Một số vấn đề pháp lý liên quan đến tội ‘Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước’

19/07/2020 11:56

(LSO) – Bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước bảo đảm đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Ảnh minh họa.

Ngày 16/7, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an cho biết đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước” liên quan đến thành viên tổ Thư ký, tài xế của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Đức Chung.

Trước đó, chiều ngày 13/7, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của 3 nghi phạm có hành vi “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước”, theo Điều 337 bộ luật Hình sự năm 2015.

Liên quan đến tội danh này, Thạc sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp cho rằng theo quy định của pháp luật thì khi có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra có thể khởi tố vụ án để tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật. Trong quá trình điều tra thì cơ quan điều tra sẽ khác định đối tượng nào thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành khởi tố bị can, xem xét trách nhiệm pháp lý đối với những người có liên quan theo quy định pháp luật.

Khi khởi tố bị can thì sẽ đồng nghĩa với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giam hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú. Cơ quan điều tra sẽ làm rõ người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước, làm rõ chủ thể thực hiện hành vi này, quá trình thực hiện hành vi, mục đích thực hiện hành vi và hậu quả đã gây ra đối với xã hội để có hình thức xử lý phù hợp với quy định pháp luật. Khi có căn cứ xác định người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước mà người này có đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp luật hình sự thì người này sẽ bị khởi tố bị can.

Theo thông tin từ phía cơ quan điều tra, hiện nay cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án hình sự về tội “Chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước”, quyết định khởi tố vụ án này sẽ được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.

Khi có căn cứ xác định đối tượng nào đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài liệu thuộc danh mục mật, tối mật hoặc tuyệt mật của nhà nước thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố bị can và có thể lệnh bắt tạm giam đối với đối tượng đã thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài đối tượng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội thì các đối tượng khác có vai trò chủ mưu, giúp sức, xúi giục (nếu có) thì cũng đều sẽ bị xử lý về một tội danh với vai trò đồng phạm.

Trong vụ án này, cơ quan điều tra sẽ ngoài việc xử lý về tội chiếm đoạt tài sản liệu bí mật nhà nước thì cơ quan điều tra cũng sẽ làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật khác nếu có, đồng thời sẽ làm rõ mục đích chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước để làm gì, có dấu hiệu của tội che giấu tội phạm hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác hay không để xử lý vụ án một cách triệt để, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội được quy định trong tội danh này là hành vi xâm phạm đến bí mật của Nhà nước. Theo quy định của khoản 1, điều 2, Luật bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 thì: “Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định căn cứ vào quy định của Luật này, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác.”

Bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước bảo đảm đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Chủ động phòng ngừa; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Điều 5. Luật bảo vệ bí mật nhà nước quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước như sau:
1. Làm lộ, chiếm đoạt, mua, bán bí mật nhà nước; làm sai lệch, hư hỏng, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
2. Thu thập, trao đổi, cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước trái pháp luật; sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao, nhận, thu hồi, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trái pháp luật.
3. Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ trái pháp luật.
4. Lợi dụng, lạm dụng việc bảo vệ bí mật nhà nước, sử dụng bí mật nhà nước để thực hiện, che giấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đã kết nối hoặc đang kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, trừ trường hợp lưu giữ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu.
6. Truyền đưa bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin, viễn thông trái với quy định của pháp luật về cơ yếu.
7. Chuyển mục đích sử dụng máy tính, thiết bị khác đã dùng để soạn thảo, lưu giữ, trao đổi bí mật nhà nước khi chưa loại bỏ bí mật nhà nước.
8. Sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức khi chưa được người có thẩm quyền cho phép.
9. Đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, mạng máy tính và mạng viễn thông.

Căn cứ vào tính chất quan trọng của nội dung thông tin, mức độ nguy hại nếu bị lộ, bị mất, bí mật nhà nước được phân loại thành 03 độ mật, bao gồm:

– Bí mật nhà nước độ Tuyệt mật là bí mật nhà nước liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh, cơ yếu, đối ngoại, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đặc biệt nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, dân tộc;

– Bí mật nhà nước độ Tối mật là bí mật nhà nước liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh, cơ yếu, lập hiến, lập pháp, tư pháp, đối ngoại, kinh tế, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao, thông tin và truyền thông, y tế, dân số, lao động, xã hội, tổ chức, cán bộ, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, kiểm toán nhà nước, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại rất nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, dân tộc;

– Bí mật nhà nước độ Mật là bí mật nhà nước liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh, cơ yếu, lập hiến, lập pháp, tư pháp, đối ngoại, kinh tế, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao, thông tin và truyền thông, y tế, dân số, lao động, xã hội, tổ chức, cán bộ, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, kiểm toán nhà nước, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Điều 26 Luật bảo vệ bí mật nhà nước quy định trách nhiệm của người tiếp cận, người trực tiếp quản lý bí mật nhà nước, theo đó, người tiếp cận bí mật nhà nước có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật, quy chế, nội quy của cơ quan, tổ chức về bảo vệ bí mật nhà nước; thực hiện các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước; sử dụng bí mật nhà nước đúng mục đích; thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước.

Người trực tiếp quản lý bí mật nhà nước có trách nhiệm sau đây:

– Đề xuất người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp để bảo vệ bí mật nhà nước do mình trực tiếp quản lý;

– Trường hợp phát hiện vi phạm trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước thì người trực tiếp quản lý bí mật nhà nước phải có biện pháp xử lý và báo cáo người có trách nhiệm giải quyết, thông báo cho cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước biết để có biện pháp khắc phục;

– Trước khi thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc vì lý do khác mà không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước thì phải bàn giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý và cam kết bảo vệ bí mật nhà nước đã quản lý.

Thạc sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường,Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp.

Theo Luật sư Cường, hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước thì tùy vào từng hành vi cụ thể, tùy vào tính chất mức độ của hành vi vi phạm và tùy thuộc vào hậu quả xảy ra mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong đó, hành vi cố ý làm lộ bí mật nhà nước, vô ý làm lộ bí mật nhà nước, hành vi mua bán, chiếm đoạt, tiêu hủy bí mật nhà nước là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định của Điều 337 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi cố ý làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu thụ hủy tài liệu bí mật nhà nước đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này với mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 15 năm tù, cụ thể tội danh và hình phạt được bộ luật hình sự quy định như sau:

Điều 337. Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước
1. Người nào cố ý làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Bí mật nhà nước thuộc độ tuyệt mật;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Gây tổn hại về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Ngoài ra để bảo vệ bí mật nhà nước thì người nào được giao quản lý tài liệu bí mật nhà nước mà có hành vi vô ý làm lộ, làm mất bí mật nhà nước thì cũng là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 338 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

Điều 338. Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước
1. Người nào vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật, tuyệt mật;
b) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

THANH THANH

Tin mới