẹp. Đó là một cấu phần của môi trường kinh doanh và năng lực pháp lý quốc gia. Doanh nghiệp muốn phát triển cần an toàn pháp lý. Nhà đầu tư muốn bỏ vốn cần khả năng dự báo. Người dân muốn bảo vệ quyền lợi cần dịch vụ pháp lý chất lượng. Cơ quan tư pháp muốn tranh tụng thực chất cần luật sư đủ năng lực. Nền kinh tế muốn hội nhập sâu cần đội ngũ luật sư đủ sức xử lý giao dịch và tranh chấp phức tạp.
Trong phát triển kinh tế tư nhân, luật sư giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro, soạn thảo và rà soát hợp đồng, thiết kế cấu trúc giao dịch, xử lý tranh chấp, tư vấn lao động, thuế, đất đai, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, quản trị nội bộ và tuân thủ pháp luật. Doanh nghiệp càng phát triển, nhu cầu pháp lý càng lớn. Nếu thiếu dịch vụ pháp lý chất lượng, chi phí tuân thủ và chi phí tranh chấp của nền kinh tế sẽ tăng. Một nền kinh tế tư nhân mạnh không thể thiếu hệ sinh thái dịch vụ pháp lý mạnh, bởi giao dịch càng phức tạp thì nhu cầu về dự báo pháp lý, phân bổ rủi ro và giải quyết tranh chấp càng cao.
Trong thu hút FDI và hội nhập quốc tế, luật sư là cầu nối quan trọng giữa pháp luật Việt Nam và chuẩn mực giao dịch quốc tế. Nhà đầu tư nước ngoài cần môi trường pháp lý có khả năng dự báo và một hệ thống dịch vụ pháp lý đáng tin cậy. Doanh nghiệp Việt Nam khi đi ra thị trường quốc tế cũng cần luật sư đủ năng lực để tư vấn hợp đồng, trọng tài, pháp luật nước ngoài, rủi ro thương mại, tranh chấp xuyên biên giới, tuân thủ chuỗi cung ứng, bảo vệ dữ liệu và sở hữu trí tuệ. Nếu đội ngũ luật sư trong nước không theo kịp yêu cầu hội nhập, nhiều dịch vụ pháp lý giá trị cao sẽ dịch chuyển sang chủ thể nước ngoài.
Trong cải cách tư pháp, luật sư góp phần bảo đảm tranh tụng thực chất, quyền bào chữa, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền tiếp cận công lý và chất lượng xét xử. Một nền tư pháp hiện đại không thể thiếu luật sư có năng lực, có bản lĩnh và có điều kiện hành nghề. Tranh tụng chỉ có ý nghĩa thực chất khi luật sư có quyền tiếp cận hồ sơ, trình bày quan điểm độc lập, đưa ra chứng cứ, tranh luận bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật và không bị cản trở khi hành nghề đúng.
Trong chuyển đổi số, luật sư cần tham gia vào những vấn đề mới như bảo vệ dữ liệu cá nhân, giao dịch điện tử, hợp đồng thông minh, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, chứng cứ điện tử, sở hữu trí tuệ số, an ninh mạng và quản trị rủi ro công nghệ. Nếu Luật Luật sư không tạo nền tảng để đội ngũ luật sư thích ứng với các vấn đề này, thị trường dịch vụ pháp lý sẽ đi chậm hơn nhu cầu thực tế. Chuyển đổi số không chỉ đặt ra yêu cầu về công cụ làm việc của luật sư, mà còn tạo ra những lĩnh vực pháp lý mới cần luật sư tham gia.
Vì vậy, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý phải đi cùng nâng chuẩn tổ chức hành nghề luật sư. Tổ chức hành nghề luật sư không chỉ là nơi đăng ký hoạt động. Đó phải là chủ thể quản trị chất lượng dịch vụ: có quy trình tiếp nhận khách hàng, kiểm tra xung đột lợi ích, bảo mật hồ sơ, phân công công việc, kiểm soát sản phẩm, quản lý thù lao, đào tạo luật sư trẻ, hướng dẫn luật sư tập sự và xử lý khiếu nại của khách hàng. Nếu chỉ nâng chuẩn cá nhân luật sư mà không nâng chuẩn tổ chức hành nghề, thị trường dịch vụ pháp lý khó phát triển chuyên nghiệp.
