Bài viết này tập trung phân tích một số vấn đề lý luận liên quan đến phòng vệ chính đáng, bao gồm khái niệm, các tiêu chí pháp lý để xác định hành vi phòng vệ chính đáng, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về chế định này trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2025 (BLHS).

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Một số vấn đề lý luận về phòng vệ chính đáng
Khái niệm phòng vệ chính đáng
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội giải thích: “Phòng vệ chính đáng là gây thiệt hại cho kẻ tấn công tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của sự tấn công đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác. Hành vi phòng vệ chính đáng là một tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi”.
Từ góc độ học thuật, GS. TS Lê Văn Cảm định nghĩa “Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ để gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà nước nếu hành vi chống trả tương xứng với hành vi xâm hại”. [5]
Về mặt pháp lý, chế định phòng vệ chính đáng được quy định tại Chương IV BLHS. Đây là một trong bảy trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 22 BLHS, phòng vệ chính đáng được quy định như sau:
“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.”
Qua phân tích các khái niệm nêu trên, có thể thấy rằng mặc dù sử dụng các cách diễn đạt khác nhau như “tương xứng” (trong định nghĩa của từ điển và của GS. Lê Văn Cảm) hay “cần thiết” (trong quy định của BLHS), nhưng điểm chung trong cả ba cách tiếp cận đều nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa hành vi chống trả và hành vi xâm phạm. Sự phù hợp này chính là tiêu chí then chốt để phân biệt hành vi phòng vệ chính đáng với các hành vi vi phạm pháp luật khác có tính chất tương tự như vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc hành vi trả thù.
Từ sự tổng hợp các quan điểm trên, tác giả hoàn toàn đồng tình với nội hàm được đưa ra và cho rằng có thể khái quát khái niệm phòng vệ chính đáng như sau:
“Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, được coi là trường hợp không phải là tội phạm và người đó được loại trừ trách nhiệm hình sự.”
Khái niệm này không chỉ phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của phòng vệ chính đáng, mà còn thể hiện rõ vai trò của chế định này trong việc bảo vệ trật tự pháp luật, công bằng xã hội và quyền tự bảo vệ hợp pháp của công dân trong những tình huống nguy cấp.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 22 BLHS cũng quy định “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này”. Trong trường hợp này, người phòng vệ đã có quyền phòng vệ, đã phòng vệ, tuy nhiên đã phòng vệ quá mức cần thiết nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Những tiêu chí xác định hành vi phòng vệ chính đáng
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học từ các học giả trong lĩnh vực luật hình sự đề cập đến các điều kiện để xác định một hành vi có phải là phòng vệ chính đáng hay không. Mỗi công trình đều tiếp cận từ những góc nhìn và mức độ phân tích khác nhau. Tuy nhiên, để có một cách tiếp cận hệ thống và dễ áp dụng trong thực tiễn, dưới góc nhìn cá nhân, tác giả tổng hợp và khái quát lại những điều kiện cần và đủ để một hành vi được công nhận là phòng vệ chính đáng, cụ thể như sau:
Điều kiện về chủ thể
Trong một tình huống phòng vệ chính đáng, luôn tồn tại hai nhóm chủ thể chính, bao gồm:
Thứ nhất, người có hành vi xâm phạm (nạn nhân): phải đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp của cá nhân người phòng vệ, của người khác, của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức.
Đang có hành vi xâm phạm tức là hành vi đó đã bắt đầu và chưa kết thúc. Nếu hành vi xâm phạm chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc thì mọi hành vi chống trả không được xem là phòng vệ chính đáng. Nếu hành vi xâm phạm này đã kết thúc nhưng lại có tiếp hành vi khác của chính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo vệ thì cũng không coi là hành vi xâm phạm đã kết thúc và người có hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ. [6]
Thứ hai, người có hành vi chống trả (người phòng vệ): Là người thực hiện hành vi chống lại sự xâm phạm để bảo vệ các lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, quyền phòng vệ của người này bị giới hạn ở phạm vi: (1) Chỉ được phép gây thiệt hại trực tiếp đến chính người xâm phạm (nạn nhân); (2) Không được gây thiệt hại cho người khác ngoài nạn nhân, dù những người đó có thể liên quan đến tình huống xảy ra; (3) Thiệt hại do người có hành vi phòng vệ gây ra chỉ có thể thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe cho người xâm phạm. Trong khi đó, người có hành vi xâm phạm có thể gây ra bất cứ thiệt hại nào cho người phòng vệ, người khác, Nhà nước, tổ chức, tập thể như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhân phẩm, danh dự hoặc lợi ích xã hội khác.
Từ đó có thể thấy, pháp luật trao cho người phòng vệ một quyền nhất định để bảo vệ lợi ích hợp pháp, nhưng đồng thời giới hạn quyền đó để tránh việc phòng vệ bị biến tướng thành hành vi trả thù hoặc xâm phạm ngược lại người khác.
Điều kiện về hành vi
Thứ nhất, hành vi xâm phạm phải có tính chất nguy hiểm đáng kể:
Mức độ đáng kể của hành vi xâm phạm được đánh giá qua các tiêu chí như sau:
(1) Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm. Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm càng nghiêm trọng bấy nhiêu.
(2) Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của người có hành vi xâm phạm. Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thì hành vi chống trả không được coi là phòng vệ.
