Bài viết đặt vấn đề này trong bối cảnh rộng hơn của thực tiễn xét xử, nhận diện xu hướng đánh đồng "không có ủy quyền" với "giao dịch không có giá trị pháp lý" một cách tiếp cận mâu thuẫn với tinh thần bảo vệ niềm tin hợp lý của bên thứ ba ngay tình mà nhà lập pháp đã chủ động mã hóa vào Điều 142 năm 2015. Từ đó kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành hướng dẫn xét xử và xem xét phát triển án lệ về áp dụng Điều 142, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ gia đình nơi ranh giới đại diện thường không được xác lập bằng văn bản.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
1. Giới thiệu tình huống pháp lý
Bản án phúc thẩm số 255/2024/DS-PT ngày 28/3/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê nhà giữa ông N.X.D (nguyên đơn) và Công ty T.P (bị đơn) đặt ra một vấn đề pháp lý quan trọng nhưng chưa được Tòa phúc thẩm xem xét. Đó là hành vi nhận bàn giao tài sản của người thân (vợ) bên được đại diện, khi người đó không có văn bản ủy quyền, sẽ được xử lý như thế nào theo pháp luật dân sự?
Nội dung vụ án có thể tóm tắt như sau:
Ngày 07/4/2018, ông N.X.D ký với Công ty T.P hai hợp đồng thuê mặt bằng đối với căn nhà số 106 B.H (tài sản riêng của ông D., giá thuê 30 triệu đồng/tháng) và căn nhà số 109 T.V.K (tài sản chung của ông D. và bà N.T.D.H, giá thuê 35 triệu đồng/tháng), thời hạn 36 tháng.
Tháng 05/2019, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước hạn, Công ty T.P đồng ý không thu hồi tiền đặt cọc 195 triệu đồng. Ngày 31/5/2019, đại diện Công ty T.P bàn giao căn nhà 106 B.H cho bà N.T.D.H (vợ ông D., đồng thời là Bên Cho Thuê trong hợp đồng thuê nhà 109 T.V.K). Bà H. đã kiểm tra hiện trạng, nhận chìa khóa, tự tay viết và ký xác nhận nhân danh Bên A (Bên Cho Thuê) rằng đã nhận nhà và không có thắc mắc gì về hiện trạng. Ông D. biết sự việc này nhưng không phản đối. Ngày 11/7/2019, tức hơn một tháng sau, ông D. khởi kiện Công ty T.P.
Tòa sơ thẩm (TAND quận Bình Thạnh tại Bản án số 1906/2023/DS-ST ngày 26/9/2023) chấp nhận một phần yêu cầu, buộc Công ty T.P trả tổng cộng 864.029.000 đồng; riêng tiền thuê nhà 106 B.H chỉ là 21 triệu đồng (20 ngày chưa thanh toán); bác yêu cầu bồi thường hư hỏng nhà 106 B.H vì xác định nhà đã được bàn giao.
Tòa phúc thẩm (TAND TP. Hồ Chí Minh) sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu, nâng tổng số tiền Công ty T.P phải trả lên 4.579.500.000 đồng, gấp hơn 05 lần so với bản án sơ thẩm.
Sự chênh lệch khổng lồ này bắt nguồn chủ yếu từ nhận định của Tòa phúc thẩm cho rằng Công ty T.P chưa bàn giao nhà 106 B.H cho nguyên đơn, với lý do bà H. không có ủy quyền của ông D. để nhận nhà. Nhận định này thoạt nhìn có vẻ hợp lý về mặt hình thức nhưng lại bộc lộ một lỗ hổng nghiêm trọng trong lập luận pháp lý đó là Tòa phúc thẩm đã hoàn toàn bỏ qua việc áp dụng Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện.
