/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn: Kiên định mục tiêu, giữ vững bản chất cách mạng và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc

Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn: Kiên định mục tiêu, giữ vững bản chất cách mạng và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc

26/04/2026 07:51 |

(LSVN) - Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gay gắt, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối đối ngoại Việt Nam, phân tích những thách thức từ cạnh tranh chiến lược lớn, đồng thời làm nổi bật sự kiên định mục tiêu, giữ vững bản chất cách mạng và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Thông qua việc “xây” vững chắc nền tảng tư tưởng và “chống” quyết liệt các luận điệu xuyên tạc, đường lối đối ngoại của Đảng đã và đang góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Nội dung

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra phức tạp, đa chiều trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, công nghệ cao, an ninh - quốc phòng đến tư tưởng - văn hóa và không gian mạng, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam càng thể hiện rõ vai trò then chốt, chiến lược trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc trên mặt trận tư tưởng - văn hóa [1]. Chủ đề “Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn: Kiên định mục tiêu, giữ vững bản chất cách mạng và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc” không chỉ là vấn đề lý luận mang tính khoa học, cách mạng sâu sắc mà còn là yêu cầu cấp thiết, cấp bách của thực tiễn cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Qua đó, bài viết góp phần cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (2026), thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” - một văn kiện có ý nghĩa lịch sử, định hướng chiến lược lâu dài cho công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh địa chính trị gay gắt [2].

Bối cảnh quốc tế năm 2025 - 2026 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với những “cơn gió ngược” từ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, xung đột Nga - phương Tây, bất ổn khu vực Biển Đông, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và các thách thức xuyên biên giới như an ninh mạng, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã chủ động, linh hoạt thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, thực chất [3]. Nhờ đó, đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia và tổ chức quan trọng (bao gồm cả Liên minh châu Âu năm 2026), mở rộng mạng lưới đối tác sang châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông, nâng cao vị thế quốc tế rõ rệt, đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích cốt lõi quốc gia - dân tộc. Những thành tựu này không chỉ khẳng định sức sống của đường lối đối ngoại Đảng mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị - những lực lượng luôn lợi dụng cạnh tranh chiến lược lớn để vu cáo, bôi nhọ đường lối đối ngoại Việt Nam là “ngả theo”, “thoái hóa”, “bán nước” [4].

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình - Ảnh: TTXVN.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình - Ảnh: TTXVN.

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối đối ngoại Việt Nam

Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành, bổ sung, phát triển một cách khoa học, cách mạng trên nền tảng vững chắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc “kết bạn với tất cả các nước”, tinh thần “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển” [5]. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) - Đại hội mở đường đổi mới - đến nay, Đảng ta luôn nhất quán thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả. Đây là sự kế thừa liên tục, sáng tạo, phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam và xu thế thời đại, đồng thời là biểu hiện sinh động của việc bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW.

Đặc biệt, sau hơn 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đường lối đối ngoại của Đảng đã được bổ sung, phát triển sâu sắc, toàn diện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và các nghị quyết quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội. Cương lĩnh 2011 khẳng định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Đây chính là nền tảng lý luận quan trọng, thể hiện sự kiên định mục tiêu chiến lược và linh hoạt, sáng tạo trong sách lược đối ngoại.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) đã kế thừa và phát triển đường lối này một cách sâu sắc hơn, khẳng định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam” [6]. Đồng thời, Đại hội XIII nhấn mạnh bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đến Đại hội XIV (2026), Đảng ta tiếp tục cụ thể hóa và nâng tầm đường lối đối ngoại trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới, với việc xác định đối ngoại cùng quốc phòng - an ninh là lĩnh vực “trọng yếu, thường xuyên”, đồng thời bổ sung quan điểm “tự cường” và nhấn mạnh phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn - đặc biệt là cạnh tranh Mỹ - Trung, Nga - phương Tây, các xung đột khu vực và thách thức an ninh phi truyền thống - Việt Nam kiên định nguyên tắc “không đứng về bên nào”, không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng luôn “lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm trọng tâm, cao nhất” [7]. Đây chính là bản chất cách mạng sâu sắc của đường lối đối ngoại Đảng: kết hợp chặt chẽ giữa “xây” (xây dựng môi trường hòa bình, hội nhập sâu rộng, lan tỏa giá trị Việt Nam) và “chống” (đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc đường lối đối ngoại, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết 35-NQ/TW). Thực tiễn năm 2025 - 2026 cho thấy, nhờ kiên định nguyên tắc này, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn (bao gồm Anh năm 2025, Liên minh châu Âu năm 2026), tham gia tích cực các diễn đàn đa phương như ASEAN, APEC, LHQ, đồng thời kiên quyết bảo vệ chủ quyền Biển Đông theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) [8]. Những thành tựu này không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài.