(3) Hành vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật trước hết là hành vi phạm tội và những hành vi khác trái với quy định của pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau như: luật hôn nhân gia đình, luật dân sự, luật hành chính…Tuy nhiên, khi xét hành vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xét trong mối tương quan với hành vi chống trả, không phải bất cứ hành vi tội phạm nào xảy ra, người có hành vi chống trả gây chết hoặc gây thương tích cho người có hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng. Ngược lại, có những hành vi xâm phạm chưa phải là hành vi phạm tội nhưng vì nó xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và của công dân nên hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.
Thứ hai, hành vi chống trả phải là hành vi cần thiết
Tiêu chí “cần thiết” là một yếu tố then chốt để xác định tính chính đáng của hành vi chống trả. Bộ luật Hình sự năm 1985 (BLHS 1985) từng sử dụng thuật ngữ “tương xứng”, sau này được thay bằng từ “cần thiết” trong các Bộ luật Hình sự năm 1999 (BLHS 1999) và BLHS hiện hành. Dù vậy, khái niệm “cần thiết” trong luật hiện hành chưa được định nghĩa cụ thể. Do đó, thực tiễn xét xử hiện nay vẫn dựa vào tinh thần Nghị quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 02) hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1985, để đánh giá tính hợp lý của hành vi phòng vệ. Theo đó, mục II Nghị quyết 02 nêu rõ:
“Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính nguy hiểm cho xã hội;
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ;
c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại;
d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.”
Ngoài ra, cũng theo Nghị quyết số 02 thì “tương xứng” không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ. Để xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: Khách thể cần bảo vệ (ví dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya)… Đồng thời, cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ. Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: Gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về phòng vệ chính đáng trong Bộ luật Hình sự
Từ việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng quy định về trường hợp phòng vệ chính đáng tại Điều 22 BLHS, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần cụ thể hóa các trường hợp đương nhiên được quyền phòng vệ chính đáng nhằm khuyến khích công dân chủ động phòng ngừa, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích chung trong đó có lợi ích của bản thân mình. Theo đó, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 22 BLHS như sau:
“Điều 22. Phòng vệ chính đáng
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi đó được loại trừ trách nhiệm hình sự.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đương nhiên phòng vệ chính đáng
a) Chống trả lại người đang thực hiện hành vi giết người, hiếp dâm, cướp tài sản, bắt cóc và hành vi bạo lực, tra tấn, đánh đập tàn nhẫn, đặc biệt khi người bị hại là trẻ em, người già, phụ nữ mang thai hoặc người mất khả năng tự vệ;
b) Chống trả lại người đang sử dụng vũ khí, hung khí hoặc phương tiện nguy hiểm để chống lại người đang thực hiện việc bắt giữ hợp pháp theo quy định của pháp luật;
c) Chống trả lại người có hành vi đột nhập trái pháp luật vào chỗ ở, nơi làm việc hoặc phương tiện thuộc quyền quản lý hợp pháp của cá nhân, tổ chức vào ban đêm".
Thứ hai, ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng về phòng vệ chính đáng, cụ thể là hướng dẫn tình tiết “cần thiết” tại Điều 22 BLHS. Theo đó, theo tác giả có thể dựa vào các tiêu chí sau để đánh giá mức độ “cần thiết” của hành vi phòng vệ chính đáng:
(1) Tính chất của các lợi ích bị xâm phạm: Lợi ích bị xâm phạm càng quan trọng bao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải mạnh mẽ bấy nhiêu.
(2) Tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm càng nguy hiểm và nghiêm trọng bao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải quyết liệt bấy nhiêu.
(3) Mối tương quan khác giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ như mối tương quan lực lượng giữa bên xâm phạm và bên phòng vệ, thời gian, không gian xảy ra sự việc.
Tóm lại, khi đánh giá hành vi chống trả có cần thiết hay không phải xem xét một cách toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án, trong đó đặc biệt là tâm lý, thái độ của người phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn chính xác phương pháp, phương tiện thích hợp để chống trả nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ, chỉ coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi sự chống trả rõ ràng là quá đáng.
Phòng vệ chính đáng là một thiết chế pháp lý có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo vệ quyền tự thân, góp phần duy trì công lý và trật tự xã hội. Qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như phân tích nội dung Điều 22 BLHS, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc ghi nhận và điều chỉnh hành vi phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong thực tiễn áp dụng, vẫn cần thiết có những sửa đổi, bổ sung cụ thể hơn. Việc cụ thể hóa các trường hợp được coi là đương nhiên phòng vệ chính đáng, cũng như ban hành hướng dẫn làm rõ tiêu chí “cần thiết” sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân sử dụng quyền phòng vệ đúng đắn, hợp pháp trong những tình huống cấp bách. Đồng thời, điều này cũng giúp cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở rõ ràng để đánh giá đúng bản chất hành vi, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, và thực hiện đúng đắn nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Hình sự năm 1985.
2. Bộ luật Hình sự năm 1999;
3. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2025;
4. Nghị quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1985;
5. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr468;
6. Đinh Văn Quế, Bình luật Bộ luật Hình sự năm 2015 – Phần thứ nhất (Những quy định chung), Nxb Thông tin và truyền thông, 2020. tr 86.
HOÀNG THỊ THU PHƯƠNG
Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 3
NGÔ ANH DŨNG
Tòa án Quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội

