/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Nghịch lý thuật ngữ 'Doanh nghiệp tư nhân' giữa văn kiện chính trị và quy phạm pháp luật

Nghịch lý thuật ngữ 'Doanh nghiệp tư nhân' giữa văn kiện chính trị và quy phạm pháp luật

11/04/2026 07:06 |

(LSVN) - Cụm từ doanh nghiệp tư nhân hiện đồng thời tồn tại với ba nghĩa khác nhau trong hệ thống pháp luật và văn kiện chính trị Việt Nam. Luật Doanh nghiệp 2020 sử dụng cụm từ này tại Điều 188 để chỉ loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm vô hạn, không có tư cách pháp nhân. Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 dùng cụm từ doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước tại khoản 6 Điều 353 để phân biệt khu vực kinh tế ngoài Nhà nước. Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị dùng doanh nghiệp tư nhân theo nghĩa rộng nhất, bao trùm toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân. Ba văn bản, ba nghĩa khác nhau cho cùng một cụm từ.

Bài viết phân tích sự đa nghĩa của cụm từ này, đối chiếu với kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Từ đó đề xuất đổi tên loại hình doanh nghiệp tại Điều 188 thành “doanh nghiệp cá nhân” hoặc “doanh nghiệp cá thể” nhằm loại trừ vùng xám thuật ngữ trong thực tiễn pháp lý.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

1. Đặt vấn đề

Trong văn kiện Đảng, doanh nghiệp tư nhân là khái niệm kinh tế chính trị, đối lập với doanh nghiệp Nhà nước và bao trùm toàn bộ khu vực kinh tế ngoài sở hữu Nhà nước. Không ai hiểu nhầm. Nhưng khi cụm từ đó đi vào thực tiễn tố tụng, vào hồ sơ đăng ký kinh doanh, vào biên bản xử lý hình sự mà không được dịch sang ngôn ngữ pháp lý chính xác thì nó tạo ra vùng xám.

Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rằng “doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Đây là một loại hình doanh nghiệp cụ thể với ba đặc điểm bất biến là chỉ có một chủ sở hữu cá nhân, không có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản.

Trong khi đó khoản 6 Điều 353 BLHS 2015 sử dụng cụm từ doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước để mở rộng chủ thể của tội tham ô tài sản sang khu vực tư nhân nói chung, bao gồm cả công ty TNHH, công ty cổ phần và mọi tổ chức kinh tế không thuộc sở hữu Nhà nước.

Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân lại dùng doanh nghiệp tư nhân theo nghĩa rộng nhất. Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 05 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP.

Ba văn bản, ba nghĩa khác nhau, cùng một cụm từ. Sự trùng lặp thuật ngữ này không chỉ gây khó khăn trong giảng dạy và nghiên cứu luật mà còn tiềm ẩn rủi ro thực tiễn trong định tội danh, trong xác định phạm vi áp dụng chính sách và trong nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về loại hình kinh doanh mà mình đang vận hành.

2. Một cụm từ, ba nghĩa và những hệ quả pháp lý

2.1. Nghĩa hẹp trong Luật Doanh nghiệp

Theo Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân (viết tắt là DNTN) là tên gọi pháp lý của một loại hình doanh nghiệp cụ thể. Loại hình này có ba đặc điểm cốt lõi. Thứ nhất, DNTN do một cá nhân duy nhất làm chủ. Thứ hai, DNTN không có tư cách pháp nhân vì tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp không tách biệt, không thỏa mãn điều kiện tại điểm c khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015. Thứ ba, chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngoài ra DNTN không được phát hành chứng khoán, không được góp vốn hay mua cổ phần, phần vốn góp trong các loại hình doanh nghiệp khác, và mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN.

2.2. Nghĩa rộng trong BLHS

Khoản 6 Điều 353 BLHS 2015 quy định rằng “Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này”. Quy định tương tự được lặp lại tại khoản 6 Điều 354 (tội nhận hối lộ). Ở đây “doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước” là cách diễn đạt mang tính khu vực kinh tế, chỉ toàn bộ các chủ thể kinh doanh không thuộc sở hữu Nhà nước. Cụm từ này bao gồm cả công ty cổ phần niêm yết, công ty TNHH nhiều thành viên và bất kỳ tổ chức kinh tế tư nhân nào khác.