Cơ sở thực tiễn của đường lối đối ngoại còn được khẳng định qua việc kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia - dân tộc với lợi ích giai cấp và lợi ích nhân dân lao động. Đảng ta luôn coi đối ngoại phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, góp phần thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như tinh thần Đại hội XIV. Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0, đường lối đối ngoại càng được đổi mới mạnh mẽ với ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, ngoại giao văn hóa - tư tưởng, sử dụng người Việt Nam ở nước ngoài làm “sứ giả” lan tỏa hình ảnh đất nước, đồng thời đấu tranh quyết liệt trên không gian mạng trước các luận điệu sai trái. Tất cả những yếu tố trên đã tạo nên sức sống bền vững, khoa học và cách mạng của đường lối đối ngoại Đảng, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới theo đúng yêu cầu của Nghị quyết 35-NQ/TW.

2. Bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn và những thách thức đối với Việt Nam

Trong bối cảnh quốc tế năm 2025 - 2026, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, gay gắt, đa chiều, đa lĩnh vực, tạo nên môi trường an ninh - chính trị quốc tế đầy biến động, khó lường, đòi hỏi Đảng ta phải có nhận thức sâu sắc, khoa học để kiên định đường lối đối ngoại, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị [9]. Cạnh tranh chiến lược lớn hiện nay không chỉ dừng lại ở mức độ kinh tế - thương mại hay quân sự truyền thống mà đã lan tỏa sâu rộng sang công nghệ cao, chuỗi cung ứng toàn cầu, địa chính trị khu vực và đặc biệt là mặt trận tư tưởng - văn hóa, không gian mạng - những lĩnh vực trực tiếp ảnh hưởng đến an ninh tư tưởng, niềm tin của nhân dân vào đường lối của Đảng. Cụ thể, cạnh tranh kinh tế - công nghệ thể hiện rõ nét qua các cuộc chiến tranh thương mại, tranh chấp công nghệ cao, kiểm soát chuỗi cung ứng then chốt (bán dẫn, năng lượng tái tạo, trí tuệ nhân tạo), trong đó Mỹ và Trung Quốc là hai cực chính, buộc các nước trung lập như Việt Nam phải linh hoạt ứng phó để tránh bị cuốn vào vòng xoáy phụ thuộc hoặc đối đầu trực tiếp [10]. Cạnh tranh địa chính trị lại tập trung vào Biển Đông và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, với những hành động đơn phương, quân sự hóa của một số cường quốc, dẫn đến tình trạng căng thẳng thường trực, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích kinh tế - an ninh của Việt Nam theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982. Đồng thời, cạnh tranh tư tưởng - văn hóa được các thế lực thù địch lợi dụng triệt để thông qua các luận điệu “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự” để can thiệp nội bộ, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng là “ngả theo”, “thoái hóa”, “bán nước”, nhằm gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng [11].

Những biểu hiện cụ thể của cạnh tranh chiến lược lớn trong giai đoạn 2025 - 2026 đã tạo ra nhiều thách thức trực tiếp đối với Việt Nam trên cả ba bình diện kinh tế, an ninh và tư tưởng. Trước hết là áp lực “chọn phe” ngày càng lớn từ cả hai cực Mỹ - Trung và các khối liên minh khác, đòi hỏi Việt Nam phải cân bằng khéo léo giữa việc duy trì quan hệ hợp tác kinh tế sâu rộng với Trung Quốc (đối tác thương mại lớn nhất) và việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ, Nhật Bản, EU, Ấn Độ nhằm đa dạng hóa thị trường, giảm rủi ro phụ thuộc [12]. Rủi ro bị cuốn vào xung đột khu vực cũng tăng cao, đặc biệt trên Biển Đông, nơi các hoạt động quân sự hóa, cải tạo đảo nhân tạo và tranh chấp tài nguyên tiếp tục diễn ra, đe dọa trực tiếp đến an ninh kinh tế biển, an ninh năng lượng và an ninh lương thực của đất nước. Tác động tiêu cực đến an ninh kinh tế thể hiện qua biến động chuỗi cung ứng toàn cầu, lạm phát, biến động tỷ giá và rủi ro mất việc làm trong các ngành xuất khẩu; an ninh mạng bị đe dọa bởi các cuộc tấn công mạng tinh vi nhằm vào hạ tầng quan trọng, đồng thời an ninh tư tưởng bị xói mòn bởi dòng thông tin sai trái lan truyền trên không gian mạng, lợi dụng bối cảnh cạnh tranh để bôi nhọ đường lối đối ngoại của Đảng, phủ nhận bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc [13].

