/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Điểm nghẽn thể chế, giáo dục và lao động trong phát triển nhân lực số ở Việt Nam

Điểm nghẽn thể chế, giáo dục và lao động trong phát triển nhân lực số ở Việt Nam

06/04/2026 17:08 |

(LSVN) - Bài viết phân tích phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam dưới góc nhìn chính sách và thực tiễn, tập trung vào ba điểm nghẽn cơ bản: Thể chế, giáo dục và thị trường lao động.

Trên cơ sở phương pháp phân tích tài liệu, lôgíc – lịch sử và so sánh, bài viết cho rằng: mặc dù Việt Nam đã xác lập chuyển đổi số là định hướng phát triển chiến lược với hàng loạt văn bản quan trọng như Nghị quyết số 57-NQ/TW, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Đề án phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số và Khung năng lực số cho người học, nhưng quá trình hình thành nguồn nhân lực số vẫn đang bị cản trở bởi ba nút thắt lớn. Thứ nhất, thể chế phát triển còn chậm thích ứng, thiếu đồng bộ trong phối hợp và chưa tạo được động lực đủ mạnh cho phát triển và trọng dụng nhân lực số chất lượng cao. Thứ hai, giáo dục – đào tạo chưa theo kịp tốc độ thay đổi công nghệ, còn khoảng cách đáng kể giữa chương trình đào tạo và yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, trong khi việc triển khai các chuẩn năng lực số vẫn ở giai đoạn đầu. Thứ ba, thị trường lao động số bộc lộ sự lệch pha cung – cầu, mặt bằng chất lượng lao động còn thấp và phân bố kỹ năng số chưa đồng đều. Từ đó, bài viết gợi mở một số hàm ý chính sách nhằm dịch chuyển từ tư duy “đào tạo nhân lực công nghệ” sang phát triển hệ sinh thái nguồn nhân lực số quốc gia.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu thế phát triển chủ đạo, vấn đề nguồn nhân lực số đã vượt ra khỏi phạm vi của một nội dung phụ trợ trong chính sách công nghệ thông tin để đi vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế hiện nay như nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, hạ tầng số chưa đồng bộ và nhận thức về chuyển đổi số của một bộ phận cán bộ, người dân chưa đầy đủ (Bộ Chính trị, 2024). Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP rồi Nghị quyết số 71/NQ-CP để cụ thể hóa chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 57, cho thấy phát triển nguồn nhân lực số đã thực sự trở thành một nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình điều hành quốc gia (Chính phủ, 2025a, 2025b).

Tuy nhiên, từ quyết tâm chính trị đến năng lực thực thi là một khoảng cách không nhỏ. Trong khi kinh tế số Việt Nam tăng nhanh, đạt khoảng 16,5% GDP năm 2023 và 18,6% GDP năm 2024; ngành công nghệ số ghi nhận tỉ lệ hơn 90% sinh viên có việc làm phù hợp sau 12 tháng tốt nghiệp; thì mặt bằng chất lượng của lực lượng lao động nói chung vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Quý I năm 2025, cả nước có 51,9 triệu người có việc làm nhưng tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 28,8% (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2024a, 2024b; Cục Thống kê, 2025). Điều đó cho thấy sự phát triển nhanh của kinh tế số đang diễn ra trên một nền nhân lực chưa thật sự tương xứng về chiều rộng kỹ năng và chiều sâu chuyên môn.