Sự mở rộng chủ thể tại khoản 6 Điều 353 là quy định mới so với BLHS 1999 được đánh giá là bước tiến trong việc bảo đảm bình đẳng trước pháp luật hình sự giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư. Tuy nhiên nhà làm luật đã chọn cách diễn đạt “doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước” thay vì “doanh nghiệp tư nhân”. Có lẽ vì nhận thức được rằng nếu dùng cụm từ “doanh nghiệp tư nhân” sẽ dẫn đến cách hiểu chỉ áp dụng cho loại hình DNTN theo Điều 188 Luật Doanh nghiệp.

2.3. Nghĩa kinh tế chính trị trong văn kiện Đảng

Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị sử dụng doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tư nhân với nội hàm rộng nhất. Kinh tế tư nhân ở đây bao gồm hơn 940 nghìn doanh nghiệp thuộc mọi loại hình (công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, DNTN) và hơn 5 triệu hộ kinh doanh. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp, khu vực tư nhân đóng góp 55 đến 58% GDP.

Như vậy khi Nghị quyết 68 nói doanh nghiệp tư nhân, đó là khái niệm kinh tế chính trị đối lập với doanh nghiệp nhà nước, không phải là tên gọi của loại hình doanh nghiệp tại Điều 188. Sự khác biệt này rõ ràng trong bối cảnh nghiên cứu chính sách nhưng lại trở nên mờ nhạt khi cụm từ đi vào thực tiễn hành chính, tố tụng và quản lý doanh nghiệp.

3. Kinh nghiệm đặt tên trong pháp luật quốc tế

Mô hình doanh nghiệp tương ứng với DNTN tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp Việt Nam, tức doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, không có tư cách pháp nhân, chủ chịu trách nhiệm vô hạn, tồn tại ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới. Tuy nhiên không có hệ thống pháp luật nào sử dụng từ “tư nhân” (private, privat, privé, 私营) để đặt tên cho loại hình này. Tất cả đều sử dụng yếu tố “cá nhân”, “cá thể” hoặc “đơn lẻ” để mô tả bản chất pháp lý của nó.

3.1. Các quốc gia theo hệ thống Common Law

Tại Hoa Kỳ và các nước theo truyền thống Common Law, mô hình này được gọi là sole proprietorship (Hoa Kỳ) hoặc sole trader (Anh, Úc, New Zealand). Theo định nghĩa của Viện Thông tin Pháp luật thuộc Đại học Cornell (Legal Information Institute), sole proprietorship là hình thức kinh doanh đơn giản nhất, không có sự tách biệt pháp lý giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm cá nhân đối với toàn bộ nợ và nghĩa vụ pháp lý.

Từ khóa phân biệt ở đây là “sole” (duy nhất, đơn lẻ). Cụm từ này xác định ngay lập tức rằng đây là doanh nghiệp của một chủ duy nhất, không thể nhầm lẫn với “private enterprise” hay “private sector” (khu vực tư nhân nói chung). Cơ quan Thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) và Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA) đều phân biệt rõ sole proprietorship với các hình thức kinh doanh khác trong khu vực tư nhân như LLC (công ty trách nhiệm hữu hạn), partnership (công ty hợp danh) hay corporation (công ty cổ phần).

3.2. Cộng hòa Liên bang Đức

Pháp luật Đức gọi mô hình này là Einzelunternehmen, nghĩa đen là “doanh nghiệp đơn lẻ” (individual enterprise). Đây là hình thức đơn giản nhất của hoạt động kinh doanh thương mại tại Đức, do một thể nhân duy nhất sở hữu và vận hành.

Pháp luật Đức còn phân biệt hai cấp độ trong cùng loại hình này. Doanh nghiệp nhỏ (Kleingewerbe) không bắt buộc đăng ký vào sổ thương mại (Handelsregister). Khi quy mô vượt ngưỡng nhất định và đăng ký vào Handelsregister, doanh nghiệp mang hậu tố “e.K.” (eingetragener Kaufmann, nghĩa là thương nhân đã đăng ký) và phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt hơn của Bộ luật Thương mại Đức (HGB) bên cạnh Bộ luật Dân sự (BGB). Từ khóa phân biệt là “Einzel” (đơn lẻ, cá thể), đóng vai trò tương tự “sole” trong tiếng Anh.