Tuy nhiên, Đảng ta đã sớm nhận diện những thách thức này một cách khoa học, cách mạng và kịp thời đưa ra các giải pháp chiến lược phù hợp với tinh thần “kết hợp chặt chẽ giữa ‘xây’ và ‘chống’” theo Nghị quyết 35-NQ/TW. Cụ thể, Việt Nam đã chủ động tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP để đa dạng hóa đối tác kinh tế, giảm rủi ro phụ thuộc; đồng thời nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn, đưa tổng số đối tác chiến lược toàn diện lên 15 quốc gia và tổ chức vào đầu năm 2026 (bao gồm việc nâng cấp với Liên minh châu Âu) [14]. Song song đó, Đảng ta kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền Biển Đông theo UNCLOS 1982, kết hợp đấu tranh ngoại giao, pháp lý với việc củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, xây dựng “thế trận lòng dân” trên mặt trận tư tưởng để phản bác kịp thời các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước các thế lực thù địch [15]. Những giải pháp này không chỉ khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất trong kỷ nguyên phát triển mới.

3. Kiên định mục tiêu: Độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc

Kiên định mục tiêu là cốt lõi, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mọi giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn hiện nay. Đảng ta luôn kiên định ba nguyên tắc “không thay đổi” - được cụ thể hóa và bổ sung qua các kỳ Đại hội XII, XIII và XIV - đó là: (1) Không hy sinh lợi ích cốt lõi (chủ quyền, lãnh thổ, an ninh quốc gia); (2) Không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam; (3) Không để bị cuốn vào các cuộc xung đột vũ trang hoặc các khối đối đầu [16]. Những nguyên tắc này không phải là giáo điều cứng nhắc mà là sự thể hiện sinh động của bản chất cách mạng, khoa học của đường lối đối ngoại Đảng, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về “kết bạn với tất cả các nước” và tinh thần Cương lĩnh 2011: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” [17].

Thực tiễn năm 2025 - 2026 đã chứng minh sức sống mãnh liệt của sự kiên định mục tiêu này. Nhờ duy trì quan hệ cân bằng, đa phương với tất cả các cường quốc và khu vực, Việt Nam đã nâng tầm vị thế quốc tế một cách rõ rệt: trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ; là thành viên tích cực, có trách nhiệm của ASEAN, LHQ, APEC và nhiều diễn đàn đa phương khác. Đặc biệt, trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XVI, việc thực hiện tốt đường lối đối ngoại đã góp phần bảo vệ bầu cử, củng cố niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời lan tỏa hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, phát triển bền vững [18]. Đại hội XIV đã bổ sung quan điểm “tự cường”, “tự chủ chiến lược” vào đường lối đối ngoại, nhấn mạnh đối ngoại là lĩnh vực “trọng yếu, thường xuyên”, phải phát triển tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng thời kiên định “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ” [19].

Sự kiên định mục tiêu không chỉ giúp Việt Nam tránh được những rủi ro chiến lược mà còn tạo điều kiện để tranh thủ tối đa thời cơ, nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung và các xung đột khu vực, Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách “bốn không” một cách linh hoạt, sáng tạo, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” (xây dựng lòng tin, hợp tác win-win) và “chống” (đấu tranh kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, phản bác luận điệu sai trái), từ đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các thế lực thù địch lợi dụng bối cảnh để xuyên tạc, chia rẽ [20]. Đây chính là minh chứng sống động cho việc Đảng ta đã và đang lãnh đạo thành công sự nghiệp đối ngoại, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, củng cố “thế trận lòng dân” và thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV.

