Tự do và an ninh cá nhân – Những thách thức trong xã hội hiện đại

14/03/2020 09:00

LSVNO – Trong các quyền tự do bất diệt của nhân loại, trước hết phải nói đến tự do và an ninh cá nhân.

Tự do và an ninh cá nhân – thách thức từ khái niệm truyền thống

Quyền con người nói tóm gọn lại là tự do, nhưng đến nay vẫn có đến vài trăm cách hiểu khác nhau về tự do. Ngay từ năm 1939 ở Việt Nam, trên Báo Ngày nay số 169 ra ngày 08/7/1939 đã viết rằng “Tự do là một chữ bao hàm rất nhiều ý nghĩa, có thể gợi những tình cảm mãnh liệt và sự nhiệt thành hăng hái của quần chúng… “Sống tự do hay là chết’’, đó là lời thề của chiến sĩ cuộc cách mạng Pháp, đó là lời thề chung của những tâm hồn khí khái mong thoát ly ra ngoài vòng áp chế, nô lệ. Tự do là một lý tưởng đẹp đẽ của loài người, một ngôi sao dẫn đường cho nhân loại, cao quý và sáng láng, từ ở bên tây phương theo văn minh Âu châu đến chiếu rõi ngang cùng ngõ hẻm của Viễn đông, làm sôi nổi tâm can hàng ức triệu người đương chìm đắm trong giấc mê ngàn năm”. Bài báo này còn đánh giá tự do “có sức mạnh nghiêng thành đổ núi”. Trong thực tế phát triển văn minh nhân loại, từ khai sinh đến hiện đại, tự do xác định tư cách chủ thể của mỗi người, bản chất của mỗi chế độ xã hội, là nguồn cảm hứng sáng tạo to lớn và phát triển mạnh mẽ của mỗi con người và cộng đồng nhân loại.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Trong các quyền tự do bất diệt của nhân loại, trước hết phải nói đến tự do và an ninh cá nhân. Joseph Déjacque lần đầu tiên dùng thuật ngữ này trong lá thư gửi Proudhon năm 1857 đã gắn trực tiếp tự do với an ninh cá nhân, được dịch ra tiếng Anh là “libertarian”. Một số nhà tự do chủ nghĩa như Robert Nozick và Murray Rothbard xem quyền sống, tự do và tài sản là quyền tự nhiên của mỗi người, tự do tồn tại như là đương nhiên và mục đích cuối cùng của chính bản thân con người. Quan điểm về quyền tự nhiên của tự do cá nhân cũng thể hiện trong các tác phẩm của Thomas Hobbes, John Locke, Ayn Rand… Khái niệm tự do như là một lý tưởng chính trị từ cổ điển đến hiện đại đều được sử dụng với hàm ý tự do và an ninh cá nhân và hình thành chủ nghĩa tự do (liberalism). Lý tưởng này xuất phát từ thời khai sáng tại châu Âu và Mỹ, trong đó phải kể đến các học thuyết của John Locke, Montesquieu, Adam Smith, J.J.Russeau… và nhanh chóng lan rộng cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp. Họ cho rằng phải bảo vệ tự do bằng “khế ước xã hội” như là một quy tắc xã hội; họ đề xướng lý thuyết về quyền tài sản và quyền nhân thân, mỗi cá nhân “sở hữu” chính mình và sở hữu thành quả lao động của mình.

Để bảo vệ tự do, Montesquieu đã xây dựng quan điểm về sự chia tách giữa chủ quyền nhân dân với quyền lực nhà nước, và đề xướng thuyết “tam quyền phân lập”, trong đó cơ chế kiềm chế – đối trọng và kiểm soát quyền lực là nguyên tắc của tổ chức quyền lực nhà nước. Họ chủ trương bảo vệ tự do và an ninh cá nhân là mục tiêu chính của nhà nước. Lý thuyết này trở thành cơ sở tư tưởng của tổ chức quyền lực chính trị ở hầu hết các quốc gia phương tây và nhiều quốc gia dân chủ trên thế giới cho đến ngày nay, mà bắt đầu là nước Mỹ. Tuy nhiên, chính chủ trương này về tự do và an ninh cá nhân cũng đang đứng trước thách thức và bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự tranh chấp quyền lực và lạm quyền, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa khủng bố, xung đột sắc tộc, di cư tự do, chủ nghĩa bảo hộ… và đặc biệt là phân hóa giàu nghèo trên thế giới chưa bao giờ đến đỉnh như bây giờ.