Cần nhìn tổ chức hành nghề luật sư như một đơn vị cung cấp dịch vụ tri thức có rủi ro cao. Rủi ro không chỉ đến từ sai sót chuyên môn cá nhân, mà còn đến từ quản trị nội bộ yếu: không kiểm tra xung đột lợi ích, không bảo mật dữ liệu, không kiểm soát văn bản gửi khách hàng, không lưu trữ hồ sơ đúng chuẩn, không quản lý luật sư tập sự, không minh bạch thù lao hoặc không có quy trình xử lý khiếu nại. Vì vậy, Luật sửa đổi cần đặt nền tảng để tổ chức hành nghề luật sư chuyên nghiệp hóa về quản trị, công nghệ, đạo đức và trách nhiệm với khách hàng.
6. Quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp phải phân vai rõ để nghề luật sư vừa kỷ cương vừa độc lập
Luật hiện hành đã xác định nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Đây là nguyên tắc đúng và cần tiếp tục được khẳng định. Vấn đề của lần sửa đổi này là phải phân vai rõ hơn, trao công cụ đầy đủ hơn và đặt trách nhiệm giải trình cao hơn.
Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo thể chế, xác định tiêu chuẩn, ban hành quy định, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự pháp luật và bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp. Tuy nhiên, cơ chế quản lý cũng cần bảo đảm phù hợp với tính chất độc lập nghề nghiệp của Luật sư trong khuôn khổ pháp luật. Quản lý hiện đại là quản lý bằng tiêu chuẩn, dữ liệu quản lý, hậu kiểm, trách nhiệm giải trình và xử lý đúng hành vi vi phạm.
Ngược lại, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư cần tự quản thực chất hơn. Tự quản không chỉ là tiếp nhận hồ sơ, xác nhận tư cách, cấp đổi thẻ, thu phí, tổ chức đại hội hoặc xử lý kỷ luật khi có vụ việc. Tự quản phải đi vào chất lượng nghề nghiệp: Bồi dưỡng chuyên môn, đạo đức, kỹ năng; giám sát tập sự; cập nhật quy tắc đạo đức; bảo vệ luật sư hành nghề đúng; xử lý luật sư vi phạm; làm sạch đội ngũ; hỗ trợ luật sư trẻ; quản lý dữ liệu nghề nghiệp; đại diện tiếng nói của giới luật sư trong xây dựng chính sách, pháp luật.
Không nên hành chính hóa nghề luật sư, nhưng cũng không thể buông lỏng tự quản. Nếu quản lý nhà nước quá nặng thủ tục, luật sư dễ rơi vào trạng thái bị kiểm soát hành chính thay vì được quản lý bằng chuẩn mực nghề nghiệp. Nếu tự quản nghề nghiệp thiếu năng lực, thiếu minh bạch, thiếu dữ liệu hoặc thiếu kỷ luật, niềm tin xã hội vào nghề luật sư sẽ bị ảnh hưởng. Điểm cân bằng đúng là Nhà nước quản lý bằng pháp luật và thể chế; tổ chức nghề nghiệp tự quản bằng chuẩn mực, đạo đức và trách nhiệm; luật sư hành nghề bằng độc lập, chuyên môn và kỷ luật nghề nghiệp.
Chuyển đổi số phải trở thành nền tảng của đổi mới quản lý nghề luật sư. Cần chuyển từ quản lý bằng hồ sơ sang quản lý bằng trạng thái nghề nghiệp: Luật sư đang hành nghề hay không, thuộc tổ chức nào, đã hoàn thành nghĩa vụ bồi dưỡng chưa, có bị tạm đình chỉ hay kỷ luật không, có đang hướng dẫn tập sự không, thông tin công khai nào khách hàng có thể tra cứu. Cơ sở dữ liệu luật sư cần phục vụ quản lý nhà nước, tự quản nghề nghiệp, minh bạch thị trường dịch vụ pháp lý, phòng ngừa mạo danh luật sư, hỗ trợ khách hàng tra cứu và bảo vệ luật sư hành nghề đúng pháp luật.