4. Giữ vững bản chất cách mạng của đường lối đối ngoại

Giữ vững bản chất cách mạng của đường lối đối ngoại là yêu cầu cốt lõi, mang tính nguyên tắc trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn năm 2025 - 2026, khi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng mọi cơ hội để xuyên tạc, chống phá, nhằm làm lung lay nền tảng tư tưởng của Đảng theo đúng tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị [21]. Bản chất cách mạng ấy được thể hiện sâu sắc, toàn diện trên ba khía cạnh cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau, vừa kế thừa truyền thống cách mạng Việt Nam, vừa được bổ sung, phát triển sáng tạo qua các kỳ Đại hội Đảng gần đây.

Thứ nhất, đó là tính giai cấp và tính dân tộc sâu sắc. Đường lối đối ngoại của Đảng luôn phục vụ lợi ích cao nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam, tuyệt đối không “thoái hóa” thành đối ngoại “thân phương Tây” hay “thân Trung” như những luận điệu xuyên tạc thô thiển mà các thế lực thù địch, phản động thường tung ra trên không gian mạng và các diễn đàn quốc tế. Đảng ta kiên định lập trường giai cấp công nhân, đồng thời khéo léo kết hợp hài hòa với lợi ích dân tộc, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm trọng tâm cao nhất, như tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XIII, XIV [22]. Trong thực tiễn năm 2025 - 2026, khi Việt Nam nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 quốc gia và tổ chức (bao gồm Liên minh châu Âu vào tháng 1/2026), Đảng vẫn giữ vững nguyên tắc “bốn không”, không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, đảm bảo đường lối đối ngoại luôn mang đậm bản chất cách mạng, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Thứ hai, tính khoa học và cách mạng được thể hiện rõ nét qua việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa “xây” và “chống”. “Xây” là tuyên truyền sâu rộng đường lối đối ngoại của Đảng, lan tỏa giá trị văn hóa, hình ảnh Việt Nam hòa bình, hữu nghị, trách nhiệm trên trường quốc tế; “chống” là đấu tranh phản bác quyết liệt, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch về đối ngoại, như những luận điệu xuyên tạc “Việt Nam ngả theo Mỹ chống Trung” hay “bán nước cho Trung Quốc”. Đây chính là việc cụ thể hóa Nghị quyết 35-NQ/TW trong lĩnh vực đối ngoại, với việc Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Chỉ đạo 35 các cấp đã tăng cường đấu tranh trên không gian mạng, sử dụng các kênh thông tin chính thống để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng [23]. Đại hội XIV đã bổ sung quan điểm “tự cường”, “tự chủ chiến lược” vào đường lối đối ngoại, khẳng định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” ngang tầm với quốc phòng - an ninh, thể hiện sự phát triển khoa học, cách mạng của tư duy Đảng trong kỷ nguyên mới.

Thứ ba, tính nhân văn và quốc tế sâu sắc được kế thừa trực tiếp từ tư tưởng Hồ Chí Minh: “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Việt Nam luôn là “người bạn tin cậy”, “đối tác có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào hòa bình, ổn định và phát triển thế giới, đồng thời kiên quyết bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Trong bối cảnh 2025 - 2026, với việc tham gia tích cực các diễn đàn đa phương (ASEAN, APEC, LHQ) và ký kết hàng trăm thỏa thuận hợp tác, đường lối đối ngoại của Đảng đã góp phần kiến tạo môi trường hòa bình, nâng cao vị thế Việt Nam, đồng thời củng cố “thế trận lòng dân” trên mặt trận tư tưởng, chống lại mọi âm mưu chia rẽ, gây bất ổn từ bên ngoài [24].

Như vậy, việc giữ vững bản chất cách mạng của đường lối đối ngoại không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là hành động thực tiễn sinh động, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các thách thức từ cạnh tranh chiến lược lớn.

5. Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong bối cảnh mới

Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao nhất, xuyên suốt của đường lối đối ngoại Đảng Cộng sản Việt Nam trong mọi giai đoạn, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn năm 2025 - 2026, khi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng để chống phá, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW [25]. Đảng ta sử dụng đồng bộ, linh hoạt các công cụ đối ngoại toàn diện, từ ngoại giao đến kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, nhằm bảo vệ lợi ích cốt lõi một cách hiệu quả nhất.