2. Hai cách tiếp cận khác nhau của Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm
Việc đối chiếu cách giải quyết của hai cấp Tòa cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong tư duy pháp lý. Tòa sơ thẩm tiếp cận theo hướng thực chất. Hội đồng xét xử đánh giá tổng hợp các tình tiết như biên bản bàn giao nhà có chữ ký của bà H., thông báo số 01/2019 ngày 04/7/2019 của Công ty T.P xác nhận bà H. đã nhận nhà, biên bản thẩm định hiện trường xác nhận nhà trống từ lâu. Từ đó Tòa sơ thẩm xác định hợp đồng thuê nhà 106 B.H đã chấm dứt vào ngày 10/7/2019, buộc Công ty T.P chỉ trả 21 triệu đồng tiền thuê cho 20 ngày chưa thanh toán và bác yêu cầu bồi thường hư hỏng nhà 106 B.H (347.836.000 đồng) vì nhà đã được bàn giao.
Tòa phúc thẩm tiếp cận theo hướng hình thức. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định biên bản bàn giao nhà chỉ là bản photo nên không được xem là chứng cứ; bà H. không được ông D. ủy quyền nhận nhà; việc bà H. cầm chìa khóa nhà không đồng nghĩa với việc Công ty T.P đã hoàn thành nghĩa vụ bàn giao. Kết luận này dẫn đến hệ quả Công ty T.P phải trả tiền thuê nhà 106 B.H liên tục từ tháng 6/2019 cho đến tháng 9/2023 (tổng cộng 1.530.000.000 đồng) và tiếp tục trả 30 triệu đồng/tháng cho đến khi bàn giao, đồng thời phải bồi thường hư hỏng 347.836.000 đồng.
Điều đáng lưu ý là cả hai cấp Tòa đều không đề cập đến Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa sơ thẩm đi đến kết quả hợp lý nhưng thiếu nền tảng pháp lý vững chắc cho nhận định của mình. Tòa phúc thẩm dừng lại ở mệnh đề "không có ủy quyền" mà không tiếp tục đặt câu hỏi tiếp theo “nếu bà H. là người không có quyền đại diện thì hậu quả pháp lý của hành vi bà xác lập sẽ được xử lý theo quy định nào?”.
3. Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khả năng áp dụng trong vụ án
Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau: (a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch; (b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; (c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.
Quy định này thể hiện một nguyên tắc quan trọng của luật dân sự hiện đại đó là bảo vệ niềm tin hợp lý của bên thứ ba ngay tình. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung trường hợp tại điểm c so với Bộ luật Dân sự năm 2005 cho thấy ý chí của nhà lập pháp trong việc mở rộng phạm vi bảo vệ bên đã giao dịch với người không có quyền đại diện. Trong vụ án này nếu chấp nhận lời khai của ông D. rằng ông không ủy quyền cho bà H. nhận nhà thì bà H. chính là "người không có quyền đại diện" theo Điều 142. Vấn đề cần phân tích là liệu giao dịch bàn giao nhà mà bà H. xác lập có rơi vào một trong ba trường hợp ngoại lệ hay không.
3.1 Về trường hợp "biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý" tại điểm b khoản 1 Điều 142
Đây là trường hợp có cơ sở áp dụng rõ ràng nhất. Hồ sơ vụ án cho thấy ông D. biết việc bà H. nhận bàn giao nhà và nhận chìa khóa căn nhà 106 B.H từ ngày 31/5/2019. Tại phiên tòa sơ thẩm, với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà H., ông D. thừa nhận bà H. có nhận chìa khóa từ nhân viên Công ty T.P, dù ông giải thích đó là hành vi "giữ giúp với tư cách cá nhân". Ông D. không hề phản đối việc bà H. nhận nhà trong suốt hơn 41 ngày, từ ngày 31/5/2019 cho đến ngày khởi kiện 11/7/2019.
Bộ luật Dân sự năm 2015 không định nghĩa cụ thể "thời hạn hợp lý" là bao lâu. Tuy nhiên trong bối cảnh ông D. và bà H. là vợ chồng đang sống chung, việc ông D. biết ngay lập tức hoặc trong vài ngày về hành vi bàn giao nhà của bà H. là điều hoàn toàn logic. Sự im lặng kéo dài hơn 1 tháng, kết hợp với việc ông D. chỉ khởi kiện khi phát sinh tranh chấp liên quan đến căn nhà 109 T.V.K (chứ không phải vì phản đối việc bàn giao nhà 106 B.H), cho thấy ông đã mặc nhiên chấp nhận kết quả bàn giao. Đây chính là tình huống "biết mà không phản đối" theo điểm b khoản 1 Điều 142.