Kỷ luật nghề nghiệp cũng cần nghiêm minh nhưng minh bạch. Xử lý vi phạm phải có căn cứ rõ, hành vi rõ, thẩm quyền rõ, quy trình rõ, chứng cứ rõ và quyền giải trình rõ. Cần phân định giữa vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm hành chính, vi phạm tố tụng và hành vi có dấu hiệu tội phạm. Tinh thần đúng là xử lý nghiêm người hành nghề sai, đồng thời bảo vệ người hành nghề đúng. Hai việc này không đối lập. Chính việc xử lý nghiêm hành vi sai chuẩn sẽ bảo vệ tốt hơn đa số luật sư hành nghề nghiêm túc; và chính việc bảo vệ luật sư hành nghề đúng sẽ giúp luật sư yên tâm thực hiện chức năng xã hội của mình.
Bảo vệ luật sư hành nghề đúng là một nội dung không thể thiếu của tự quản nghề nghiệp. Luật sư thường tham gia vào những vụ việc có xung đột lợi ích, áp lực dư luận, áp lực khách hàng và đôi khi có yếu tố nhạy cảm. Nếu luật sư bị cản trở khi hành nghề đúng pháp luật, người chịu thiệt trước hết là khách hàng. Do đó, Liên đoàn và Đoàn Luật sư cần có cơ chế tiếp nhận phản ánh, xác minh, kiến nghị, hỗ trợ và bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của luật sư. Bảo vệ luật sư không phải là bao che sai phạm; bảo vệ luật sư là bảo vệ quyền hành nghề đúng pháp luật, từ đó bảo vệ quyền của khách hàng và bảo vệ pháp quyền.
Đồng thời, tự quản nghề nghiệp phải có khả năng tự làm sạch. Một số hành vi như vi phạm bảo mật, nhận vụ việc có xung đột lợi ích, lừa dối khách hàng, thu tiền ngoài thỏa thuận, cam kết kết quả sai chuẩn mực, quảng cáo sai sự thật hoặc lợi dụng danh nghĩa luật sư để làm trái pháp luật cần được xử lý nghiêm. Tự quản thực chất không phải là bảo vệ nhau bằng mọi giá, mà là bảo vệ danh dự chung của nghề bằng cách giữ chuẩn mực chung.
Kết luận: Chuẩn hóa nghề luật sư để nâng hiệu quả, sức mạnh pháp quyền
Sửa đổi Luật Luật sư trong giai đoạn hiện nay cần hướng tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, bảo đảm quyền hành nghề hợp pháp, tăng cường trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc hoàn thiện cơ chế quản lý cần bảo đảm hài hòa giữa hiệu lực quản lý nhà nước và tính tự quản nghề nghiệp, giữa chuyển đổi số với yêu cầu bảo mật, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Một đội ngũ luật sư có chuyên môn, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp và được hoạt động trong khuôn khổ pháp lý minh bạch sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, tăng cường niềm tin xã hội, hỗ trợ cải cách tư pháp và củng cố Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn phát triển mới.
Đó cũng là tinh thần cần được đặt vào trung tâm của Luật Luật sư sửa đổi: Chuẩn hóa đội ngũ, mở rộng quyền hành nghề, nâng trách nhiệm nghề nghiệp, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý, đổi mới quản lý nhà nước, nâng cao tự quản nghề nghiệp và qua đó góp phần nâng sức mạnh pháp quyền của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Luật sư LƯU ANH CƯỜNG
Giám đốc Công ty Luật TNHH Thái Dương FDI Hà Nộ; Trọng tài viên thuộc TGAC