Cụ thể, ngoại giao kinh tế được đẩy mạnh để thúc đẩy hội nhập sâu rộng, đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc, như việc tham gia CPTPP, EVFTA, RCEP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời tận dụng Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị (24/1/2025) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới để tạo đột phá thể chế, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng ra nước ngoài [26]. Ngoại giao văn hóa - tư tưởng được coi trọng đặc biệt, với việc sử dụng mạng xã hội, người Việt Nam ở nước ngoài làm “sứ giả” lan tỏa hình ảnh đất nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các luận điệu sai trái. Ngoại giao quốc phòng - an ninh tập trung hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực tự vệ, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền Biển Đông theo UNCLOS 1982, kết hợp với việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên mặt trận tư tưởng. Đặc biệt, Đảng ta phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giao nhiệm vụ cho MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng tham gia tuyên truyền, giám sát thực hiện đường lối đối ngoại, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia ngay từ cơ sở [27].

Đồng thời, cuộc đấu tranh quyết liệt với các luận điệu sai trái như “Việt Nam ngả theo Mỹ chống Trung”, “bán nước cho Trung Quốc”, “thoái hóa tư tưởng” được tiến hành thường xuyên, liên tục trên mọi mặt trận, nhằm ngăn chặn kịp thời những âm mưu gây hoang mang, chia rẽ, phá hoại niềm tin của nhân dân vào Đảng. Những giải pháp đồng bộ này đã giúp Việt Nam không chỉ bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc mà còn nâng cao vị thế, khẳng định bản lĩnh cách mạng của Đảng trong kỷ nguyên mới.

6. Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện đường lối đối ngoại

Để tiếp tục phát huy vai trò then chốt, chiến lược của đường lối đối ngoại trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn năm 2025 - 2026 và kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Đảng ta cần tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt một hệ thống giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài, khoa học và cách mạng, nhằm cụ thể hóa sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới [28]. Những giải pháp này không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả đối ngoại mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo đúng yêu cầu của Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên mặt trận tư tưởng - văn hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng [29].

Trước hết, phải tăng cường lãnh đạo toàn diện, thống nhất và trực tiếp của Đảng đối với công tác đối ngoại, coi đây là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” như Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định rõ. Đại hội XIV nhấn mạnh cần “thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị về sứ mệnh, mục tiêu và nhiệm vụ của đối ngoại”, đồng thời hoàn thiện các quy định của Đảng về quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại theo Quy chế 392 của Bộ Chính trị. Trong bối cảnh 2026, khi Việt Nam đang triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết 59-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư cần ban hành các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề để cụ thể hóa đường lối đối ngoại trong từng lĩnh vực, đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, tránh tình trạng “cát cứ”, thiếu đồng bộ. Việc tăng cường lãnh đạo của Đảng còn thể hiện ở việc đưa công tác đối ngoại vào nội dung sinh hoạt định kỳ của cấp ủy các cấp, gắn với kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ, từ đó bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi âm mưu lợi dụng cạnh tranh chiến lược để xuyên tạc đường lối đối ngoại [30].

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nội dung và phương thức đối ngoại trong kỷ nguyên số, tận dụng tối đa công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng mạng xã hội để lan tỏa đường lối, giá trị Việt Nam đồng thời đấu tranh hiệu quả trên mặt trận tư tưởng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW. Trong năm 2025 - 2026, khi không gian mạng trở thành mặt trận quan trọng của cạnh tranh chiến lược, Đảng ta cần xây dựng hệ sinh thái thông tin đối ngoại hiện đại, chủ động “phủ xanh” không gian mạng bằng nội dung chính thống, sử dụng ngoại giao số, ngoại giao công chúng để phản bác kịp thời các luận điệu sai trái. Nghị quyết 59-NQ/TW đã xác định rõ hội nhập quốc tế phải lấy doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm, do đó cần đẩy mạnh ngoại giao kinh tế số, ngoại giao văn hóa số, ngoại giao kiều bào số, biến người Việt Nam ở nước ngoài thành “sứ giả” lan tỏa hình ảnh đất nước và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc đổi mới phương thức này không chỉ nâng cao hiệu quả đối ngoại mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong bối cảnh phức tạp hiện nay [31].