Nếu chỉ giải thích tình trạng này bằng sự thiếu hụt nhân lực công nghệ thông tin theo nghĩa hẹp, cách tiếp cận sẽ không đi đến gốc vấn đề. Bài viết cho rằng các nút thắt cơ bản của phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam hiện nay tập trung ở ba tầng: thể chế, giáo dục và thị trường lao động. Thể chế quyết định khả năng mở đường cho phát triển; giáo dục quyết định khả năng tạo nguồn và chuyển hóa năng lực; còn thị trường lao động quyết định khả năng hấp thụ, phân bổ và nâng cấp kỹ năng. Khi ba tầng này chưa vận hành cùng một nhịp, nguồn nhân lực số khó có thể phát triển như một lực lượng đủ mạnh để dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia. Bài viết tập trung làm rõ ba điểm nghẽn đó và gợi mở một số hàm ý chính sách.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng cách tiếp cận định tính, kết hợp các phương pháp phân tích tài liệu, lôgíc – lịch sử và so sánh. Phân tích tài liệu được dùng để xử lý các văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, đề án, báo cáo chính thức và một số nghiên cứu có liên quan. Phương pháp lôgíc – lịch sử được vận dụng để đặt sự hình thành nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế số. Phương pháp so sánh được dùng để đối chiếu giữa mục tiêu chính sách và trạng thái thực tế của giáo dục, thị trường lao động và cơ chế quản trị. Cách tiếp cận này cho phép nhận diện điểm nghẽn như những vấn đề cấu trúc, chứ không chỉ như hiện tượng rời rạc bề mặt.

Phạm vi thực tiễn của bài viết tập trung vào Việt Nam giai đoạn 2020–2025, là thời kỳ chuyển đổi số quốc gia được thúc đẩy mạnh bằng một hệ thống chính sách tương đối đồng bộ và cũng là giai đoạn bộc lộ rõ nhất những yêu cầu mới về kỹ năng số, đào tạo lại và tái cấu trúc lao động. Đây cũng là giai đoạn thích hợp để kiểm tra mức độ thích ứng của thể chế, giáo dục và thị trường lao động trước sức ép của kinh tế số.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Phát triển nguồn nhân lực số là bài toán cấu trúc, không phải bài toán bộ phận

Nguồn nhân lực số thường bị hiểu giản đơn như đội ngũ lao động trong ngành công nghệ thông tin. Cách hiểu này chỉ phản ánh một phần của bức tranh. Thực chất, chuyển đổi số làm biến đổi toàn bộ phương thức sản xuất, quản trị và giao tiếp xã hội, do đó nguồn nhân lực số phải được hiểu như một mặt bằng năng lực mới của lực lượng lao động, trải dài từ kỹ năng số cơ bản của công dân đến năng lực chuyên sâu của chuyên gia công nghệ. Khung năng lực số cho người học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2025, với 6 miền và 24 năng lực thành phần, cho thấy nhà nước đã bắt đầu chuyển từ tư duy dạy tin học sang tư duy chuẩn hóa năng lực số (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025a).

Tuy nhiên, việc phát triển nguồn nhân lực số không thể thành công nếu chỉ giao cho ngành giáo dục hoặc doanh nghiệp công nghệ. Đây là bài toán cấu trúc của mô hình phát triển quốc gia trong thời đại số, đòi hỏi ba tầng vận hành đồng thời: thể chế phải mở đường, giáo dục phải tạo nguồn và thị trường lao động phải hấp thụ, tái phân bổ và nâng cấp kỹ năng. Bất cứ sự trục trặc nào ở một trong ba tầng này đều khiến cả hệ thống phát triển nguồn nhân lực số bị nghẽn.

3.2. Điểm nghẽn thể chế: Khoảng cách giữa chủ trương chiến lược và cơ chế vận hành

Điểm nghẽn thể chế trước hết nằm ở khoảng cách giữa quyết tâm chính trị và cơ chế vận hành cụ thể. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định rất rõ thể chế là điều kiện tiên quyết phải đi trước một bước; nhưng chính văn kiện này cũng thừa nhận thể chế, cơ chế và chính sách hiện hành chưa đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024). Điều đó có nghĩa là bản thân hệ thống chính sách hiện thời vừa là công cụ thúc đẩy, vừa là nơi bộc lộ độ trễ của tư duy quản lý trước sự vận động rất nhanh của khoa học, công nghệ và thị trường lao động số.