3.2 Về trường hợp "người được đại diện có lỗi" tại điểm c khoản 1 Điều 142
Trường hợp này cũng có cơ sở áp dụng vững chắc. Bà H. không phải là một người xa lạ với Công ty T.P. Bà là vợ hợp pháp của ông D., đang sống chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời là Bên Cho Thuê trong Hợp đồng thuê nhà số 078 đối với căn nhà 109 T.V.K. Bà có lợi ích kinh tế trực tiếp và hiểu rõ mối quan hệ cho thuê giữa gia đình bà với Công ty T.P. Hơn nữa tại phiên tòa sơ thẩm, ông D. xác nhận rằng ngày 31/5/2019, ông cùng bà H. đi đến các căn nhà cho thuê để kiểm tra, thanh lý hợp đồng. Nghĩa là ông D. đã tạo điều kiện để bà H. có mặt tại buổi bàn giao.
Trong bối cảnh đó Công ty T.P có mọi lý do để tin tưởng rằng bà H. đại diện cho bên cho thuê. Bà là vợ chủ nhà, là đối tác cho thuê trong hợp đồng liên quan, cùng đi với chồng đến kiểm tra nhà, chủ động kiểm tra hiện trạng, nhận chìa khóa và ký xác nhận nhân danh "Bên A".
Công ty T.P không thể biết và không buộc phải biết rằng bà H. lại không được ủy quyền nhận nhà. Ông D. có lỗi khi để tình huống này xảy ra mà không có bất kỳ cảnh báo nào cho Công ty T.P. Niềm tin của Công ty T.P là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.3 Về trách nhiệm của người không có quyền đại diện tại khoản 2 Điều 142
Khoản 2 Điều 142 quy định trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thì người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.
Giả sử theo cách lập luận cực đoan nhất, giao dịch bàn giao nhà không phát sinh hiệu lực đối với ông D. thì bà H. (người không có quyền đại diện) vẫn phải chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi nhận bàn giao nhà của mình gây ra cho Công ty T.P.
Tòa phúc thẩm hoàn toàn không xem xét khía cạnh này dẫn đến toàn bộ hậu quả bất lợi đổ lên Công ty T.P một cách thiếu cân bằng.
4. Hệ quả dây chuyền từ việc không áp dụng Điều 142
Việc Tòa phúc thẩm không xem xét Điều 142 đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến toàn bộ phán quyết.
Thứ nhất, về tiền thuê nhà 106 B.H. Vì không công nhận việc bàn giao, Tòa phúc thẩm buộc Công ty T.P phải trả tiền thuê liên tục từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2023, tổng cộng 1.530.000.000 đồng, và tiếp tục trả 30 triệu đồng/tháng cho đến khi bàn giao. Trong khi đó Tòa sơ thẩm chỉ buộc trả 21 triệu đồng. Cần lưu ý rằng suốt giai đoạn này, Công ty T.P không hề sử dụng hay chiếm hữu căn nhà; nhà trống hoàn toàn theo các biên bản thẩm định hiện trường; và bà H. giữ chìa khóa nhà. Buộc một bên trả tiền thuê cho tài sản mà mình không sử dụng, không chiếm hữu suốt hơn 4 năm là một kết quả khó có thể biện minh bằng nguyên tắc thiện chí, trung thực.
Thứ hai, về bồi thường hư hỏng nhà 106 B.H. Tòa sơ thẩm bác yêu cầu bồi thường 347.836.000 đồng vì nhà đã được bàn giao. Tòa phúc thẩm lật ngược, chấp nhận kết quả thẩm định giá lần 2 của Công ty Cổ phần Thẩm định giá và Tư vấn đầu tư Việt Nhật ngày 12/12/2022 để buộc bồi thường. Tuy nhiên nếu nhà đã nằm dưới sự quản lý của phía nguyên đơn (thông qua bà H. cầm chìa khóa) từ hơn 3 năm trước khi thẩm định giá lần 2 diễn ra thì việc quy trách nhiệm hư hỏng cho Công ty T.P là chưa thỏa đáng.