Thách thức tự do và an ninh cá nhân về những quy định trong Luật Nhân quyền quốc tế

Tự do và an ninh cá nhân trong Luật Nhân quyền quốc tế được hiểu là mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân; nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các điều kiện thực hiện quyền tự do và an ninh của mỗi người. Trong quan hệ với nhà nước, các quyền tự do và an ninh cá nhân được thể hiện cụ thể là: (i) không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ; (ii) không một cá nhân nào bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do rõ ràng, chính đáng và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định; (iii) bất kỳ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ; (iv) bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do; (v) việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại tòa án để xét xử vào bất kỳ khi nào và thi hành án nếu có tội; (vi) bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước tòa án, nhằm mục đích để tòa án đó có thể quy định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp; (vii) bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường. Các nội dung trên đây mặc dù đã được ghi nhận trong Luật Nhân quyền quốc tế, trong chính sách và pháp luật của hầu khắp các quốc gia trên thế giới, nhưng tất cả đều đang gặp phải những thách thức về cách thức tổ chức quyền lực gắn với chủ quyền của mỗi quốc gia trong một thế giới đang chuyển đổi. Có những quốc gia đã bãi bỏ án tử hình, việc bắt bớ và khám xét theo một quy trình tố tụng khá chặt chẽ và minh bạch, nhưng có không ít quốc gia, việc bắt, giữ, khám xét người và sử dụng án tử hình còn rất dễ dàng và tùy tiện; có những quốc gia đang xem xét xóa bỏ hệ thống nhà tù (như Hà Lan) vì không có tù nhân, nhưng cũng có quốc gia đang muốn khôi phục lại án tử hình… Tự do và an ninh cá nhân đang bị thách thức bởi cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó bên cạnh xu hướng dân chủ hơn nhưng cũng có xu hướng ngược lại – tự do và an ninh cá nhân ngày càng bị bao vây nhiều hơn bởi quyền lực nhà nước.

Năm 1994, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra khái niệm “An ninh con người” với định nghĩa: An ninh con người “là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày”. An ninh con người gắn với an toàn cá nhân, an ninh con người bao hàm trong nó an ninh cá nhân. UNDP cho rằng phải bảo đảm an ninh con người trên bảy phương diện: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Định nghĩa này của UNDP đã được các cơ quan Liên hợp quốc và nhiều quốc gia tiếp nhận như một tư duy mới có sức thuyết phục cao và có nhiều ý nghĩa. Con người đặt ở vị trí trung tâm của thời đại là quan điểm hoàn toàn đúng đắn. Thực hiện an ninh con người là bảo đảm vững chắc cho an ninh quốc gia, an ninh toàn cầu, đặc biệt là cho tự do và an ninh cá nhân.

Thách thức từ ba giá trị chính của nền dân chủ trong xã hội hiện đại

Dưới giác độ xã hội thì tự do, bình đẳng và an ninh cho con người là ba giá trị chính của nền dân chủ. Giá trị tự do phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái xã hội, văn hóa, chính sách và pháp luật, trình độ phát triển kinh tế và mức sống hiện có. Giá trị bình đẳng là mọi người có cơ hội như nhau trong hưởng thụ quyền, không phân biệt gia đình xuất thân, tình trạng kinh tế giàu hay nghèo, màu da, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, vị thế xã hội, sở thích… Giá trị an ninh con người là điều kiện tiên quyết để con người thực thi quyền tự do, mỗi cá nhân có quyền tự do phát biểu, gặp gỡ và di chuyển, bất khả xâm phạm về nhà ở và cuộc sống riêng tư, sở hữu tài sản… Dân chủ là hình thức chính quyền, là mô hình xã hội cung cấp mức độ tối đa tự do cá nhân, mang lại cho mỗi cá nhân nhiều nhất cơ hội hưởng thụ quyền con người trong suốt cuộc đời. Thách thức của dân chủ trong xã hội hiện đại là phải hòa hợp và cân bằng giữa tự do, bình đẳng và an ninh cá nhân một cách hợp lý. Nếu tự do không có giới hạn pháp lý là thể hiện sự tự do vô nguyên tắc, tự do của một người sẽ vi phạm đến tự do của người khác và của cộng đồng, dẫn đến hậu quả là kẻ mạnh trấn áp kẻ yếu, một người có thể tùy tiện chống lại tất cả người khác. An toàn xã hội bị phá vỡ thì an ninh cá nhân cũng không thể được bảo đảm. Đương nhiên không thể có sự an toàn tuyệt đối, và nếu có tồn tại an toàn tuyệt đối thì có nghĩa là không còn chút tự do nào. Vì vậy, tự do và an ninh cá nhân trong không ít trường hợp đã xảy ra xung đột, nhưng về tổng thể thì tự do và an ninh cá nhân luôn lấy nhau là tiền đề và luôn bổ sung cho nhau. Xã hội thực hành dân chủ tốt nhất là xã hội bảo đảm cho người dân về cả về tự do và an ninh cá nhân, mọi người có quyền bình đẳng trong những đòi hỏi về tự do và an toàn.