Biểu hiện cụ thể của điểm nghẽn này là sự phân tán trong quản trị phát triển nguồn nhân lực số. Vấn đề này liên quan đồng thời đến giáo dục, lao động, khoa học công nghệ, đầu tư, tài chính và quản trị địa phương. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp liên ngành chưa phải lúc nào cũng rõ ràng, trong khi mức độ sẵn sàng số của các địa phương lại không đồng đều. Dữ liệu về tỉ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa các địa bàn, phản ánh năng lực thể chế và mức độ thích ứng khác nhau ở cấp thực thi (Cục Chuyển đổi số quốc gia, 2025). Cùng một chủ trương nhưng kết quả có thể rất khác nhau, và điều đó làm giảm hiệu quả hình thành nhân lực số trên quy mô quốc gia.

Điểm nghẽn thể chế còn thể hiện ở chỗ chính sách nhân tài, chính sách thu hút và trọng dụng nhân lực số chất lượng cao chưa đủ sức tạo bứt phá. Trong khi khu vực công cần đội ngũ chuyên gia chuyển đổi số, dữ liệu, an ninh mạng và quản trị nền tảng, thì cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và giữ chân nhân lực có trình độ cao vẫn chưa thật sự linh hoạt. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo thúc đẩy sửa đổi Luật Giáo dục đại học, bổ sung các quy định về đại học số, AI và cơ chế chính sách đặc thù đối với nhân tài cho thấy khung pháp lý hiện hành đang cần được điều chỉnh để thích nghi với bối cảnh mới (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025b). Từ góc nhìn chính sách, đó chính là bằng chứng rõ ràng của một nút thắt thể chế: muốn phát triển nguồn nhân lực số, phải thay đổi môi trường pháp lý và cơ chế quản trị chứ không chỉ tăng đầu tư cho đào tạo.

3.3. Điểm nghẽn giáo dục: Đào tạo chưa theo kịp sự dịch chuyển của công nghệ

Giáo dục – đào tạo là xưởng tạo người của nền kinh tế số. Nhưng chính ở đây, điểm nghẽn hiện ra rất rõ. Trong nhiều cơ sở đào tạo, chương trình vẫn nặng về tri thức phân mảnh, trong khi kỹ năng thực hành, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng làm việc liên ngành và kỹ năng số ứng dụng chưa được coi trọng tương xứng. Bộ Thông tin và Truyền thông thừa nhận đào tạo nhân lực công nghệ thông tin chưa bắt kịp xu hướng phát triển, khi nhu cầu nhân lực cao hơn năng lực cung ứng của hệ thống đào tạo, và nhiều sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế của doanh nghiệp (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2024c).

Một điểm nghẽn lớn của giáo dục là mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng. Thị trường lao động số thay đổi nhanh, nhưng chu kỳ cải tiến chương trình đào tạo thường chậm. Hệ quả là nhiều cơ sở đào tạo phản ứng sau thị trường thay vì đi trước đón đầu. Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn 2050 đặt mục tiêu đưa tỉ trọng đào tạo các ngành STEM đạt 35% vào năm 2030, từ đó cho thấy cơ cấu đào tạo hiện nay vẫn còn khoảng cách khá xa so với nhu cầu của nền kinh tế tri thức và công nghiệp hiện đại (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025c). Khi cơ cấu ngành học, phương pháp dạy học và nền tảng số trong giáo dục chưa thay đổi đủ nhanh, nguồn cung nhân lực số sẽ tất yếu bị hạn chế cả về chất và lượng.