3.3. Cộng hòa Pháp

Pháp luật Pháp gọi mô hình này là Entreprise Individuelle (viết tắt là EI), được quy định tại các Điều L526-22 đến L526-26 Bộ luật Thương mại Pháp, theo Luật số 2022-172 ngày 14/02/2022. Từ ngày 15/5/2022, mọi thể nhân hoạt động nghề nghiệp độc lập dưới tên cá nhân đều là entrepreneur individuel. Đáng chú ý hơn một nửa số doanh nghiệp được thành lập mỗi năm tại Pháp thực chất là EI.

Cái tên “Entreprise Individuelle” (doanh nghiệp cá nhân) xác định ngay bản chất pháp lý. Doanh nghiệp gắn với một thể nhân cụ thể, hoạt động dưới tên cá nhân, không tạo ra pháp nhân riêng. Từ “individuelle” (cá nhân) khác hẳn “privée” (tư nhân). Cải cách năm 2022 của Pháp còn thiết lập cơ chế tách biệt tài sản nghề nghiệp và tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp dù doanh nghiệp vẫn không có tư cách pháp nhân.

3.4. Trung Quốc

Trường hợp Trung Quốc đặc biệt đáng chú ý vì hệ thống pháp luật này phân biệt rất rõ ba cấp độ kinh doanh cá nhân. Cấp độ thứ nhất là 个体工商户 (gètǐ gōngshāng hù, hộ kinh doanh cá thể), được quy định trong Dân pháp điển (Điều 54), là thể nhân đăng ký kinh doanh công thương, chịu trách nhiệm vô hạn, không có tư cách pháp nhân. Cấp độ thứ hai là 个人独资企业 (gèrén dúzī qǐyè, doanh nghiệp đầu tư cá nhân), theo Luật Doanh nghiệp đầu tư cá nhân 1999, do một thể nhân đầu tư toàn bộ, chịu trách nhiệm vô hạn, không có tư cách pháp nhân nhưng có thể lập chi nhánh và ủy quyền quản lý. Cấp độ thứ ba là 一人有限责任公司 (yīrén yǒuxiàn zérèn gōngsī, công ty TNHH một thành viên), theo Luật Công ty, có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn.

Mô hình DNTN tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp Việt Nam tương ứng gần nhất với 个人独资企业 (doanh nghiệp đầu tư cá nhân) của Trung Quốc. Tên gọi này chỉ rõ bản chất bằng hai yếu tố là 个人 (cá nhân) và 独资 (đầu tư độc lập). Không ai nhầm lẫn tên gọi này với 私营企业 (sīyíng qǐyè, doanh nghiệp tư doanh) hay 民营企业 (mínyíng qǐyè, doanh nghiệp dân doanh), vốn là những cụm từ chỉ khu vực kinh tế tư nhân nói chung trong ngôn ngữ chính trị Trung Quốc.

3.5. Nhật Bản

Mô hình tương đương tại Nhật Bản được gọi là 個人事業 (kojin jigyō, kinh doanh cá nhân). Đây là hình thức pháp lý đơn giản nhất để cá nhân hoạt động kinh doanh mà không thành lập pháp nhân. Tên gọi dịch trực tiếp là “individual business” (doanh nghiệp cá nhân), được Cơ quan Thuế quốc gia Nhật Bản (NTA) công nhận cho mục đích thuế thu nhập cá nhân. Khác với Godo Kaisha (công ty hợp danh hữu hạn) hay Kabushiki Kaisha (công ty cổ phần), kojin jigyō không phải thực thể pháp lý riêng biệt.

Từ khóa 個人 (kojin, cá nhân) trong tên gọi của Nhật Bản hoàn toàn tương đồng về chức năng phân biệt với “sole” trong tiếng Anh, “Einzel” trong tiếng Đức, “individuelle” trong tiếng Pháp và 个人 trong tiếng Trung.