Tự do và an ninh cá nhân – thách thức từ bảo đảm quyền riêng tư

Tự do và an ninh cá nhân còn đồng nghĩa, thể hiện ở quyền riêng tư. Quyền riêng tư được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện cũng chính là bảo đảm vững chắc nhất cho tự do và an ninh cá nhân. Nhận thức pháp lý về quyền riêng tư đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận khá rõ ràng, khá đầy đủ. Tuy nhiên, thách thức hiện nay về quyền riêng tư dường như không còn nằm ở sự ghi nhận của pháp luật mà nằm ở bảo đảm thực thi quyền riêng tư trong thực tế. Điều 12 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế (UDHR) ghi nhận: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín cũng như bị xúc phạm về nhân phẩm hoặc uy tín của cá nhân. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại sự xúc phạm và can thiệp như vậy”. Quy định nêu trên sau đó được tái khẳng định trong Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).

Năm 2004, tổ chức Bảo mật Quốc tế và Trung tâm bảo mật thông tin điện tử đã đưa ra khái quát nội dung của quyền riêng tư với 4 nội dung chủ yếu: Một là, sự riêng tư về thông tin cá nhân: bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân như thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lưu trữ dữ liệu về công dân, còn được gọi là “bảo vệ dữ liệu”. Hai là, sự riêng tư về cơ thể, liên quan đến việc bảo vệ thân thể con người khỏi bị xâm hại bởi các hình thức như xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể. Ba là, sự riêng tư về thông tin liên lạc, bao gồm bảo mật và riêng tư về thư từ, bưu phẩm, điện thoại, thư điện tử và các hình thức truyền thông khác. Bốn là, sự riêng tư về nơi cư trú, liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng, bao gồm cả việc tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểm tra giấy tờ tùy thân.

Trong nhận thức về tự do và an ninh cá nhân còn có khái niệm “quyền được bảo vệ bí mật dữ liệu cá nhân”, là khái niệm gần gũi nhất với khái niệm “quyền riêng tư” nhưng có một số khía cạnh khác biệt. “Quyền được bảo vệ bí mật dữ liệu cá nhân” được hiểu là: quyền được sở hữu các thông tin cá nhân, yêu cầu chủ thể nắm giữ thông tin chỉnh sửa thông tin cá nhân nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, chính xác của thông tin cá nhân của mình; quyền cho phép bên thứ ba tiếp cận thông tin cá nhân của mình; quyền yêu cầu nhà nước, các tổ chức hoặc chủ thể khác có liên quan có các biện pháp bảo đảm tính bí mật của thông tin, ví dụ như vô danh hóa thông tin cá nhân,…; quyền yêu cầu chủ thể nắm giữ thông tin bồi thường khi có hành vi xâm phạm thông tin trái pháp luật, gây thiệt hại cho cá nhân. Trong Bình luận chung số 16 của Ủy ban giám sát thực hiện ICCPR đã nêu rằng: “Với tất cả mọi người sống trong xã hội, việc bảo vệ bí mật riêng tư chỉ mang tính chất tương đối. Tuy nhiên, các nhà chức trách có thẩm quyền chỉ có quyền thu thập thông tin về đời tư của công dân khi những thông tin đó là cần thiết để bảo đảm lợi ích của cộng đồng như được quy định trong Công ước”. Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức lớn đối với tự do và an ninh cá nhân vì vấn đề “lợi ích cộng đồng” trong xã hội hiện đại càng ngày càng khó định lượng và rất dễ bị lạm dụng. Để phòng ngừa sự lạm dụng, Điều 17 ICCPR yêu cầu các trường hợp hạn chế quyền riêng tư phải được xác định rõ trong pháp luật quốc gia, phải dựa trên những lý do phù hợp, phải được người có thẩm quyền đưa ra theo quy định của luật và căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.