Thứ ba, về phạt vi phạm 195 triệu đồng. Tòa sơ thẩm phân tích rằng tại thời điểm khởi kiện, hợp đồng chưa hết hạn, các thông báo nguyên đơn gửi cho bị đơn chỉ yêu cầu thanh toán tiền thuê nhà mà không yêu cầu chấm dứt hợp đồng; hơn nữa, hai bên đã thỏa thuận xử lý khoản đặt cọc trong quá trình chấm dứt hợp đồng trước hạn. Do đó Tòa sơ thẩm bác yêu cầu phạt vi phạm. Tòa phúc thẩm chấp nhận yêu cầu này mà không phân tích thuyết phục lý do lật ngược nhận định của Tòa sơ thẩm.
Tổng cộng riêng đối với căn nhà 106 B.H, sự khác biệt giữa hai bản án là gần 1,9 tỉ đồng. Con số này cho thấy hệ quả nghiêm trọng của việc bỏ sót một quy phạm pháp luật trọng yếu trong quá trình xét xử.
5. Khoảng trống trong áp dụng Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015
Điều 142 được thiết kế trên nền tảng triết lý bảo vệ niềm tin hợp lý của bên thứ ba ngay tình. Trong luật dân sự so sánh, triết lý này được thể hiện qua học thuyết "thẩm quyền bề ngoài" (apparent authority) trong hệ thống thông luật, hay nguyên tắc bảo vệ niềm tin chính đáng (Vertrauensschutz) trong luật dân sự Đức.
Ý tưởng cốt lõi là khi người được đại diện, bằng hành vi hoặc sự im lặng của mình, đã tạo ra hoặc để cho tồn tại một hoàn cảnh bề ngoài khiến bên thứ ba có lý do chính đáng để tin rằng người hành động là đại diện hợp pháp, thì người được đại diện không thể đơn phương phủ nhận giao dịch để gây thiệt hại cho bên đã tin tưởng. Nhà lập pháp Việt Nam đã tiếp thu nguyên tắc này khi bổ sung điểm c khoản 1 Điều 142 trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (trường hợp "người được đại diện có lỗi") so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Việc bổ sung này thể hiện rõ ý chí mở rộng phạm vi bảo vệ bên thứ ba, nhưng thực tiễn xét xử dường như chưa nhận diện được nội hàm đầy đủ của quy phạm.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi đặt trong bối cảnh quan hệ gia đình Việt Nam. Trong đời sống thực tế, việc vợ hoặc chồng thay mặt nhau thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung, thậm chí tài sản riêng, là hiện tượng phổ biến và được xã hội mặc nhiên chấp nhận. Ranh giới giữa hành vi tự ý và hành vi đại diện trong quan hệ vợ chồng thường rất mờ nhạt.
Khi vợ ông chủ nhà, vốn cũng là đồng bên cho thuê trong một hợp đồng liên quan, cùng chồng đến kiểm tra nhà, chủ động nhận bàn giao, kiểm tra hiện trạng, nhận chìa khóa và ký xác nhận nhân danh "Bên A", thì bên thuê có mọi lý do để tin rằng nghĩa vụ trả nhà đã hoàn thành. Yêu cầu bên thuê phải xác minh phạm vi ủy quyền giữa vợ và chồng trong giao dịch dân sự thông thường là một đòi hỏi phi thực tế, đi ngược lại nguyên tắc thiện chí và trung thực tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nếu tư duy "không ủy quyền = không có giá trị" được áp dụng triệt để, hệ quả sẽ vượt xa phạm vi một vụ án cụ thể. Bất kỳ giao dịch nào được thực hiện bởi người thân trong gia đình mà không có văn bản ủy quyền đều có thể bị phủ nhận, bất kể bên kia đã hành xử ngay tình hay bên được đại diện đã im lặng chấp nhận. Điều này tạo ra rủi ro pháp lý lớn cho các giao dịch dân sự hàng ngày, nơi mà yêu cầu ủy quyền bằng văn bản cho mọi hành vi là điều không khả thi. Quan trọng hơn, nó mở đường cho tình trạng lợi dụng pháp luật khi một bên có thể để người thân thực hiện giao dịch, hưởng lợi ích từ giao dịch đó, rồi sau đó phủ nhận hiệu lực khi kết quả không còn có lợi cho mình.