3.6. Quy luật chung

Từ tất cả các hệ thống pháp luật được khảo sát, có thể rút ra một quy luật rõ ràng. Mọi nền pháp lý đều sử dụng yếu tố “cá nhân”, “cá thể” hoặc “đơn lẻ” để đặt tên cho mô hình doanh nghiệp một chủ, trách nhiệm vô hạn, không pháp nhân. Không có hệ thống pháp luật nào dùng từ “tư nhân” (private, privat, privé, 私营) để đặt tên cho loại hình này. Lý do rất đơn giản. “Tư nhân” là phạm trù kinh tế chính trị, bao gồm mọi doanh nghiệp không thuộc nhà nước, từ hộ kinh doanh nhỏ lẻ đến tập đoàn cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán. Còn mô hình tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp Việt Nam là một loại hình tổ chức kinh doanh cụ thể với ba đặc điểm cố định là một chủ, không pháp nhân và trách nhiệm vô hạn.

4. Đề xuất đổi tên và cơ sở pháp lý

4.1. Lý do đổi tên

Việc giữ nguyên tên DNTN cho loại hình tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp tạo ra ít nhất ba vấn đề thực tiễn.

Vấn đề thứ nhất liên quan đến nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật hình sự. Khi khoản 6 Điều 353 BLHS 2015 mở rộng tội tham ô sang doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, câu hỏi đặt ra là liệu DNTN theo Điều 188 có nằm trong phạm vi này hay không. Về nguyên tắc thì có, nhưng bản chất pháp lý đặc thù của DNTN (không có tư cách pháp nhân, tài sản không tách biệt) khiến việc xác định “tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý” theo Điều 353 trở nên phức tạp hơn nhiều so với trường hợp công ty TNHH hay công ty cổ phần.

Vấn đề thứ hai liên quan đến nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp. Nghiên cứu về DNTN trong Luật Doanh nghiệp 2020 đã chỉ ra rằng nhiều thương nhân hiểu DNTN theo nghĩa rộng, tức là bất kỳ doanh nghiệp nào do tư nhân sở hữu, chứ không phải là tên gọi của một loại hình doanh nghiệp cụ thể với những hạn chế đặc thù như không được góp vốn, không được phát hành chứng khoán.

Vấn đề thứ ba liên quan đến triển khai chính sách. Khi Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển DNTN, việc đo lường và đánh giá thực hiện mục tiêu đòi hỏi phải phân biệt rõ giữa DNTN theo nghĩa loại hình (Điều 188) và DNTN theo nghĩa khu vực kinh tế. Sự nhập nhằng thuật ngữ làm phức tạp hóa quá trình thống kê, báo cáo và hoạch định chính sách.

4.2. Phương án đổi tên

Dựa trên kinh nghiệm quốc tế đã phân tích, tác giả đề xuất đổi tên loại hình doanh nghiệp tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp thành “doanh nghiệp cá nhân” hoặc “doanh nghiệp cá thể”. Hai phương án này đều phản ánh đúng ba đặc điểm cốt lõi của loại hình (một chủ, không pháp nhân, trách nhiệm vô hạn), phù hợp với cách đặt tên phổ quát trên thế giới và loại trừ hoàn toàn sự nhầm lẫn với khái niệm khu vực doanh nghiệp tư nhâ trong văn kiện Đảng và với doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước trong BLHS.

Phương án “doanh nghiệp cá nhân” tương ứng trực tiếp với Entreprise Individuelle (Pháp), 个人独资企业 (Trung Quốc), 個人事業 (Nhật Bản) và Individual Enterprise (một trong các tên gọi tiếng Anh phổ biến). Phương án “doanh nghiệp cá thể” nhấn mạnh hơn tính đơn lẻ, một chủ tương tự sole proprietorship (Hoa Kỳ, Anh) và Einzelunternehmen (Đức).

Giữa hai phương án, tác giả nghiêng về “doanh nghiệp cá nhân” vì lý do sau. Thứ nhất, “cá nhân” là thuật ngữ pháp lý đã quen thuộc trong hệ thống pháp luật Việt Nam (Bộ luật Dân sự phân biệt cá nhân và pháp nhân), trong khi “cá thể” mang sắc thái hành chính hơn là pháp lý. Thứ hai, “doanh nghiệp cá nhân” đối xứng tự nhiên với “doanh nghiệp nhà nước” trong cách dùng ngôn ngữ nhưng vẫn mang nghĩa hẹp hơn “doanh nghiệp tư nhân” vì chỉ bao gồm doanh nghiệp do một cá nhân duy nhất làm chủ.