Thách thức tự do và an ninh cá nhân dưới giác độ quyền về sinh lý thể chất

Nhận thức pháp lý về quyền tự do và an ninh cá nhân còn bao gồm các quyền liên quan đến sinh lý thể chất và giới tính. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật. Thách thức nằm ở chỗ: sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường nhiều khi che lấp tính nhân đạo, giá trị nhân văn và trách nhiệm xã hội giữa con người với con người. Nói cụ thể: khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa, người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh kịp thời theo quy định của pháp luật. Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người, thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người, thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện. Ngay khi một người có cái chết bất thường thì quyền riêng tư của họ vẫn được bảo vệ. Việc khám nghiệm tử thi chỉ được thực hiện trong hai trường hợp sau: có quyết định của người đứng đầu cơ sở khám, chữa bệnh hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; khi có sự đồng ý của người đó trước khi chết hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ trong trường hợp không có ý kiến của người đó trước khi chết. Ngày nay, quyền chuyển đổi giới tính cũng bắt đầu được nhiều quốc gia xem là quyền riêng tư của người chuyển giới. Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính. Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại. Tất cả các giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả trên đây nhiều khi bị lượng giá bởi đồng tiền, không có tiền thì sức khỏe thể chất không thể được chăm sóc, bảo quản xứng đáng.

Tự do và an ninh cá nhân trong pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 về quyền con người, quyền công dân đã xác định khá đầy đủ các quyền riêng tư của con người và các quyền, tự do an ninh cá nhân. Điều 21 và Điều 22 Hiến pháp quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác. Điều 22 quy định công dân có quyền có nơi ở hợp pháp; mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định. Điều 24 Hiến pháp quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Điều 32 Hiến pháp quy định mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, trong tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai…, nếu có trưng mua hoặc trưng dụng thì Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân theo giá thị trường. Điều 36 Hiến pháp quy định nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em. Điều 38 Hiến pháp quy định mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng…

Nhận thức về tự do và an ninh cá nhân trong pháp luật Việt Nam không chỉ thể hiện trong Hiến pháp mà còn thể hiện trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và nhiều luật chuyên ngành khác. Về nhận thức pháp lý, các quyền nhân thân cũng chính là các quyền riêng tư vì gắn với từng người, mang thuộc tính riêng tư. Bộ luật Dân sự 2015 dành riêng một mục với 15 điều quy định chi tiết về những quyền nhân thân, theo đó quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, gia đình phải được người và gia đình đó đồng ý. Cá nhân có quyền yêu cầu tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín còn có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết, theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên.

Thực tế cho thấy, để bảo đảm tự do và an ninh cá nhân thì quyền riêng tư có liên quan nhiều tới việc sử dụng hình ảnh cá nhân, vì thế việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người có hình ảnh đó đồng ý. Nếu sử dụng hình ảnh cá nhân vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Theo Điều 32 Bộ luật Dân sự, người có hình ảnh có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh và bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, luật dân sự cũng có quy định về những trường hợp không cần sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của người có hình ảnh mà vẫn được sử dụng, bao gồm: hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật, phỏng vấn, họp báo, hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng… và các sinh hoạt cộng đồng mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh, không vi phạm bản quyền. Mặc dù đã được ghi nhận khá rõ ràng và đầy đủ trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, nhưng những thách thức về tự do và an ninh cá nhân không còn chủ yếu ở lập pháp, chờ đợi đang nằm ở những điều kiện bảo đảm thực hiện trong thực tiễn.