Bên cạnh đó, việc triển khai chuẩn năng lực số mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Khung năng lực số cho người học là một bước tiến quan trọng theo hướng chuẩn hóa, nhưng từ khung chuẩn tới chuyển hóa thành học liệu, chuẩn chương trình, chuẩn đầu ra, phương thức kiểm tra đánh giá và cơ chế công nhận còn là một quãng đường dài. UNESCO trong GEM Report 2023 cảnh báo công nghệ trong giáo dục chỉ phát huy hiệu quả khi bảo đảm ba điều kiện hệ thống: tiếp cận, quản trị và chuẩn bị giáo viên; đồng thời nhấn mạnh công nghệ phải đặt người học ở vị trí trung tâm, không nhằm thay thế tương tác giáo dục của con người (UNESCO, 2023). Nhìn vào Việt Nam, có thể thấy cả ba điều kiện này vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu và năng lực thực thi.

3.4. Điểm nghẽn thị trường lao động: Lệch pha cung – cầu và mặt bằng kỹ năng còn thấp

Thị trường lao động là nơi kiểm nghiệm cuối cùng chất lượng của nguồn nhân lực số. Tại đây, điểm nghẽn nổi lên theo hai chiều: mặt bằng chất lượng lao động chung còn thấp, trong khi nhu cầu về kỹ năng số lại tăng nhanh và biến đổi liên tục. Quý I năm 2025, Việt Nam có 51,9 triệu người có việc làm nhưng tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ chỉ đạt 28,8% (Cục Thống kê, 2025). Đây là một thực tế khó bỏ qua: đa số lực lượng lao động vẫn đang làm việc trên một nền tảng đào tạo chính quy chưa cao, trong khi công nghệ lại thay đổi nhanh hơn chu kỳ đào tạo truyền thống.

Sự phát triển nhanh của kinh tế số làm rõ hơn độ lệch ấy. Khi kinh tế số tăng nhanh hơn tăng trưởng GDP chung, nhu cầu đối với các kỹ năng số cơ bản và nâng cao tất yếu mở rộng mạnh ở hầu hết các ngành nghề. Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho biết 63% nhà tuyển dụng xem khoảng trống kỹ năng là rào cản chính của chuyển đổi tổ chức, và khoảng 39% kỹ năng hiện tại sẽ thay đổi vào năm 2030 (World Economic Forum, 2025). Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ thiếu số lượng nhân lực công nghệ, mà còn thiếu khả năng tái đào tạo nhanh lực lượng lao động đang làm việc. Thị trường lao động đang đối mặt với nguy cơ vừa thiếu, vừa lệch, vừa chậm: thiếu người có kỹ năng mới, lệch giữa cái được dạy và cái doanh nghiệp cần, chậm trong nâng cấp kỹ năng quy mô lớn.

Một điểm nghẽn khác là sự phân hóa theo vùng, ngành và loại hình việc làm. Chuyển đổi số thường phát triển mạnh ở các trung tâm đô thị, doanh nghiệp lớn và những ngành có mức số hóa cao, trong khi một bộ phận lớn lao động ở khu vực nông thôn, doanh nghiệp nhỏ, khu vực phi chính thức và các nhóm yếu thế chưa có nhiều điều kiện tiếp cận đào tạo kỹ năng số. Điều đó làm cho thị trường lao động số không chỉ thiếu người giỏi, mà còn thiếu cả chiều rộng bao trùm. OECD Skills Outlook 2025 nhấn mạnh rằng chính sự khác biệt về cơ hội tiếp cận kỹ năng tạo ra bất bình đẳng dài hạn về năng suất, việc làm và thu nhập (OECD, 2025). Trong điều kiện Việt Nam, đây là cảnh báo rất đáng suy nghĩ.

3.5. Hàm ý chính sách: Từ đào tạo nhân lực công nghệ sang phát triển hệ sinh thái nhân lực số

Từ ba điểm nghẽn trên, có thể rút ra một số hàm ý chính sách. Một là, không thể giải quyết bài toán nguồn nhân lực số chỉ bằng việc tăng chỉ tiêu tuyển sinh các ngành công nghệ thông tin. Điểm nghẽn lớn hơn nằm ở năng lực thể chế, cấu trúc đào tạo và khả năng vận hành của thị trường lao động. Nếu ba tầng này không đồng thời thay đổi, việc tăng số lượng người học chỉ làm nới rộng thêm khoảng cách giữa bằng cấp và năng lực thực hành.