Bản án phúc thẩm số 255/2024/DS-PT minh họa rõ nét cho rủi ro này. Ông D. và bà H. cùng đi đến các căn nhà cho thuê. Bà H. nhận bàn giao nhà 106 B.H, ký xác nhận nhân danh Bên Cho Thuê. Ông D. biết và không phản đối suốt hơn 1 tháng. Nhưng khi phát sinh tranh chấp về căn nhà khác, ông D. quay lại phủ nhận toàn bộ việc bàn giao, và Tòa phúc thẩm đã chấp nhận lập luận này mà không xem xét các ngoại lệ tại Điều 142. Kết quả là Công ty T.P phải gánh chịu thêm gần 1,9 tỉ đồng chỉ riêng đối với căn nhà 106 B.H, cho một tài sản mà mình đã trả lại từ năm 2019.
6. Kiến nghị
Từ phân tích trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần có hướng dẫn xét xử của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về cách áp dụng Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó làm rõ các tiêu chí xác định "thời hạn hợp lý" tại điểm b khoản 1 và "lỗi của người được đại diện" tại điểm c khoản 1. Các tiêu chí này nên được xây dựng dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng loại giao dịch, mối quan hệ giữa các bên và mức độ tin tưởng hợp lý mà bên thứ ba có quyền kỳ vọng.
Thứ hai, cần xem xét ban hành án lệ về áp dụng Điều 142 trong bối cảnh quan hệ gia đình, nơi mà ranh giới đại diện thường không được xác lập bằng văn bản. Án lệ cần khẳng định rằng trong quan hệ vợ chồng đang sống chung, khi một bên thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản mà bên kia biết và không phản đối thì giao dịch đó phát sinh hiệu lực theo điểm b khoản 1 Điều 142, trừ khi có bằng chứng về sự phản đối kịp thời.
Thứ ba, khi giải quyết vụ án có liên quan đến Điều 142, Tòa án cần đồng thời xem xét trách nhiệm của người không có quyền đại diện theo khoản 2 Điều 142, đặc biệt khi người đó cũng là đương sự trong vụ án. Việc bỏ qua khía cạnh này, như trong bản án phúc thẩm được bình luận, dẫn đến tình trạng toàn bộ hậu quả bất lợi đổ lên bên thứ ba ngay tình. Trong khi người trực tiếp gây ra sự mơ hồ về thẩm quyền đại diện lại không phải chịu trách nhiệm gì.
Chỉ khi Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015 được áp dụng đúng tinh thần và đầy đủ nội hàm trong thực tiễn xét xử, nguyên tắc bảo vệ niềm tin hợp lý mới không chỉ tồn tại trên văn bản mà thực sự trở thành công cụ cân bằng lợi ích giữa các bên trong giao dịch dân sự.
Kết luận
Vụ tranh chấp giữa ông N.X.D và Công ty T.P không chỉ là câu chuyện của hai đương sự. Nó phản ánh một xu hướng đáng lo ngại trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự tại Việt Nam, đó là khi đối mặt với tình huống một người không có văn bản ủy quyền thực hiện giao dịch thay người khác, Tòa án có xu hướng dừng lại ở kết luận "không ủy quyền, do đó không có giá trị pháp lý" mà không tiếp tục phân tích các trường hợp ngoại lệ đã được nhà lập pháp quy định rõ tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cách tiếp cận này, xét về bản chất, đã đánh đồng "không có ủy quyền" với "giao dịch vô hiệu", trong khi tinh thần của Điều 142 hoàn toàn không dẫn đến kết luận đơn giản như vậy./.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3. Bộ luật Dân sự năm 2005.
4. Luật Nhà ở năm 2014.
5. Bản án phúc thẩm số 255/2024/DS-PT ngày 28/3/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê nhà.
6. Bản án sơ thẩm số 1906/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của TAND quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê nhà.
Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ
Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