Thứ ba, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ sắc bén, đạo đức cách mạng trong sáng, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế. Đây là giải pháp then chốt, có tính quyết định, vì cán bộ là “cái gốc của mọi công việc”. Trong giai đoạn mới, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, tập trung vào các nhóm chuyên gia về ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, ngoại giao văn hóa - tư tưởng và ngoại giao quốc phòng - an ninh. Đồng thời, phải đẩy mạnh tuyển chọn, luân chuyển cán bộ trẻ, có bản lĩnh, có kinh nghiệm thực tiễn quốc tế, gắn với việc rèn luyện đạo đức cách mạng, chống suy thoái tư tưởng chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII). Việc xây dựng đội ngũ này sẽ đảm bảo đường lối đối ngoại luôn được triển khai sáng tạo, linh hoạt, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các thách thức từ cạnh tranh chiến lược lớn [32].

Thứ tư, phát huy vai trò nòng cốt của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và nhân dân, đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong bảo vệ nền tảng tư tưởng trên mặt trận đối ngoại. MTTQ và các đoàn thể cần cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết 35-NQ/TW bằng các chương trình hành động thiết thực, như tổ chức các diễn đàn đối ngoại nhân dân, các cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” kết hợp với tuyên truyền đối ngoại, hoặc xây dựng các mô hình “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để lan tỏa đường lối đối ngoại của Đảng. Người Việt Nam ở nước ngoài - lực lượng có vai trò quan trọng - cần được huy động mạnh mẽ hơn nữa làm “sứ giả” văn hóa, kinh tế và tư tưởng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong và ngoài nước. Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết này không chỉ nâng cao hiệu quả đối ngoại mà còn trực tiếp củng cố “thế trận lòng dân”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi âm mưu chia rẽ, chống phá [33].

Cuối cùng, phải kiên trì kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa bảo vệ và phát triển, giữa lợi ích quốc gia - dân tộc với lợi ích giai cấp và lợi ích nhân dân lao động, đảm bảo đường lối đối ngoại luôn mang đậm bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn. “Xây” là xây dựng môi trường hòa bình, hợp tác, hội nhập sâu rộng, lan tỏa giá trị Việt Nam; “chống” là đấu tranh kiên quyết, kiên trì với các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh 2026, khi Việt Nam đang thực hiện Nghị quyết 59-NQ/TW, cần cụ thể hóa nguyên tắc này vào mọi hoạt động đối ngoại, từ ngoại giao kinh tế đến ngoại giao văn hóa, từ đa phương đến song phương, đảm bảo mọi chủ trương đều phục vụ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng luật pháp quốc tế. Đây chính là sự kế thừa sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và là minh chứng sống động cho việc Đảng ta lãnh đạo thành công sự nghiệp đối ngoại, góp phần thực hiện khát vọng dân tộc xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc [34].

Kết luận

Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược lớn đã và đang khẳng định sức sống mãnh liệt, tính khoa học và bản chất cách mạng sâu sắc. Sự kiên định mục tiêu độc lập, tự chủ, tự cường; giữ vững bản chất cách mạng; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc không chỉ là yêu cầu chiến lược cấp thiết mà còn là biểu hiện sinh động, cụ thể của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết 35-NQ/TW trong tình hình mới. Với những thành tựu nổi bật trong năm 2025 - 2026 - từ nâng cấp 15 đối tác chiến lược toàn diện đến việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết 59-NQ/TW - đường lối đối ngoại của Đảng đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia, củng cố niềm tin của nhân dân và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện sáng tạo, đồng bộ đường lối này, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa bảo vệ nền tảng tư tưởng với phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện khát vọng dân tộc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:

[1], [14], [22] Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011). Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2011.

[2], [10], [21], [32] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

[3], [13], [19], [23], [28], [31], [35], [33] Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2026.

[4], [11] Các tài liệu chính thức từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong bối cảnh đối ngoại năm 2025 - 2026.

[5], [17], [29], [37] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2011.

[6], [9], [25] Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2021.

[7], [12], [27] Bộ Ngoại giao. Báo cáo tổng kết công tác đối ngoại năm 2025.

[8], [15] Công ước LHQ về Luật Biển 1982 và các văn kiện thực thi của Việt Nam.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2016.

[18], [24], [34], [36] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (2025).

[20] Các báo cáo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong lĩnh vực đối ngoại.

[26] Quốc hội. Nghị quyết số 250/2025/QH15 ngày 10/12/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.

[30] Các tài liệu của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và Ban Chỉ đạo 35 Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong lĩnh vực đối ngoại năm 2025 - 2026.

NCS. TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế

Học viện Chính trị khu vực I.

Các tin khác