Hai là, cải cách thể chế phải đi trước một bước. Thể chế phải chuyển từ cách quản lý đủ an toàn để kiểm soát sang cách quản lý đủ linh hoạt để phát triển, nhất là trong giáo dục số, đại học số, hợp tác công – tư về đào tạo và chính sách nhân tài. Ba là, giáo dục phải dịch chuyển từ logic truyền thụ chương trình sang logic phát triển năng lực và giải quyết vấn đề; từ mô hình đào tạo đóng sang mô hình mở, linh hoạt, học tập suốt đời. Bốn là, thị trường lao động số cần được nhìn như một cấu phần của chiến lược phát triển quốc gia, chứ không chỉ là nơi mua – bán kỹ năng. Điều đó đòi hỏi hệ thống thông tin dự báo kỹ năng tốt hơn, cơ chế đào tạo lại mạnh hơn và chính sách bao trùm hơn đối với các nhóm yếu thế. Chỉ khi ấy, nguồn nhân lực số mới có thể hình thành như một hệ sinh thái thay vì những đảo kỹ năng rời rạc.

4. Kết luận

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam hiện nay không thiếu quyết tâm chính trị và cũng không thiếu nhu cầu thị trường. Vấn đề nằm ở chỗ ba tầng của quá trình phát triển – thể chế, giáo dục và thị trường lao động – chưa vận hành với cùng một nhịp độ. Thể chế đã bắt đầu đổi mới nhưng còn độ trễ; giáo dục đã bước vào giai đoạn chuẩn hóa năng lực số nhưng còn khoảng cách lớn với thực tiễn; thị trường lao động số tăng nhanh nhưng mặt bằng kỹ năng chung của lực lượng lao động còn thấp và phân hóa.

Điều đó cho thấy bài toán nguồn nhân lực số không phải là bài toán bộ phận, mà là bài toán cấu trúc của mô hình phát triển quốc gia trong thời đại số. Muốn tháo nút thắt, Việt Nam phải dịch chuyển từ cách tiếp cận cục bộ sang cách tiếp cận hệ sinh thái: cải cách thể chế để mở đường, đổi mới giáo dục để tạo nguồn, tổ chức lại thị trường lao động để hấp thụ và tái phân bổ kỹ năng. Chỉ trên cơ sở đó, nguồn nhân lực số mới có thể trở thành lực lượng trung tâm của chuyển đổi số và là nền tảng thực chất cho khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025a). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025b). Bộ GDĐT triển khai nhiệm vụ chuyển đổi số, cải cách hành chính năm 2025. https://moet.gov.vn

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025c). Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://moet.gov.vn

5. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2024a). Phát triển kinh tế số các ngành là câu chuyện chính của kinh tế số Việt Nam. https://mic.gov.vn

6. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2024b). Ngành công nghệ số “khát” nhân lực, cơ hội vàng cho 90% sinh viên công nghệ. https://mic.gov.vn

7. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2024c). Đào tạo nhân lực công nghệ thông tin chưa bắt kịp xu hướng phát triển. https://mic.gov.vn

8. Chính phủ. (2025a). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

9. Chính phủ. (2025b). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

10. Cục Chuyển đổi số quốc gia. (2025). tỉ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên cả nước tháng 04/2025. https://dx.gov.vn

11. Cục Thống kê. (2025). Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý I năm 2025. https://www.gso.gov.vn

12. OECD. (2025). OECD Skills Outlook 2025: Building the Skills of the 21st Century for All. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/26163cd3-en

13. UNESCO. (2023). Global Education Monitoring Report 2023: Technology in Education: A Tool on Whose Terms? UNESCO.

14. World Economic Forum. (2025). The Future of Jobs Report 2025. World Economic Forum.

ThS. NCS. LÊ VĂN QUYỀN

Lớp K29.1 Triết học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Các tin khác