Một số vấn đề khác mang tính thời sự cao

Trong thế giới ngày nay, mặc dù tự do, an ninh cá nhân và quyền riêng tư của mỗi người đã được xác định khá đầy đủ và hiện đại trong luật pháp quốc tế, trong hiến pháp và pháp luật của nhiều quốc gia, nhưng việc thực hiện quyền riêng tư trong thực tế vẫn đang gặp rất nhiều thách thức, vừa cơ bản vừa có tính thời sự cao, đặc biệt trong hoàn cảnh mạng công nghệ hiện đại. Trong thế giới sôi động mạng xã hội, các nhà mạng di động tung ra dịch vụ cho phép các thuê bao của mạng này biết được vị trí người khác cùng thuê bao qua tin nhắn SMS đã làm nhiều người đang lo ngại dịch vụ này hoàn toàn có thể bị lợi dụng để xâm phạm đời tư, theo dõi quyền tự do đi lại, cư trú của mỗi người, can thiệp sâu vào đời sống vật chất và tinh thần riêng biệt của mỗi người. Cùng với mặt tiến bộ và tích cực trong phát triển mạng xã hội, công nghệ thông minh, trí tuệ nhân tạo là các thách thức bởi tác động tiêu cực, xúc phạm đời tư, đe dọa sự tồn tại của tự do và an ninh cá nhân. Có một thực tế là cư dân mạng xã hội càng tò mò về cuộc sống của những người nổi tiếng thì cuộc sống riêng tư và nhân thân của họ càng bị soi mói nhiều hơn. Các nhà lập pháp và mỗi công dân dù nổi tiếng hay không đều đang đứng trước những thách thức về cách ứng xử với tự do, an ninh cá nhân và quyền riêng tư. Cùng với việc sử dụng mạng xã hội để thu hút sự chú ý hoặc có cơ hội nổi tiếng theo kiểu scandal thì cũng có một số giới săn tin vì những mục tiêu chính trị hoặc kinh tế, thương mại. Họ sẵn sàng trả tiền rất cao cho những thông tin, những video hoặc hình ảnh trực tiếp vi phạm quyền riêng tư và tự do, an ninh cá nhân. Đó là chưa kể tự do, an ninh cá nhân và các quyền riêng tư bị xúc phạm trong lĩnh vực hành chính, tư pháp: việc bắt giữ người và tra tấn, đánh đập hành hung trái pháp luật, việc đặt ra và thực hiện các chính sách về đầu tư và công nghệ mới chỉ thuận tiện cho quản lý hoặc “lợi ích nhóm” mà bất lợi cho tự do và an ninh cá nhân, các hành động khác xúc phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư của mỗi người. Theo ghi nhận của Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính (VNCERT) thì năm 2016 đã có tổng cộng khoảng 145 nghìn cuộc tiến công mạng khác nhau nhằm vào hệ thống thông tin mạng của Việt Nam với ba loại hình tiến công chính là: lừa đảo, mã độc và thay đổi giao diện, gây thiệt hại tới hơn 10.400 tỷ đồng.Tháng 7/2016 đã xảy ra vụ tiến công vào hệ thống mạng của Hàng không Việt Nam theo hình thức APT (tiến công có chủ đích) làm ảnh hưởng hơn 100 chuyến bay, đồng thời làm rò rỉ dữ liệu an ninh cá nhân của hơn 400.000 tài khoản khách hàng thường xuyên của hãng. Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ, đánh cắp công nghệ và bản quyền trên internet ngày càng tăng, nguy cơ gián điệp mạng, tội phạm mạng trở nên phức tạp, nguy hiểm. Môi trường internet  bị lợi dụng để tán phát thông tin bịa đặt, không kiểm chứng, độc hại nhằm vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, để hoạt động khủng bố, phá hoại… hoạt động tội phạm mạng ngày càng tinh vi, phức tạp, nguy hiểm với mức độ thiệt hại ngày càng tăng là thách thức trực tiếp đối với tự do và an ninh cá nhân trong xã hội hiện đại.  Mặt khác, một nghịch lý thực tế đang diễn ra: có những người tìm mọi cách để có được, để bảo vệ, bưng bít các đặc quyền riêng của bản thân họ thì lại chính là những người không tôn trọng tự do, an ninh cá nhân và quyền riêng tư của người khác nhiều nhất. Điển hình cho hiện tượng này là các vụ việc có liên quan trực tiếp đến lạm dụng quyền lực, độc tài và tham nhũng. Công nghệ hiện đại cho phép mỗi người có đầy đủ các phương tiện hữu hiệu để bảo vệ quyền riêng tư của mình, đặt mật khẩu kỹ lưỡng cho đủ các loại tài khoản và giao tiếp, lắp khóa cửa tự động, nhận dạng khuôn mặt hoăc vân tay cẩn thận phòng ngủ, nơi ở, phòng tắm, két sắt…, ứng dụng công nghệ điều khiển và theo dõi từ xa, trang bị robot chuyên dụng, thực hiện các giao tiếp bí mật bằng công nghệ… để ngăn chặn người khác xâm phạm không gian riêng tư của mình, đồng thời sử dụng chính những công nghệ ấy để biết được ở người khác những điều mà họ không muốn người khác biết về mình, sẵn sàng và tìm mọi cách để xâm phạm tự do và an ninh cá nhân của người khác. Tôn trọng tự do, an ninh cá nhân và quyền riêng tư trong xã hội hiện đại, vì thế không chỉ là khái niệm pháp lý mà còn là phạm trù đạo đức.

Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người chính là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tự do và an ninh cá nhân và ngược lại, bảo đảm quyền tự do và an ninh cá nhân là cốt lõi của quyền con người. Trong xã hội hiện đại, bảo đảm tự do và an ninh cá nhân là văn hóa, là văn minh, là ứng xử nhân văn giữa người với người, giữa nhà nước và công dân. Mặc dù đang đứng trước nhiều thách thức mới, tự do và an ninh cá nhân không chỉ là tư tưởng chính sách và pháp luật mà quan trọng hơn, phải vượt qua thách thức để thực thi có kết quả trong cuộc sống, trong từng quốc gia, từng khu vực và toàn cầu.

                                                      PGS. TS. LS. Chu Hồng Thanh