4.3. Phạm vi sửa đổi liên quan

Nếu đổi tên loại hình tại Điều 188, cần rà soát và sửa đổi đồng bộ các văn bản liên quan, bao gồm Luật Doanh nghiệp 2020 (Chương VII từ Điều 188 đến Điều 193, Điều 205 về chuyển đổi loại hình), Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Phá sản, Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành có sử dụng cụm từ “doanh nghiệp tư nhân” theo nghĩa Điều 188. Riêng BLHS 2015 không cần sửa đổi vì đã sử dụng cách diễn đạt “doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước” thay vì “doanh nghiệp tư nhân”.

5. Kết luận

Tên gọi của một loại hình doanh nghiệp trong luật không chỉ là quy ước. Nó là cơ sở để phân biệt, để định tội, để xây dựng chính sách. Khi một tên gọi pháp lý trùng nghĩa với một khái niệm kinh tế chính trị, vùng xám là hệ quả tất yếu.

Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cho thấy một quy luật phổ quát trong kỹ thuật lập pháp. Mô hình doanh nghiệp một chủ, trách nhiệm vô hạn, không pháp nhân luôn được đặt tên bằng yếu tố “cá nhân” hoặc “đơn lẻ”, không bao giờ bằng “tư nhân”. Việt Nam nên tiếp thu kinh nghiệm này bằng cách đổi tên “doanh nghiệp tư nhân” tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp thành “doanh nghiệp cá nhân”, nhằm trả cụm từ “doanh nghiệp tư nhân” về đúng vị trí của nó, một khái niệm kinh tế chính trị chỉ toàn bộ khu vực kinh tế ngoài sở hữu nhà nước.

Việc đổi tên này không làm thay đổi bản chất pháp lý của loại hình doanh nghiệp, không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp, không phát sinh chi phí đáng kể cho hệ thống hành chính. Nhưng nó loại trừ một vùng xám thuật ngữ đã tồn tại hàng thập niên, giúp cho ba cột trụ, gồm văn kiện Đảng, pháp luật hình sự và pháp luật doanh nghiệp, cùng nói về “doanh nghiệp tư nhân” mà không ai hiểu nhầm người kia đang nói gì.

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Doanh nghiệp 2020;

2. BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);

3. Bộ luật Dân sự 2015;

4. Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Nguồn truy cập: https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm ;

5. Legal Information Institute, Cornell University, "Sole Proprietorship". Nguồn truy cập: https://www.law.cornell.edu/wex/sole_proprietorship ;

6. U.S. Small Business Administration, "Choose a Business Structure". Nguồn truy cập: https://www.sba.gov/business-guide/launch-your-business/choose-business-structure ;

7. Internal Revenue Service (IRS), "Sole Proprietorships". Nguồn truy cập: https://www.irs.gov/businesses/small-businesses-self-employed/sole-proprietorships ;

8. German Tax Consultants, "German Sole Proprietorship (Einzelunternehmen)". Nguồn truy cập: https://www.german-tax-consultants.com/legal-forms/german-sole-proprietorship-einzelunternehmen.html ;

9. Lawyers Germany, "Types of Companies in Germany". Nguồn truy cập: https://lawyersgermany.com/types-of-companies-in-germany/ ;

10. Légifrance, Bộ luật Thương mại Pháp, Section 3. Nguồn truy cập: https://www.legifrance.gouv.fr/codes/section_lc/LEGITEXT000005634379/LEGISCTA000045168637/ ;

11. Direction générale des Entreprises (Pháp), "L'entrepreneur individuel, un statut simple et protecteur". Nguồn truy cập: https://www.entreprises.gouv.fr/espace-entreprises/s-informer-sur-la-reglementation/lentrepreneur-individuel-un-statut-simple-et ;

12. Luật Doanh nghiệp đầu tư cá nhân Trung Quốc 1999 (个人独资企业法). Nguồn truy cập: http://www.lawinfochina.com/display.aspx?id=6239&lib=law ;

13. MailMate Japan, "Sole Proprietorship in Japan: Your Quickstart Guide". Nguồn truy cập: https://mailmate.jp/blog/sole-proprietorship-in-japan ;

Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ

Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý,

Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Các tin khác